Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển quan trọng của ngành giáo dục khi lần đầu tiên học sinh trên cả nước sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa (SGK). Những ngày gần đây, nhiều địa phương đồng loạt triển khai kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng giáo viên để chuẩn bị cho năm học mới.
Tuy nhiên, cùng với quá trình triển khai, không ít ý kiến cho rằng việc tập huấn tập trung đang gây áp lực về thời gian, ảnh hưởng đến kỳ nghỉ hè của giáo viên. Một số nơi còn bị phản ánh tổ chức mang tính hình thức, nội dung chưa thật sự sát thực tế giảng dạy.
Dù vậy, ở góc độ chuyên môn, nhiều giáo viên lâu năm cho rằng tập huấn SGK là yêu cầu không thể thiếu nếu muốn triển khai hiệu quả chương trình mới. Điều cần bàn không phải là “có nên tập huấn hay không”, mà là tập huấn theo cách nào để đem lại hiệu quả thực chất.
SGK không chỉ đơn thuần là tài liệu tham khảo hay học liệu bổ sung. Đây là học liệu chính thức gắn với mục tiêu chương trình, hệ thống bài học, phương pháp tổ chức hoạt động và định hướng kiểm tra, đánh giá học sinh. Vì vậy, khi thay đổi bộ sách hoặc triển khai một chương trình thống nhất trên toàn quốc, giáo viên bắt buộc phải được tiếp cận đầy đủ nội dung, cấu trúc và tinh thần của SGK mới.
Trong các đợt tập huấn trước đây theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhiều giáo viên từng phải dạy song song nhiều bộ sách khác nhau. Có thời điểm lớp 6, lớp 7 sử dụng bộ Cánh Diều, trong khi lớp 8, lớp 9 học bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Điều này khiến giáo viên phải liên tục cập nhật phương pháp và cách tiếp cận nội dung.
Khi cả nước chuyển sang dùng thống nhất một bộ SGK, những giáo viên chưa từng giảng dạy bộ sách này càng cần được bồi dưỡng kỹ lưỡng trước khi bước vào năm học mới.
Thông qua các buổi tập huấn, giáo viên thường được nghe tác giả SGK hoặc chuyên gia chuyên môn giới thiệu về cấu trúc sách, mục tiêu bài học, yêu cầu cần đạt, phương pháp tổ chức dạy học cũng như định hướng kiểm tra đánh giá. Ngoài ra còn có các video tiết dạy minh họa, hoạt động thảo luận chuyên môn để giáo viên hình dung rõ hơn cách triển khai trong thực tế.
Những nội dung này giúp giáo viên hiểu đúng tinh thần của chương trình, tự tin hơn khi xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức lớp học. Chính vì thế, nhiều sở giáo dục yêu cầu giáo viên bắt buộc tham gia đầy đủ các đợt tập huấn, thậm chí có nơi không phân công giảng dạy đối với giáo viên không tham gia hoặc không đạt yêu cầu đánh giá sau tập huấn. Đây được xem là biện pháp mạnh nhằm đảm bảo chất lượng triển khai SGK mới ngay từ đầu năm học.
Dù việc tập huấn là cần thiết, nhưng thực tế nhiều giáo viên vẫn băn khoăn vì nội dung ở một số nơi còn nặng tính giới thiệu hình thức.
Không ít buổi tập huấn chỉ dừng ở việc giới thiệu cấu trúc sách, số tiết học, hệ thống kênh hình – kênh chữ hay các yêu cầu về phẩm chất, năng lực học sinh. Những nội dung này cần thiết nhưng chưa đủ. Điều giáo viên cần nhất chính là phương pháp tổ chức dạy học cụ thể.
Họ cần được giải đáp những câu hỏi rất thực tế như: Dạy bài này bằng hoạt động nào để học sinh hứng thú? Tổ chức thảo luận nhóm ra sao? Khai thác tư liệu như thế nào để phát triển năng lực học sinh? Kiểm tra, đánh giá theo định hướng mới bằng hình thức nào?
Nếu tập huấn chỉ dừng ở mức “giới thiệu sách”, giáo viên rất khó chuyển hóa kiến thức thành chất lượng tiết dạy trên lớp. Một đợt tập huấn hiệu quả phải giúp giáo viên biết cách thiết kế hoạt động học tập, xử lý tình huống trong lớp học và vận dụng linh hoạt SGK vào từng đối tượng học sinh cụ thể.
Một vấn đề khác được nhiều giáo viên nhắc đến là việc tập huấn hiện nay vẫn quá phụ thuộc vào hình thức trực tuyến. Hình thức này có ưu điểm là tiết kiệm kinh phí, triển khai được trên diện rộng và thuận lợi về mặt tổ chức. Tuy nhiên, hiệu quả chuyên môn chưa phải lúc nào cũng đạt như kỳ vọng.
Nhiều giáo viên cho biết, học trực tuyến khó tương tác trực tiếp với báo cáo viên, khó trao đổi sâu về các vấn đề phát sinh trong quá trình giảng dạy thực tế. Không ít buổi tập huấn gặp tình trạng đường truyền chập chờn, nội dung kéo dài khiến người học khó duy trì sự tập trung. Bên cạnh đó, việc quản lý nề nếp học tập cũng chưa thật sự hiệu quả. Có trường hợp giáo viên tham gia cho đủ danh sách nhưng không theo dõi đầy đủ nội dung.
Một số đợt tập huấn còn được tổ chức ngay trong năm học, khi giáo viên vừa dạy chính khóa vừa tham gia bồi dưỡng nên khó toàn tâm toàn ý tiếp thu kiến thức mới. Theo nhiều ý kiến, để nâng cao chất lượng thực chất, hoạt động tập huấn nên được tổ chức trực tiếp vào dịp hè, có lộ trình theo nhiều cấp độ.
Trước tiên là tập huấn đội ngũ giáo viên cốt cán cấp sở, chuyên viên bộ môn và tổ trưởng chuyên môn. Sau đó triển khai theo cụm trường, tổ chuyên môn và tiếp tục sinh hoạt chuyên đề tại từng đơn vị.
Quan trọng hơn, giáo viên cần được trực tiếp xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế bài giảng, dạy minh họa, dự giờ và góp ý lẫn nhau thay vì chỉ nghe giới thiệu lý thuyết. Đó mới là quy trình bồi dưỡng có khả năng tạo ra thay đổi thật sự trong lớp học.
Việc cả nước thống nhất sử dụng một bộ SGK là bước chuyển lớn của ngành giáo dục, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ cơ quan quản lý đến từng nhà trường, giáo viên. Muốn đổi mới giáo dục đi vào thực chất, trước hết giáo viên phải được chuẩn bị đầy đủ cả về kiến thức lẫn phương pháp giảng dạy.
Một đợt tập huấn hiệu quả không chỉ giúp giáo viên “biết sách”, mà quan trọng hơn là giúp họ tự tin tổ chức giờ học, hiểu đúng tinh thần chương trình và vận dụng linh hoạt vào thực tế lớp học.
Khoảng năm 1772, tại vùng gần Lyon (Pháp), một cậu bé chào đời với chứng thèm ăn kỳ lạ đến mức vượt xa mọi hiểu biết của y học đương thời. Người đó được biết đến với cái tên Tarrare. Từ khi còn nhỏ, Tarrare đã có thể ăn lượng thức ăn tương đương trọng lượng cơ thể mình chỉ trong một ngày, nhưng cơn đói chưa bao giờ chấm dứt. Gia đình nghèo khó không đủ khả năng nuôi con nên cuối cùng buộc phải đuổi cậu ra khỏi nhà.
Lang bạt khắp nước Pháp, Tarrare gia nhập các gánh xiếc rong và nhanh chóng trở thành "ngôi sao" nhờ khả năng ăn uống khiến khán giả vừa kinh ngạc vừa khiếp sợ.
Trước đám đông, ông có thể nuốt hàng chục quả táo liên tiếp, ăn đá, nút chai, thủy tinh, thậm chí nuốt cả những con vật còn sống như rắn, lươn, mèo hoặc chó nhỏ. Những màn trình diễn kỳ dị ấy giúp Tarrare kiếm sống nhưng cũng khiến ông bị xem như một "quái nhân".
Điều khó hiểu là dù ăn lượng thực phẩm gấp nhiều lần người bình thường, Tarrare vẫn gầy gò, chỉ nặng khoảng 45 kg. Các bác sĩ mô tả da bụng của ông chảy xệ như một chiếc túi lớn, có thể phồng lên đáng kể sau mỗi bữa ăn rồi lại xẹp xuống. Cơ thể Tarrare luôn nóng bất thường, đổ nhiều mồ hôi và bốc mùi hôi nồng nặc đến mức người khác khó đứng gần.
Khi gia nhập quân đội Pháp trong thời kỳ Cách mạng Pháp, Tarrare tiếp tục khiến mọi người sửng sốt. Quân đội phải cấp khẩu phần ăn gấp nhiều lần binh sĩ khác nhưng ông vẫn đói, thường xuyên lục thùng rác, ăn thức ăn thừa, xác động vật hoặc bất cứ thứ gì có thể nhét vào miệng. Hai bác sĩ quân y nổi tiếng thời đó đã dành nhiều thời gian nghiên cứu trường hợp đặc biệt này nhưng không tìm ra nguyên nhân chính xác.
Chính khả năng nuốt những vật lớn đã khiến một vị tướng nảy ra ý tưởng biến Tarrare thành "điệp viên sống". Các tài liệu mật được đặt trong hộp gỗ nhỏ rồi để ông nuốt vào bụng. Khi đến nơi, tài liệu sẽ được lấy lại sau khi đi qua hệ tiêu hóa. Tuy nhiên, nhiệm vụ đầu tiên nhanh chóng thất bại khi Tarrare bị quân Phổ bắt giữ vì không nói được tiếng Đức. Sau nhiều giờ tra khảo, ông buộc phải khai ra kế hoạch bí mật. May mắn là thông điệp ông mang theo chỉ là một bức thư thử nghiệm chứ không chứa thông tin quân sự quan trọng.
Sau thất bại này, tình trạng của Tarrare ngày càng trở nên đáng sợ. Hồ sơ y học ghi nhận ông từng bị bắt gặp uống máu bệnh nhân trong bệnh viện, ăn xác động vật và thậm chí lẻn vào nhà xác tìm thi thể để thỏa mãn cơn đói. Khi một đứa trẻ mất tích, nhiều nghi ngờ cũng hướng về Tarrare, dù không có bằng chứng xác thực chứng minh ông là thủ phạm. Cuối cùng, ông bị đuổi khỏi bệnh viện.
Năm 1798, khi mới khoảng 26 tuổi, Tarrare qua đời sau thời gian mắc bệnh nặng. Cuộc khám nghiệm tử thi khiến các bác sĩ tiếp tục kinh ngạc. Thực quản của ông rộng bất thường, dạ dày khổng lồ gần như chiếm toàn bộ khoang bụng, nhiều cơ quan nội tạng bị tổn thương nghiêm trọng. Mùi hôi từ thi thể quá nặng khiến việc khám nghiệm phải dừng giữa chừng.
Đến nay, giới khoa học vẫn chưa thể xác định chính xác căn bệnh khiến Tarrare mang cơn đói vô tận suốt cuộc đời. Một số giả thuyết cho rằng ông có thể mắc chứng ăn vô độ cực hiếm, rối loạn chuyển hóa hoặc tổn thương vùng điều khiển cảm giác no của não, nhưng tất cả vẫn chỉ dừng ở mức suy đoán.
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, Tarrare vẫn được nhắc đến như một trong những trường hợp y học kỳ lạ và khó lý giải nhất lịch sử. Câu chuyện về người đàn ông có thể ăn gần như mọi thứ nhưng không bao giờ hết đói tiếp tục khiến các nhà khoa học lẫn công chúng vừa tò mò vừa ám ảnh.
Bảo tàng tỉnh Quảng Trị vừa tiếp nhận các hiện vật do đoàn thám hiểm hang động Anh – Việt hiến tặng để phục vụ công tác nghiên cứu và trưng bày.
Theo đó, đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh do ông Howard Limbert làm trưởng đoàn đã phát hiện 5 chiếc rìu đá tại hang Én thuộc vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, 5 chiếc rìu đá được xác định có niên đại khoảng 6.000–8.000 năm, thuộc thời kỳ đá mới, nhiều khả năng gắn với văn hóa Bàu Tró.
Theo thông tin từ Bảo tàng Quảng Trị, hiện 5 lưỡi rìu đá cổ được phân bổ lưu giữ tại 3 địa điểm: Tại Bảo tàng Hà Nội, qua quá trình thẩm định, các chuyên gia bước đầu nhận định những hiện vật này có niên đại từ khoảng 6.000 – 8.000 năm trước.
Trong khi đó, theo nhận định của vợ chồng ông Howard Limbert, các lưỡi rìu có thể có niên đại khoảng 5.000 năm trước Công nguyên, thuộc thời kỳ đá mới.
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo, hướng dẫn viên tiếng Anh thuộc Bảo tàng Quảng Trị cho biết, sau khi đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh do ông Howard Limbert dẫn đầu phát hiện các lưỡi rìu đá cổ, phía đoàn đã chủ động gửi hình ảnh kèm một bức thư ngắn.
"Trong thư, ông Howard Limbert bày tỏ nguyện vọng gửi tặng các hiện vật này cho ngành văn hóa Quảng Trị. Thông tin sau đó được chuyển đến ông Đặng Đông Hà – Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, và ngay lập tức Bảo tàng Quảng Trị được giao nhiệm vụ tiếp nhận", bà Nguyễn Thị Phương Thảo cho biết.
Sau đó, bà Thảo chủ động liên hệ với ông Howard Limbert và nhận được sự hợp tác rất nhiệt tình. "Đến ngày 15/4, tôi cùng lãnh đạo bảo tàng đã trực tiếp gặp vợ chồng ông để tiếp nhận 2 lưỡi rìu đá cổ", bà Thảo chia sẻ.
Theo ông Howard Limbert, trong quá trình đoàn di chuyển vào hang Sơn Đoòng, khi đi qua hang Én, thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, một thành viên trong đoàn là Nguyễn An đã tình cờ phát hiện một lưỡi rìu đá.
Từ phát hiện ban đầu này, cả đoàn tiến hành tìm kiếm xung quanh và tiếp tục phát hiện thêm 4 lưỡi rìu khác. Các hiện vật đều có bề mặt nhẵn bóng, dấu hiệu rõ ràng của quá trình chế tác và sử dụng. Sau đó, đoàn đã thu thập và mang các hiện vật ra ngoài để nghiên cứu và bảo quản.
Các lưỡi rìu được xác định chế tác từ đá silic, gồm hai loại chính là rìu vai xuôi và rìu vai ngang. Trên thân và phần lưỡi vẫn còn lưu lại dấu vết ghè đẽo và mài nhẵn – đặc trưng của kỹ thuật chế tác công cụ thời tiền sử.
Đáng chú ý, nhiều hiện vật có dấu hiệu mài mòn, sứt khuyết ở phần lưỡi và chuôi. Điều này cho thấy chúng đã được sử dụng nhiều lần trong hoạt động sinh hoạt và sản xuất, như chặt cây, khai phá tự nhiên.
Các rìu đá được tìm thấy nằm trong lớp trầm tích bị nước lũ bào mòn bên trong hang Én, nơi vẫn còn dấu tích của các tầng văn hóa cổ. Điều này củng cố nhận định rằng khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng từng là nơi cư trú hoặc sinh hoạt của con người từ hàng nghìn năm trước.
Hang Én, một trong những hang động lớn nhất thế giới có chiều dài hơn 1,6 km, thể tích khoảng 6,7 triệu m³, với không gian rộng lớn, trần cao và nhiều cửa hang đón ánh sáng tự nhiên. Đây cũng là điểm du lịch mạo hiểm được khai thác từ năm 2012 và là cửa ngõ dẫn tới hang Sơn Đoòng nổi tiếng.
Ngày 5/6, tại phường Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai), Sở KH&CN tỉnh Gia Lai phối hợp với Trường Đại học Hùng Vương Tp.Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo Khoa học Quốc gia với chủ đề "Du lịch thể thao – Cơ hội lớn cho kinh tế- xã hội Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Hội thảo với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa, nhà quản lý từ khắp cả nước.
Tại hội thảo, TS. Trần Việt Anh, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Hùng Vương Tp.Hồ Chí Minh, nhấn mạnh thể thao ngày nay đã vượt ra khỏi khuôn khổ văn hóa – xã hội để trở thành một ngành kinh tế đóng góp khoảng 600 tỷ USD vào quy mô kinh tế toàn cầu mỗi năm, với tốc độ tăng trưởng lên tới 15% hàng năm.
Trong đó, du lịch thể thao hiện chiếm khoảng 10% tổng chi tiêu du lịch toàn cầu và là một trong những phân khúc tăng trưởng nhanh nhất của ngành du lịch. Nhiều quốc gia trên thế giới đã xem các sự kiện thể thao quốc tế là công cụ chiến lược để thu hút du khách, quảng bá hình ảnh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.
Trong bức tranh của du lịch thể thao, tỉnh Gia Lai đang nổi lên như một điểm đến với lợi thế về tự nhiên và văn hóa đặc sắc. Sau khi hợp nhất, Gia Lai hiện là một trong số rất ít địa phương tại Việt Nam đồng thời sở hữu cả hệ sinh thái biển lẫn cao nguyên trong một không gian rộng lớn. Trong đó, vùng duyên hải Nam Trung Bộ với bãi biển đẹp, sân golf và các cung đường chạy ven biển. Vùng cao nguyên xanh mát có hồ, thác, rừng nguyên sinh cùng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO công nhận.
Đặc biệt, võ cổ truyền Bình Định là một tài sản văn hóa thể thao không nơi nào có thể sao chép được. Theo TS. Trần Việt Anh, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia võ cổ truyền Bình Định chính là nguồn tài nguyên văn hóa độc đáo để hình thành các sản phẩm du lịch thể thao mang bản sắc riêng, góp phần tạo nên thương hiệu khác biệt cho địa phương.
Cùng với đó, nhiều năm nay Gia Lai đã có nền tảng tổ chức các sự kiện thể thao, trong đó có sự kiện thao mang tầm quốc tế. Địa phương từng đăng cai thành công Giải đua thuyền máy vô địch thế giới UIM F1H2O, các giải chạy marathon, giải đấu võ cổ truyền quy mô lớn. Đây là những tiền đề quan trọng để Gia Lai hướng tới xây dựng chuỗi sự kiện thể thao mang tầm khu vực và quốc tế.
Thêm vào đó, với việc đăng cai Năm Du lịch quốc gia 2026, đây là thời điểm tốt để Gia Lai quảng bá điểm đến, sản phẩm du lịch mới trong đó có du lịch thể thao.
Tại hội thảo các chuyên gia đều nhìn nhận, tiềm năng du lịch thể thao của Gia Lai là có. Tuy nhiên, tiềm năng này sẽ khó trở thành động lực tăng trưởng kinh tế nếu thiếu bài toán hợp lý để thúc đẩy sự phát triển.
Trong góc nhìn này,TS. Trần Việt Anh, chia sẻ: "Bình Định mà nay là Gia Lai chưa khai thác được hạ tầng sau Giải đua thuyền máy vô địch thế giới UIM F1H2O. Hạ tầng F1H2O trở thành nơi cho thuê làm bãi đậu container, điều này khá là đáng tiếc. Gần như chúng ta không có gì được lưu giữ lại sau sự kiện này".
TS. Trần Việt Anh dẫn câu chuyện từ các nước về biến thể thao thành một công cụ quảng bá du lịch. Ông dẫn chứng: Barcelona năm 1992 từng là thành phố công nghiệp ven biển suy tàn, cảng biển xuống cấp, hình ảnh quốc tế mờ nhạt, nhưng sau Olympic, thành phố này trở thành trung tâm du lịch hàng đầu châu Âu nhờ khai thác triệt để hạ tầng và thương hiệu thể thao. Sân vận động Tổ chim tại Bắc Kinh sau Olympic đã trở thành điểm đến du lịch mà hầu như đoàn khách nào đến Trung Quốc cũng ghé thăm. Cả hai đều cho thấy giá trị thực sự của một sự kiện thể thao lớn không nằm ở ngày diễn ra, mà ở những gì còn lại sau đó.
"Không phải Gia Lai thiếu các sự kiện thể thao tầm cỡ để phát triển. Cái cốt lõi Gia Lai đang thiếu là một hệ sinh thái để giữ được giá trị đằng sau sự kiện thể thao", TS. Trần Việt Anh kết luận.
Cùng quan điểm, PGS. TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng, một hệ sinh thái du lịch thể thao khép kín không chỉ là tập hợp các giải đấu, mà phải là sự kết nối đồng bộ giữa nhiều lĩnh vực: việc làm, du lịch, phát triển bền vững, hình ảnh điểm đến, đầu tư hạ tầng và kinh tế địa phương.
"Muốn phát triển cụm ngành thể thao đòi hỏi nhiều thứ. Cần có doanh nghiệp lớn dẫn dắt để hình thành hệ sinh thái kết nối. Xa hơn, cụm ngành thể thao phát triển tạo ra sự tăng trưởng kinh tế khi đưa tới sự phát triển của nhiều ngành nghề hỗ trợ. Thể thao chính là nhân tố gia tăng tính cạnh tranh cho các điểm đến hiện nay", PGS.TS Bùi Quang Tuấn, nhìn nhận.
Trong khí đó, ở góc nhìn quản lý nhà nước, ThS. Nguyễn Hồng Minh, Phó Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao ( Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), cho rằng để khai thác tiềm năng của thể thao trong góc nhìn kinh tế, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý và đẩy mạnh thu hút đầu tư. Đó là những yếu tố nền tảng để xây dựng ngành công nghiệp thể thao phát triển bền vững, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế.