Nhắc đến làng Chuông (xã Thanh Oai, Hà Nội), người ta nhớ ngay đến những chiếc nón lá trắng thanh thoát đã trở thành biểu tượng quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm, thậm chí hơn 1.000 năm theo lời các nghệ nhân cao tuổi, nghề làm nón vẫn được người dân nơi đây gìn giữ như một phần hồn cốt của quê hương.
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, nghệ nhân Lê Văn Tuy là một trong những người dành nhiều tâm huyết cho việc bảo tồn và phát triển nón lá làng Chuông. Sinh ra trong gia đình có truyền thống làm nón, ông đã có 52 năm gắn bó với từng vành nón, tàu lá và những đường kim mũi chỉ.
Theo nghệ nhân Lê Văn Tuy, điều làm nên thương hiệu nón làng Chuông chính là sự tỉ mỉ trong từng công đoạn chế tác. Một chiếc nón đạt chuẩn phải đảm bảo độ cứng, chắc, tròn, phẳng và có độ óng tự nhiên. Chính những tiêu chí khắt khe ấy đã giúp sản phẩm của làng nghề tạo dựng được uy tín trên thị trường.
Trong suốt hành trình làm nghề, ông đã đạt nhiều giải thưởng danh giá như sản phẩm OCOP 4 sao, các giải thưởng của thành phố Hà Nội và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Những chiếc nón do ông làm ra từng được lựa chọn trưng bày tại các triển lãm quốc tế và làm quà tặng cho các nguyên thủ quốc gia.
“Chiếc nón không chỉ là vật dụng che mưa, che nắng mà còn là cầu nối văn hóa giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế”, nghệ nhân Lê Văn Tuy chia sẻ.
Dù vậy, đến nay nghề làm nón vẫn hoàn toàn dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Theo ông Tuy, chưa có công nghệ nào có thể thay thế các công đoạn thủ công truyền thống đã tồn tại qua nhiều thế hệ.
Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, những người làm nghề đã chủ động thích ứng bằng cách ứng dụng công nghệ vào khâu quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
“Nếu như trước đây khách hàng chủ yếu tìm đến tận nơi thì bây giờ chúng tôi quảng bá sản phẩm qua Facebook, Zalo. Nhiều khách hàng trên khắp cả nước biết đến và đặt hàng trực tuyến”, ông Tuy cho biết.
Theo nghệ nhân Lê Văn Tuy, sự phát triển của thương mại điện tử và mạng xã hội đã giúp các làng nghề tiếp cận khách hàng thuận lợi hơn. Hiện nay, phần lớn đơn hàng của cơ sở đều được kết nối thông qua các nền tảng trực tuyến. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ mở rộng thị trường mà còn góp phần quảng bá hình ảnh làng nghề truyền thống đến đông đảo công chúng.
Bên cạnh đó, ông Tuy còn thường xuyên đón tiếp các đoàn khách trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm nghề làm nón. Nhiều hoạt động trình diễn nghề, giao lưu văn hóa được livestream trên mạng xã hội, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đối với cộng đồng.
Tuy nhiên, cùng với cơ hội là không ít thách thức. Sự thay đổi trong thói quen mua sắm khiến các phiên chợ truyền thống không còn nhộn nhịp như trước. Theo nghệ nhân Lê Văn Tuy, Chợ Chuông – từng là nơi giao thương sầm uất của cả miền Bắc – nay vắng khách hơn do việc giao dịch và vận chuyển hàng hóa được thực hiện trực tiếp qua các kênh trực tuyến.
Ngoài ra, các sản phẩm nón nhựa giá rẻ xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường cũng tạo áp lực cạnh tranh đối với nón lá thủ công truyền thống. Theo nghệ nhân Lê Văn Tuy, đây không chỉ là câu chuyện cạnh tranh sản phẩm mà còn liên quan đến vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Hiện cơ sở của ông đang tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10 lao động và có thể tăng lên 20 – 30 người vào những thời điểm đơn hàng nhiều. Điều đó cho thấy nghề làm nón vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo sinh kế cho người dân địa phương.
Từ một người phụ nữ sinh ra và lớn lên trong làng nghề nón lá truyền thống, nghệ nhân Tạ Thu Hương đã dành hơn nửa cuộc đời gắn bó với nghề. Không chỉ giữ gìn những giá trị văn hóa lâu đời của làng Chuông, bà còn là một trong những người tiên phong đưa sản phẩm nón lá lên các nền tảng số, kết hợp phát triển du lịch cộng đồng để quảng bá hình ảnh làng nghề đến du khách trong và ngoài nước.
“Ông bà tôi có nghề, cha mẹ tôi có nghề và tôi theo nghề từ năm lên sáu tuổi. Nghề nón là một phần cuộc sống của tôi”, bà Hương tự hào nói.
Trong hành trình hang chục năm gắn bó với nghề, bà đã chứng kiến nhiều đổi thay của làng nghề, từ những ngày nón lá chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt đến khi trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch mang đậm bản sắc Việt Nam.
Hiện nay, không dừng lại ở việc sản xuất nón truyền thống, nghệ nhân Tạ Thu Hương còn tích cực tham gia các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam ở trong nước và quốc tế. Bà từng được tham gia Tuần Văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản, Malaysia và nhiều chương trình xúc tiến văn hóa khác. Những chuyến đi ấy đã mang đến cho bà ý tưởng đưa du lịch về với làng nghề.
“Tôi luôn mong muốn du khách không chỉ đến một nhà mà đến với cả làng Chuông, để nhiều hộ dân cùng được hưởng lợi từ nghề truyền thống”, bà bày tỏ.
Từ suy nghĩ đó, bà đã xây dựng mô hình du lịch trải nghiệm ngay tại gia đình, biến không gian sản xuất nón thành điểm tham quan, trải nghiệm dành cho khách trong nước và quốc tế.
Đến với cơ sở của nghệ nhân Tạ Thu Hương, du khách không chỉ được nghe kể về lịch sử nghề nón mà còn được trực tiếp trải nghiệm các công đoạn làm nón, vẽ nón, chụp ảnh lưu niệm và thưởng thức những bữa cơm mang đậm hương vị quê hương.
Nơi đây hiện là điểm đến quen thuộc của nhiều đoàn khách quốc tế, học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu tìm hiểu về văn hóa làng nghề Việt Nam.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, nghệ nhân Tạ Thu Hương cho rằng đây vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với các làng nghề truyền thống.
Là Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Mây tre nón lá Thu Hương, bà chủ động tham gia các khóa đào tạo kỹ năng số, học cách kinh doanh trên các nền tảng trực tuyến và ứng dụng công nghệ trong quảng bá sản phẩm.
“Thời đại hội nhập phải biết bán online, bán trên TikTok, trên các trang mạng xã hội và sàn thương mại điện tử. Không chỉ bán sản phẩm mà còn phải quảng bá được tour du lịch cộng đồng”, bà nhấn mạnh.
Theo bà, công nghệ số giúp người làm nghề tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn, mở rộng thị trường mà không cần tốn quá nhiều chi phí. Chỉ với một vài thao tác tìm kiếm trên internet, khách hàng có thể biết đến thương hiệu nón lá Thu Hương, tìm hiểu sản phẩm và đặt hàng từ xa.
“Bây giờ mình phải biết tận dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ số để quảng bá hình ảnh làng nghề. Đó là xu hướng tất yếu”, nghệ nhân Thu Hương khẳng định.
Bên cạnh những thuận lợi, việc phát triển làng nghề cũng còn nhiều khó khăn. Theo nghệ nhân Tạ Thu Hương, hạ tầng phục vụ du lịch tại làng Chuông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Một số khu vực giới thiệu sản phẩm còn thiếu các công trình phụ trợ như nhà vệ sinh, hệ thống cấp nước hay không gian trải nghiệm đồng bộ cho du khách.
Bà mong muốn địa phương tiếp tục đầu tư xây dựng các tuyến đường mang dấu ấn làng nghề, hình thành những “con đường nón lá” để tạo điểm nhấn du lịch, tương tự như cách nhiều làng nghề nổi tiếng khác đã thực hiện thành công.
“Làng Chuông có bề dày lịch sử và giá trị văn hóa rất lớn. Nếu được đầu tư bài bản về hạ tầng và quảng bá, nơi đây hoàn toàn có thể trở thành điểm đến hấp dẫn của du lịch Hà Nội”, nghệ nhân Thu Hương bày tỏ.
Hiện nay, làng Chuông còn ba nghệ nhân đang trực tiếp làm, gìn giữ và phát triển nghề truyền thống. Với những người như nghệ nhân Tạ Thu Hương, Lê Văn Tuy việc giữ nghề không chỉ là bảo tồn một sinh kế mà còn là gìn giữ một phần hồn cốt văn hóa của quê hương.
Những ngày này, khu vực cửa biển Sa Cần tấp nập tàu câu mực trở về từ ngư trường Trường Sa. Nhiều tàu của ngư dân xã Bình Sơn và Vạn Tường cập bờ sau hơn hai tháng lênh đênh với khoang hàng đầy mực xà khô – loại hải sản đang được thu mua ở mức cao nhất từ trước đến nay, khoảng 315.000–317.000 đồng/kg. Có tàu sau một chuyến biển thu về doanh thu 8–9 tỷ đồng.
Nhưng thay vì đưa tàu vào quê nhà để bốc dỡ như trước đây, các chủ tàu lại phải tiếp tục cho tàu chạy ra cảng Tam Quang hoặc Kỳ Hà (TP Đà Nẵng) để hoàn tất thủ tục xác nhận nguồn gốc thủy sản rồi mới bán hàng.
Theo quy định của Luật Thủy sản 2017, tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên hoạt động khai thác xa bờ phải cập cảng cá chỉ định để thực hiện các thủ tục xác nhận nguồn gốc, nhật ký khai thác và các quy trình liên quan. Trong khi đó, khu vực cửa biển Sa Cần – nơi neo đậu truyền thống của hàng trăm tàu cá – lại chưa có cảng cá chỉ định.
Thực tế này khiến toàn bộ đội tàu khai thác xa bờ ở khu vực phải "ăn nhờ" hạ tầng của địa phương khác. Không chỉ phát sinh chi phí, việc di chuyển thêm nhiều hải trình cũng khiến ngư dân thêm vất vả sau mỗi chuyến biển dài ngày.
Hiện xã Bình Sơn và Vạn Tường có gần 1.200 tàu cá, trong đó hơn 300 tàu dài từ 15–26m hoạt động khai thác xa bờ. Phần lớn đều neo đậu ở cửa biển Sa Cần nhưng không thể thực hiện việc bốc dỡ sản phẩm tại địa phương.
Là chủ kiêm thuyền trưởng một tàu câu mực dài hơn 24m, ông Bùi Thanh Nghĩa (xã Bình Sơn) cho biết, sau khi kết thúc chuyến biển, tàu lại tiếp tục hành trình vòng ra Kỳ Hà hoặc Tam Quang để làm thủ tục.
"Nếu được cập cảng ở quê thì giờ nào cân hải sản cũng được. Còn ra cảng ngoài tỉnh phải chờ tàu khác xong mới tới lượt mình. Có lúc tàu phải neo ngoài cảng 2–3 ngày mới vào được", ông Nghĩa nói.
Theo ông Nghĩa, riêng lượng nhiên liệu phát sinh cho việc di chuyển thêm mỗi chuyến đã tiêu tốn khoảng 200 lít dầu.
Không riêng tàu của ông Nghĩa, nhiều chủ tàu khác cho biết, mỗi năm phải chi thêm hàng chục triệu đồng cho nhiên liệu, vận chuyển và các chi phí phát sinh chỉ vì thiếu cảng cá phù hợp.
Ông Phạm Tiếng, thuyền trưởng tàu cá QNg 95579 TS, cho hay, sau nhiều tháng lênh đênh ngoài biển, tàu cập đất liền nhưng ngư dân vẫn chưa thể trở về nhà ngay mà phải tiếp tục đưa hàng ra các cảng ngoài tỉnh để làm thủ tục.
"Tiền dầu tăng, chi phí thuê xe vận chuyển mực về Quảng Ngãi cũng tăng. Nếu có cảng cá chỉ định ở Sa Cần, mỗi năm bà con giảm được 70–80 triệu đồng chi phí", ông Tiếng nói.
Theo ông, việc thiếu cảng cá không chỉ khiến chủ tàu thêm gánh nặng mà còn ảnh hưởng đến nhiều lao động dịch vụ phụ trợ phía sau nghề biển như bốc vác, vận tải, sơ chế thủy sản. Mỗi con tàu không chỉ tạo việc làm cho lao động trên biển mà còn kéo theo cả chuỗi sinh kế phía sau.
Quảng Ngãi hiện có 5 cảng cá chỉ định. Tuy nhiên, theo ngư dân, nhiều cảng hiện chưa đáp ứng được thực tế hoạt động của đội tàu câu mực công suất lớn. Tàu câu mực địa phương thường dài khoảng 24m, rộng 7–10m; khi lắp thêm giàn phơi mực, chiều ngang có thể vượt 20m. Trong khi đó luồng vào một số cảng cá khá hẹp, chỉ cần vài tàu cùng di chuyển đã tiềm ẩn nguy cơ va chạm.
Ông Võ Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Sơn, cho biết, nghề khai thác thủy sản hiện mang lại nguồn thu hơn 500 tỷ đồng mỗi năm cho địa phương. Quy hoạch cảng cá Sa Cần đã được đưa vào quy hoạch chung nhưng nguồn lực đầu tư vẫn là bài toán khó.
"Địa phương đã nhiều lần kiến nghị cấp trên sớm quan tâm đầu tư cảng cá Sa Cần để phục vụ nhu cầu neo đậu, bốc dỡ thủy sản cho ngư dân trong khu vực", ông Nam nói.
Theo Ban Quản lý các cảng cá tỉnh Quảng Ngãi, việc siết chặt chống khai thác IUU khiến công tác quản lý tàu cá phải tuân thủ nghiêm quy định. Do đó, tàu khai thác xa bờ bắt buộc phải cập cảng cá chỉ định theo quy định pháp luật.
Mới đây, nhà sản xuất Co Studios và Orange Films vừa công bố poster đầu tiên của phim điện ảnh Chuyến đi nhớ đời. Trên poster, Phương Nam xuất hiện bên diễn viên nhí Lê Bảo Nam trong khung cảnh biển đầy nắng, cùng chú chó vàng tạo nên bầu không khí tươi sáng và giàu năng lượng. Hình ảnh hai cha con vui đùa bên nhau mang đến cảm giác gần gũi, chữa lành, đồng thời gợi mở về một chuyến phiêu lưu đặc biệt đầy bất ngờ trên đảo.
Theo nội dung được nhà sản xuất tiết lộ, phim xoay quanh Hoàng (Phương Nam), một ông bố đơn thân bất ngờ mất việc. Trong chuyến đi cùng con trai là An (Lê Bảo Nam), cả hai lạc vào cuộc sống trên đảo. Trong khi người cha tìm mọi cách để trở về, cậu bé lại muốn ở lại. Sự khác biệt trong suy nghĩ của hai cha con được gợi mở ngay trên poster qua câu nói: "Ba ơi... con không muốn về".
Tên gọi Chuyến đi nhớ đời cũng tạo nhiều tò mò. Cụm từ "nhớ đời" thường gắn với những trải nghiệm khó quên, có thể là niềm vui, thử thách hoặc những biến cố làm thay đổi cuộc sống của một con người. Tuy nhiên, ê kíp chưa tiết lộ chi tiết điều gì đã biến hành trình của hai cha con trở thành một kỷ niệm đặc biệt.
Bên cạnh câu chuyện gia đình, dự án còn nhận được sự quan tâm bởi đây là lần đầu Phương Nam giữ vai trò trung tâm trong một bộ phim điện ảnh.
Trước khi bước vào vai diễn trung tâm trong Chuyến đi nhớ đời, Phương Nam đã liên tục thử sức với những nhân vật có màu sắc khác biệt. Từ hình ảnh anh Tạ gầy gò, giàu sự hy sinh trong Mưa đỏ, nam diễn viên tiếp tục gây chú ý khi cạo trọc đầu, trực tiếp thoại tiếng Lào trong Tận hiến. Sau đó, anh tiếp tục biến hóa với hình tượng Tôm Hùm có phần gai góc, trào phúng trong Trùm Sò.
Việc không chạy theo những lựa chọn an toàn, sẵn sàng dành thời gian nghiên cứu và xây dựng nhân vật đã giúp Phương Nam từng bước khẳng định phong cách diễn xuất riêng. Mỗi vai diễn của anh đều cho thấy sự đầu tư nghiêm túc, khả năng hóa thân linh hoạt và tinh thần dấn thân với nghề.
Với Chuyến đi nhớ đời, Phương Nam cho thấy sự thay đổi hình ảnh khi hóa thân thành một người cha đơn thân đang loay hoay với trách nhiệm và tình yêu dành cho con. Tạo hình khỏe khoắn cùng thân hình săn chắc của nam diễn viên trên poster cũng nhanh chóng thu hút sự chú ý của khán giả.
Thông qua hành trình của hai cha con, bộ phim muốn gửi gắm thông điệp rằng đôi khi điều đáng nhớ nhất không nằm ở đích đến mà ở những người đồng hành trên suốt chặng đường.
Chuyến đi nhớ đời do Lê Nhựt Phạm Huy đạo diễn, được sản xuất bởi Co Studios và Orange Films, dự kiến khởi chiếu trên toàn quốc vào tháng 10/2026.
Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển quan trọng của ngành giáo dục khi lần đầu tiên học sinh trên cả nước sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa (SGK). Những ngày gần đây, nhiều địa phương đồng loạt triển khai kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng giáo viên để chuẩn bị cho năm học mới.
Tuy nhiên, cùng với quá trình triển khai, không ít ý kiến cho rằng việc tập huấn tập trung đang gây áp lực về thời gian, ảnh hưởng đến kỳ nghỉ hè của giáo viên. Một số nơi còn bị phản ánh tổ chức mang tính hình thức, nội dung chưa thật sự sát thực tế giảng dạy.
Dù vậy, ở góc độ chuyên môn, nhiều giáo viên lâu năm cho rằng tập huấn SGK là yêu cầu không thể thiếu nếu muốn triển khai hiệu quả chương trình mới. Điều cần bàn không phải là "có nên tập huấn hay không", mà là tập huấn theo cách nào để đem lại hiệu quả thực chất.
SGK không chỉ đơn thuần là tài liệu tham khảo hay học liệu bổ sung. Đây là học liệu chính thức gắn với mục tiêu chương trình, hệ thống bài học, phương pháp tổ chức hoạt động và định hướng kiểm tra, đánh giá học sinh. Vì vậy, khi thay đổi bộ sách hoặc triển khai một chương trình thống nhất trên toàn quốc, giáo viên bắt buộc phải được tiếp cận đầy đủ nội dung, cấu trúc và tinh thần của SGK mới.
Trong các đợt tập huấn trước đây theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhiều giáo viên từng phải dạy song song nhiều bộ sách khác nhau. Có thời điểm lớp 6, lớp 7 sử dụng bộ Cánh Diều, trong khi lớp 8, lớp 9 học bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Điều này khiến giáo viên phải liên tục cập nhật phương pháp và cách tiếp cận nội dung.
Khi cả nước chuyển sang dùng thống nhất một bộ SGK, những giáo viên chưa từng giảng dạy bộ sách này càng cần được bồi dưỡng kỹ lưỡng trước khi bước vào năm học mới.
Thông qua các buổi tập huấn, giáo viên thường được nghe tác giả SGK hoặc chuyên gia chuyên môn giới thiệu về cấu trúc sách, mục tiêu bài học, yêu cầu cần đạt, phương pháp tổ chức dạy học cũng như định hướng kiểm tra đánh giá. Ngoài ra còn có các video tiết dạy minh họa, hoạt động thảo luận chuyên môn để giáo viên hình dung rõ hơn cách triển khai trong thực tế.
Những nội dung này giúp giáo viên hiểu đúng tinh thần của chương trình, tự tin hơn khi xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức lớp học. Chính vì thế, nhiều sở giáo dục yêu cầu giáo viên bắt buộc tham gia đầy đủ các đợt tập huấn, thậm chí có nơi không phân công giảng dạy đối với giáo viên không tham gia hoặc không đạt yêu cầu đánh giá sau tập huấn. Đây được xem là biện pháp mạnh nhằm đảm bảo chất lượng triển khai SGK mới ngay từ đầu năm học.
Dù việc tập huấn là cần thiết, nhưng thực tế nhiều giáo viên vẫn băn khoăn vì nội dung ở một số nơi còn nặng tính giới thiệu hình thức.
Không ít buổi tập huấn chỉ dừng ở việc giới thiệu cấu trúc sách, số tiết học, hệ thống kênh hình - kênh chữ hay các yêu cầu về phẩm chất, năng lực học sinh. Những nội dung này cần thiết nhưng chưa đủ. Điều giáo viên cần nhất chính là phương pháp tổ chức dạy học cụ thể.
Họ cần được giải đáp những câu hỏi rất thực tế như: Dạy bài này bằng hoạt động nào để học sinh hứng thú? Tổ chức thảo luận nhóm ra sao? Khai thác tư liệu như thế nào để phát triển năng lực học sinh? Kiểm tra, đánh giá theo định hướng mới bằng hình thức nào?
Nếu tập huấn chỉ dừng ở mức "giới thiệu sách", giáo viên rất khó chuyển hóa kiến thức thành chất lượng tiết dạy trên lớp. Một đợt tập huấn hiệu quả phải giúp giáo viên biết cách thiết kế hoạt động học tập, xử lý tình huống trong lớp học và vận dụng linh hoạt SGK vào từng đối tượng học sinh cụ thể.
Một vấn đề khác được nhiều giáo viên nhắc đến là việc tập huấn hiện nay vẫn quá phụ thuộc vào hình thức trực tuyến. Hình thức này có ưu điểm là tiết kiệm kinh phí, triển khai được trên diện rộng và thuận lợi về mặt tổ chức. Tuy nhiên, hiệu quả chuyên môn chưa phải lúc nào cũng đạt như kỳ vọng.
Nhiều giáo viên cho biết, học trực tuyến khó tương tác trực tiếp với báo cáo viên, khó trao đổi sâu về các vấn đề phát sinh trong quá trình giảng dạy thực tế. Không ít buổi tập huấn gặp tình trạng đường truyền chập chờn, nội dung kéo dài khiến người học khó duy trì sự tập trung. Bên cạnh đó, việc quản lý nề nếp học tập cũng chưa thật sự hiệu quả. Có trường hợp giáo viên tham gia cho đủ danh sách nhưng không theo dõi đầy đủ nội dung.
Một số đợt tập huấn còn được tổ chức ngay trong năm học, khi giáo viên vừa dạy chính khóa vừa tham gia bồi dưỡng nên khó toàn tâm toàn ý tiếp thu kiến thức mới. Theo nhiều ý kiến, để nâng cao chất lượng thực chất, hoạt động tập huấn nên được tổ chức trực tiếp vào dịp hè, có lộ trình theo nhiều cấp độ.
Trước tiên là tập huấn đội ngũ giáo viên cốt cán cấp sở, chuyên viên bộ môn và tổ trưởng chuyên môn. Sau đó triển khai theo cụm trường, tổ chuyên môn và tiếp tục sinh hoạt chuyên đề tại từng đơn vị.
Quan trọng hơn, giáo viên cần được trực tiếp xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế bài giảng, dạy minh họa, dự giờ và góp ý lẫn nhau thay vì chỉ nghe giới thiệu lý thuyết. Đó mới là quy trình bồi dưỡng có khả năng tạo ra thay đổi thật sự trong lớp học.
Việc cả nước thống nhất sử dụng một bộ SGK là bước chuyển lớn của ngành giáo dục, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ cơ quan quản lý đến từng nhà trường, giáo viên. Muốn đổi mới giáo dục đi vào thực chất, trước hết giáo viên phải được chuẩn bị đầy đủ cả về kiến thức lẫn phương pháp giảng dạy.
Một đợt tập huấn hiệu quả không chỉ giúp giáo viên "biết sách", mà quan trọng hơn là giúp họ tự tin tổ chức giờ học, hiểu đúng tinh thần chương trình và vận dụng linh hoạt vào thực tế lớp học.