Y học hiện đại ngày càng khẳng định: béo phì là một bệnh mạn tính, tái phát, chịu ảnh hưởng bởi di truyền, thần kinh – nội tiết, môi trường sống, giấc ngủ, stress, thuốc đang dùng, bệnh đi kèm và cả hệ thống thực phẩm xung quanh chúng ta.
Năm 2026, khi nói về béo phì, có 12 điểm rất quan trọng cần được hiểu đúng.
1. Béo phì là một bệnh, không phải chỉ là lỗi “ăn lắm, lười tập” của người bệnh
WHO mô tả béo phì là bệnh mạn tính, tái phát, phát sinh từ tương tác phức tạp giữa di truyền, thần kinh sinh học, hành vi ăn uống, khả năng tiếp cận thực phẩm lành mạnh, lực tác động của thị trường và môi trường sống.
2. Dịch tễ béo phì đang thay đổi rất nhanh, đặc biệt ở trẻ em
Năm 2022, thế giới có khoảng 2,5 tỉ người trưởng thành thừa cân, trong đó hơn 890 triệu người sống với béo phì; tỉ lệ béo phì ở người lớn đã tăng hơn gấp đôi từ năm 1990. Ở trẻ em và thanh thiếu niên 5-19 tuổi, hơn 390 triệu trẻ thừa cân và khoảng 160 triệu trẻ sống với béo phì.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng ghi nhận béo phì vị thành niên đã tăng gấp 4 lần từ năm 1990, béo phì trẻ em đang tăng nhanh chưa từng có, đặc biệt tại các nước thu nhập thấp và trung bình.
3. BMI vẫn hữu ích, nhưng không đủ để chẩn đoán đầy đủ
BMI (chỉ số khối cơ thể) giúp sàng lọc nguy cơ ở cộng đồng, nhưng không phản ánh chính xác khối mỡ, phân bố mỡ, khối cơ, tuổi, giới, chủng tộc và nguy cơ chuyển hóa của từng cá nhân. Vì vậy, đánh giá béo phì hiện nay cần kết hợp BMI với vòng eo, tỉ lệ eo/chiều cao, thành phần cơ thể nếu có điều kiện, bệnh đi kèm và ảnh hưởng lên chức năng sống.
Năm 2025 đã có đề xuất phân biệt béo phì tiền lâm sàng – tức có tăng mỡ nhưng chưa gây rối loạn chức năng cơ quan rõ ràng, với béo phì lâm sàng – tức tình trạng mỡ dư thừa đã gây ảnh hưởng lên mô, cơ quan hoặc hoạt động sống.
Cách tiếp cận này giúp bác sĩ không chỉ nhìn vào cân nặng, mà phải đánh giá người bệnh có gan nhiễm mỡ, đái tháo đường, tăng huyết áp, ngưng thở khi ngủ, thoái hóa khớp, vô sinh, rối loạn kinh nguyệt, suy giảm vận động hay vấn đề tâm lý – xã hội hay không.
5. Người châu Á có thể gặp biến chứng chuyển hóa ở BMI thấp hơn
Với người Việt Nam và nhiều quần thể châu Á, nguy cơ đái tháo đường, gan nhiễm mỡ, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu có thể xuất hiện ở mức BMI thấp hơn so với người châu Âu.
Vì vậy, một người BMI 24-27 kg/m² nhưng vòng eo lớn, gan nhiễm mỡ, tiền đái tháo đường hoặc tăng huyết áp không nên được trấn an đơn giản rằng “chưa béo phì nặng nên chưa cần can thiệp”.
6. Nguyên nhân béo phì không chỉ là “ăn nhiều”
Phần lớn béo phì là đa yếu tố: thức ăn siêu chế biến, đồ uống có đường, thiếu ngủ, stress kéo dài, ít vận động, môi trường đô thị không thuận lợi cho vận động, rối loạn nhịp sinh học, một số thuốc gây tăng cân, bệnh nội tiết, yếu tố gia đình – xã hội và di truyền.
WHO cũng ghi nhận trong một nhóm người bệnh có thể xác định được nguyên nhân nổi bật như thuốc, bệnh lý, bất động, can thiệp y khoa hoặc bệnh đơn gene/hội chứng di truyền.
7. Trẻ béo phì cần được đánh giá bằng biểu đồ tăng trưởng, không dùng máy móc tiêu chuẩn người lớn
Với trẻ 5-19 tuổi, WHO định nghĩa thừa cân và béo phì dựa trên BMI theo tuổi và giới: thừa cân khi BMI-for-age > +1 SD và béo phì khi > +2 SD so với chuẩn WHO. Với trẻ dưới 5 tuổi, cần dùng cân nặng theo chiều cao và chuẩn tăng trưởng riêng.
Vì vậy, không nên nhìn một đứa trẻ “bụ bẫm” rồi vội kết luận tốt hay xấu; phải đặt vào biểu đồ tăng trưởng, tốc độ tăng cân, chiều cao, dậy thì, tiền sử gia đình và bệnh đi kèm.
8. Không phải trẻ béo phì nào cũng cần xét nghiệm nội tiết hàng loạt, nhưng có dấu hiệu phải nghĩ đến nguyên nhân đặc biệt
Không cần làm thường quy xét nghiệm tìm nguyên nhân nội tiết ở mọi trẻ béo phì nếu chiều cao và tốc độ tăng trưởng vẫn phù hợp. Tuy nhiên cần nghĩ đến nguyên nhân nội tiết hoặc di truyền khi trẻ béo phì rất sớm, đặc biệt trước 5 tuổi, ăn quá mức/luôn đói dữ dội, béo phì nặng, có bất thường phát triển, chiều cao tăng chậm hoặc gia đình có nhiều người béo phì rất nặng.
9. Điều trị béo phì phải là điều trị mạn tính, không phải chiến dịch giảm cân ngắn hạn
Nếu chỉ giảm cân bằng một đợt ăn kiêng khắc nghiệt hoặc dùng thuốc ngắn hạn, cơ thể thường có xu hướng chống lại sự giảm cân bằng tăng cảm giác đói, giảm tiêu hao năng lượng và phục hồi cân nặng.
Một phân tích năm 2026 cho thấy sau khi ngừng thuốc quản lý cân nặng, người bệnh thường tăng cân trở lại và các lợi ích tim mạch – chuyển hóa cũng giảm dần; tốc độ tăng cân trung bình khoảng 0,4 kg/tháng sau ngừng thuốc.
10. Lối sống vẫn là nền tảng, nhưng phải là “điều trị lối sống có cấu trúc”, không phải lời khuyên chung chung
Điều trị dinh dưỡng cần cá thể hóa theo bệnh đi kèm, thói quen ăn uống, văn hóa gia đình, khả năng tài chính và nguy cơ mất cơ. Vận động không chỉ để đốt calo mà còn giúp bảo tồn cơ, cải thiện đề kháng insulin, huyết áp, giấc ngủ, gan nhiễm mỡ và sức khỏe tinh thần.
Với trẻ em, khuyến cáo can thiệp hành vi – lối sống chuyên sâu, lấy gia đình làm trung tâm, không kỳ thị cân nặng; các chương trình hiệu quả thường cần thời lượng tiếp xúc đủ lớn, khoảng ≥26 giờ trong 2-12 tháng.
11. Thuốc điều trị béo phì đã bước sang kỷ nguyên mới, nhưng không phải ai cũng dùng và không nên tự mua tự tiêm
Các thuốc tác động lên trục incretin đã thay đổi điều trị béo phì vì có thể tạo mức giảm cân có ý nghĩa lâm sàng và cải thiện nhiều yếu tố nguy cơ chuyển hóa. Phân tích năm 2026 về thuốc béo phì cho thấy một số thuốc hiện đại đạt mức giảm cân đáng kể, nhưng quyết định điều trị phải cân bằng lợi ích, tác dụng phụ, chi phí, bệnh đi kèm, khả năng theo dõi lâu dài và mục tiêu sức khỏe của từng người.
Đặc biệt, thuốc điều trị đái tháo đường không đồng nghĩa tự động là thuốc giảm cân; thuốc giảm cân cũng không phải mỹ phẩm làm đẹp.
12. Mục tiêu điều trị không phải là gầy đi bằng mọi giá mà là giảm nguy cơ bệnh tật và phục hồi sức khỏe
Một người giảm 5-10% cân nặng đã có thể cải thiện đường huyết, huyết áp, triglyceride, gan nhiễm mỡ, đau khớp, chất lượng giấc ngủ và khả năng vận động.
Điều quan trọng nhất là người bệnh béo phì cần được thăm khám, đánh giá nguyên nhân, phân tầng nguy cơ và điều trị như một bệnh mạn tính thực sự.
Ngay cả trong mùa đông lạnh giá, cơ thể con người khi ngủ vẫn liên tục tiết ra dầu thừa, bã nhờn, tế bào chết và nước bọt. Toàn bộ chất tiết này, cộng thêm mồ hôi thoát ra trong giấc ngủ, đều tích tụ lại trên vỏ gối.
Lượng chất bẩn tích tụ này chính là "nguồn dinh dưỡng" phong phú nhất cho vi khuẩn, nấm mốc và bụi nhà. Nếu không được giặt giũ định kỳ, bên trong vỏ gối sẽ ẩn chứa một lượng lớn vi sinh vật. Chúng không chỉ gây ra mùi hôi khó chịu, mà còn là tác nhân khởi phát các vấn đề như dị ứng da, viêm mũi dị ứng, nổi mụn trứng cá, thậm chí là hen suyễn.
Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí vi sinh học của Mỹ, nếu vỏ gối và ga trải giường không được giặt quá "7 ngày", lượng vi khuẩn trên đó sẽ tăng lên đến mức kinh ngạc.
Bác sĩ Hoàng Tinh Vĩ, Trưởng khoa Da liễu thuộc Bệnh viện Cơ Đốc giáo Chang Bing Show Chwan, cho biết khi da mặt tiếp xúc trực tiếp với lượng vi khuẩn và chất bẩn này, chúng rất dễ dẫn đến dị ứng da, nổi mụn, làm trầm trọng thêm bệnh hồng ban (rosacea), thậm chí gây viêm nang lông da đầu hoặc bệnh chàm (eczema) trên mặt. Nhiều người bị ngứa da không rõ nguyên nhân, mụn mọc liên tục, thực chất "thủ phạm" thường chính là chiếc gối quá lâu chưa giặt.
Bác sĩ Trương Thiên Hào, Chuyên khoa Nhiễm trùng thuộc Bệnh viện Tổng hợp Đông Nguyên, đưa ra cảnh báo rằng đối với người có sức khỏe bình thường, việc hít phải bào tử nấm mốc cùng lắm chỉ gây dị ứng. Tuy nhiên, đối với nhóm người có hệ miễn dịch kém, đây lại là vấn đề sống còn.
Nếu là bệnh nhân suy giảm miễn dịch, chẳng hạn như những người từng ghép tế bào gốc tạo máu, một khi hít phải nấm mốc sinh sôi trên gối, họ có thể bị nhiễm nấm nghiêm trọng dẫn đến tử vong. Đây là điều tuyệt đối không được chủ quan.
Bác sĩ Trịnh Hồng Di thuộc Khoa Y học Gia đình, Bệnh viện Đại học Quốc gia Thành Công, chia sẻ để duy trì vệ sinh giấc ngủ tốt, mấu chốt nằm ở hai việc "giữ khô ráo" và "vệ sinh định kỳ". Người bình thường nên giặt vỏ gối từ 1 đến 2 lần mỗi tuần. Nếu là người dễ đổ mồ hôi hoặc có làn da nhạy cảm, tần suất thay giặt cần phải cao hơn.
Nếu không có thời gian giặt vỏ gối thường xuyên, bạn có thể lót một chiếc khăn sạch lên trên gối và thay chiếc khăn này để giặt mỗi ngày. Cách làm này có thể làm giảm đáng kể cơ hội vi khuẩn tiếp xúc với da mặt.
Ngoài ra, phòng ngủ nên được giữ thông thoáng và khô ráo. Các gia đình nên chuẩn bị sẵn từ 2 đến 3 chiếc vỏ gối để luân phiên thay đổi. Đừng để chiếc gối quá cũ kỹ biến thành nguồn gây dị ứng, có như vậy bạn mới có thể an tâm ngon giấc và bảo vệ sức khỏe.
Bộ Y tế đang lấy ý kiến đến ngày 9/7 về dự thảo Thông tư mới, trong đó đề xuất mở rộng danh mục bệnh lý ung thư được BHYT thanh toán kỹ thuật chụp PET/CT và các xét nghiệm tầm soát quan trọng. Quy định này được kỳ vọng giúp bệnh nhân tiếp cận công nghệ y học hiện đại và giảm bớt áp lực tài chính trong bối cảnh chi phí điều trị ung thư ngày càng đắt đỏ.
Cụ thể, dự thảo bổ sung nhóm bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ và ung thư thực quản vào diện hưởng quyền lợi này. Điều kiện kèm theo là người bệnh đã có chẩn đoán xác định nhưng các phương pháp lâm sàng khác chưa thể làm rõ giai đoạn bệnh, tình trạng tái phát, di căn hoặc cần đánh giá mức độ đáp ứng điều trị. Cơ quan bảo hiểm sẽ chi trả tối đa một lần trong vòng 12 tháng cho mỗi ca bệnh theo giá dịch vụ kỹ thuật hiện hành.
Đối với bệnh nhân u lympho Hodgkin và không Hodgkin, Bộ Y tế cũng đề xuất nới lỏng tần suất thanh toán PET/CT trong giai đoạn theo dõi sau điều trị. Người bệnh thuộc nhóm này có thể được quỹ BHYT chi trả tối đa 4 lần trong 24 tháng đầu tiên kể từ thời điểm phát hiện bệnh.
Bên cạnh đó, dự thảo còn đưa thêm một số xét nghiệm chỉ điểm tế bào ác tính vào danh mục thanh toán, điển hình như định lượng CA 19-9 dùng trong chẩn đoán và theo dõi các loại ung thư đường tiêu hóa gồm đại trực tràng, gan, tụy và đường mật.
Sự điều chỉnh này nhằm thay thế những quy định tại Thông tư 35/2016 vốn đã bộc lộ nhiều bất cập sau gần 10 năm thực hiện.
Hiện, PET/CT là kỹ thuật kết hợp giữa hình ảnh chuyển hóa và cấu trúc giải phẫu, mang lại độ chính xác cao trong tầm soát khối u nhưng mức phí mỗi lần chụp vẫn duy trì ở ngưỡng 20-25 triệu đồng. Việc mở rộng diện thụ hưởng sẽ trực tiếp kéo giảm chi phí tự chi trả cho người dân, đặc biệt khi gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam đang gia tăng với khoảng 182.000 ca mắc mới mỗi năm.
Theo thống kê từ Bệnh viện K, chi phí điều trị trung bình cho một bệnh nhân ung thư hiện lên tới hơn 176 triệu đồng mỗi năm. Với những trường hợp bệnh lý phức tạp, con số này có thể tăng gấp nhiều lần, dễ dẫn đến tình trạng "thảm họa tài chính" cho gia đình người bệnh ngay cả khi đã có sự hỗ trợ một phần từ quỹ bảo hiểm. Do đó, việc cập nhật danh mục kỹ thuật cao theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ đóng vai trò sống còn trong nỗ lực kiểm soát các bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế trong nước.
Bộ Y tế cũng đang xây dựng cập nhật danh mục thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT. Các cơ sở khám chữa bệnh và đơn vị dược phẩm đề xuất bổ sung 75 thuốc mới vào danh mục BHYT, trong đó có 28 thuốc điều trị đích bệnh ung thư.
Ngày 18-6, Công an xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng cho hay vừa kiểm tra, phát hiện cơ sở sản xuất bánh ú tro trộn hàn the vào gạo nếp để sản xuất bánh ú tro, nhằm tăng độ dẻo, dai của bánh.
Trước đó thực hiện kế hoạch của giám đốc Công an thành phố Đà Nẵng tăng cường phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, xác định nhu cầu sử dụng các loại bánh truyền thống tăng mạnh vào dịp Tết Đoan ngọ, trưởng Công an xã Đại Lộc đã chỉ đạo lực lượng tăng cường công tác nắm tình hình các điểm chế biến bánh trên địa bàn.
Ngày 17-6, Công an xã Đại Lộc kiểm tra đột xuất hộ gia đình bà P.T.M. (55 tuổi, trú thôn Song Mỹ, xã Đại Lộc).
Quá trình kiểm tra phát hiện, hộ bà M. trộn hàn the (chất cấm sử dụng trong chế biến thực phẩm) vào gạo nếp để sản xuất bánh ú tro, nhằm tăng độ dẻo, dai của bánh.
Đây là chất bị cấm sử dụng trong chế biến thực phẩm do tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Tại hiện trường, công an xã thu giữ 3 túi ni lông chứa hàn the và 3.000 cái bánh ú tro đã được gói thành phẩm. Công an xã Đại Lộc đã lập biên bản, tạm giữ tang vật để xử lý theo quy định.
Việc sử dụng hàn the (phèn sa) và các chất cấm khác trong sản xuất, chế biến thực phẩm (các loại bánh, giò, chả) là hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của nhân dân.
Công an xã Đại Lộc khuyến cáo mọi tổ chức, cá nhân tuyệt đối không sử dụng chất cấm trong quá trình sản xuất, chế biến thực phẩm và kịp thời thông báo cho cơ quan công an các hành vi vi phạm để xác minh, xử lý theo đúng quy định.