“Đây là niềm vinh dự to lớn, đồng thời là trách nhiệm cao cả của tôi trước Đảng, Nhà nước, trước cử tri và nhân dân cả nước”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.
Trong giờ phút trang nghiêm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng bày tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đến Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; xin tri ân các vị lãnh đạo tiền bối, các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động; các gia đình liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh, gia đình có công với đất nước.
Đồng thời, trân trọng cảm ơn về sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sâu sát của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Tô Lâm; các đại biểu Quốc hội, cử tri, nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài; các tổ chức, cá nhân, bạn bè quốc tế đã giúp đỡ, chia sẻ, để đất nước Việt Nam tự tin, vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Theo Chủ tịch Quốc hội, đất nước ta đang đứng trước một thời điểm lịch sử có ý nghĩa bước ngoặt; vui mừng về những thành tựu Quốc hội đạt được trong 80 năm qua nhưng trách nhiệm của Quốc hội là hết sức nặng nề, nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Quốc hội khóa XVI sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy thành quả của các nhiệm kỳ trước, với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, khát vọng đổi mới và tinh thần phục vụ nhân dân.
Quốc hội sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, xứng đáng là Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là hiện thân sinh động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
“Tôi nguyện cống hiến hết sức mình, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; cùng Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, Quốc hội số, trí tuệ nhân tạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, nói đi đôi với làm, làm ngay, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định.
Theo đó, Quốc hội sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp, “thận trọng trong phương pháp nhưng quyết liệt trong hành động”, tập trung hoàn thiện, đồng bộ thể chế để đất nước phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng giám sát, chú trọng giám sát việc thực thi pháp luật, coi giám sát là công cụ kiến tạo, thúc đẩy phát triển; theo dõi, xem xét, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.
Nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tiếp tục đưa hoạt động đối ngoại nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao hơn nữa vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của Quốc hội.
Chủ tịch Quốc hội kính chúc Tổng Bí thư Tô Lâm, các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam, các vị khách quý, các vị đại biểu Quốc hội, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cử tri, nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.
Nguồn: https://thanhnien.vn/phat-bieu-nham-chuc-cua-chu-tich-quoc-hoi-tran-thanh-man-185260406115659421.htm
Chính Trị
Giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ số, internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có môi trường hình thành, lan tỏa và tác động của dư luận xã hội.
Nếu như trước đây, dư luận xã hội chủ yếu được hình thành thông qua các kênh giao tiếp trực tiếp, báo chí truyền thống hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, thì ngày nay, không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng sản sinh, tương tác, lan truyền và khuếch đại dư luận.
Trong bối cảnh đó, công tác dư luận xã hội đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Đổi mới công tác dư luận xã hội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Điểm nổi bật nhất của dư luận xã hội hiện nay là tốc độ hình thành và lan truyền thông tin diễn ra với quy mô rất lớn, cường độ rất nhanh. Chỉ một sự kiện, một phát ngôn, một đoạn video ngắn hoặc một thông tin chưa được kiểm chứng cũng có thể nhanh chóng thu hút hàng triệu lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ và tạo thành làn sóng dư luận mạnh mẽ trong xã hội.
Không gian mạng đã làm thay đổi căn bản cấu trúc truyền thông xã hội. Từ chỗ công chúng chủ yếu tiếp nhận thông tin một chiều, ngày nay mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa là người sản xuất, bình luận, lan truyền và tác động đến thông tin. Điều này làm cho dư luận xã hội trở nên đa chiều hơn, dân chủ hơn, nhưng cũng phức tạp hơn, khó dự báo hơn.
Một đặc điểm đáng chú ý là ranh giới giữa thông tin chính thống và thông tin phi chính thống ngày càng trở nên mong manh. Bên cạnh những giá trị tích cực mà môi trường số mang lại, tình trạng tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin độc hại, xuyên tạc, kích động vẫn diễn biến phức tạp.
Nhiều vụ việc xã hội cho thấy, nếu thông tin chính thống chậm được cung cấp hoặc thiếu sức thuyết phục thì rất dễ tạo khoảng trống thông tin, làm phát sinh tâm lý hoài nghi, gây nhiễu loạn dư luận và tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chủ động, chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng số và bám sát đời sống nhân dân.
Những năm qua, công tác dư luận xã hội đã có nhiều đổi mới tích cực. Hệ thống tổ chức, mạng lưới cộng tác viên từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục được củng cố; việc nắm bắt, tổng hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ngày càng được quan tâm. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được phát hiện sớm, góp phần giúp cấp ủy, chính quyền kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xử lý.
Hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát dư luận từng bước được mở rộng. Một số cơ quan, địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, phân tích thông tin trên báo chí và mạng xã hội. Công tác dư luận xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là kênh tham mưu quan trọng trong công tác tư tưởng, dân vận, truyền thông chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, công tác dư luận xã hội vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý. Ở nhiều nơi, công tác này vẫn chủ yếu dừng ở việc phản ánh tình hình, chưa chú trọng đúng mức đến phân tích chuyên sâu, dự báo xu hướng và tham mưu chính sách. Không ít báo cáo còn nặng về mô tả hiện tượng, thiếu đánh giá bản chất, nguyên nhân và dự báo tác động.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác dư luận xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công, trong khi dư luận trên không gian mạng biến động từng giờ, từng phút.
Cơ chế phối hợp giữa công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách, công tác dân vận, hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số nơi còn thiếu chặt chẽ. Nhiều thông tin phản ánh từ cơ sở chưa được xử lý, phản hồi kịp thời, làm giảm hiệu quả tạo đồng thuận xã hội.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chưa đồng đều; kỹ năng phân tích dữ liệu, khai thác thông tin số, nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh trên không gian mạng còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần sớm được khắc phục nếu muốn nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, công tác dư luận xã hội cần được đổi mới toàn diện cả về tư duy, phương thức, công nghệ và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ của công tác tuyên giáo, dân vận, mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ 5 giải pháp cốt lõi sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy về công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng. Cần chuyển từ tư duy "nắm bắt và phản ánh dư luận" sang tư duy "quản trị dư luận xã hội trong môi trường số". Sự chuyển đổi này không có nghĩa là hành chính hóa hay áp đặt đối với dư luận xã hội, mà là nâng cao năng lực lắng nghe, phân tích, dự báo, định hướng và tham mưu xử lý các vấn đề xã hội một cách chủ động, khoa học, thuyết phục.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ nhằm biết nhân dân đang quan tâm điều gì, mà quan trọng hơn là phải nhận diện được vì sao vấn đề đó được quan tâm, nhóm xã hội nào đang chịu tác động, mức độ lan tỏa đến đâu, xu hướng diễn biến ra sao, nguy cơ bị lợi dụng như thế nào và cần tham mưu giải pháp gì để xử lý từ sớm, từ xa.
Nếu chỉ dừng lại ở phản ánh hiện tượng, công tác dư luận xã hội sẽ luôn đi sau thực tiễn; nếu có năng lực phân tích và dự báo, công tác này sẽ trở thành công cụ quan trọng giúp cấp ủy, chính quyền chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Do đó, cần coi dư luận xã hội là một nguồn dữ liệu quan trọng trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công. Mỗi chủ trương, chính sách lớn, nhất là những chính sách tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đều cần được nhìn nhận từ góc độ dư luận xã hội: Nhân dân hiểu thế nào, đồng thuận đến đâu, băn khoăn điều gì, vướng mắc ở khâu nào, cần điều chỉnh ra sao. Đây chính là cơ sở để chính sách đi vào cuộc sống, hạn chế khoảng cách giữa chủ trương đúng với tổ chức thực hiện hiệu quả.
Công tác dư luận xã hội vì vậy phải trở thành một bộ phận hữu cơ của phương thức lãnh đạo, quản lý hiện đại: lãnh đạo phải dựa vào dân, lắng nghe dân, hiểu dân, thuyết phục dân và tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, giám sát, hoàn thiện chính sách.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính đột phá, quyết định khả năng thích ứng của công tác dư luận xã hội trong bối cảnh mới. Khi dư luận xã hội hình thành và lan truyền chủ yếu trên môi trường số, nếu công tác nắm bắt dư luận vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, phân tán, chậm cập nhật thì sẽ khó theo kịp tốc độ biến động của thực tiễn.
Cần khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dữ liệu chuyên ngành về dư luận xã hội theo hướng thống nhất, liên thông, có khả năng cập nhật, phân tích và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành các trung tâm hoặc bộ phận phân tích, dự báo dư luận xã hội trên nền tảng số, có khả năng theo dõi, tổng hợp, phân loại, đánh giá các dòng thông tin lớn trên báo chí, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ phân tích cảm xúc, phân tích xu hướng thông tin, nhận diện chủ đề nóng, phát hiện bất thường trong dòng chảy thông tin. Những công cụ này giúp phát hiện sớm các vấn đề nổi lên, cảnh báo nguy cơ phát sinh điểm nóng, nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động, từ đó hỗ trợ cơ quan chức năng tham mưu giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông và xử lý chính sách phù hợp.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội không chỉ là đầu tư phần mềm, thiết bị hay lập thêm hệ thống kỹ thuật. Điều quan trọng hơn là phải đổi mới quy trình làm việc, cơ chế phối hợp, phương pháp phân tích và năng lực sử dụng dữ liệu. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được phân tích đúng, đặt trong bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể và chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có tính khả thi.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ "đi sau phản ánh" sang "đi trước dự báo"; từ xử lý bị động sang chủ động nhận diện, phòng ngừa rủi ro xã hội; từ báo cáo tình hình sang kiến tạo giải pháp, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong môi trường số.
Ba là, gắn chặt công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi xã hội.
Thực tiễn cho thấy, nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách không phải lúc nào cũng xuất phát từ bản thân chính sách, mà có khi bắt nguồn từ việc thông tin chưa đầy đủ, truyền thông chưa đúng thời điểm, thiếu đối thoại, thiếu giải thích hoặc chậm phản hồi trước những băn khoăn chính đáng của người dân. Trong môi trường số, khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi suy đoán, tin giả, thông tin sai lệch hoặc luận điệu xuyên tạc.
Vì vậy, công tác dư luận xã hội phải gắn chặt với truyền thông chính sách ngay từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trước khi ban hành những chính sách lớn, có tác động rộng đến đời sống nhân dân, cần coi trọng khảo sát, đánh giá tác động dư luận xã hội, nhận diện các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng, dự báo những vấn đề có thể phát sinh, từ đó có phương án truyền thông, giải thích và tạo đồng thuận phù hợp.
Trong quá trình thực hiện chính sách, cần thường xuyên lắng nghe phản hồi từ nhân dân, nhất là những ý kiến khác biệt, những băn khoăn, vướng mắc từ cơ sở. Thông tin phản ánh từ dư luận xã hội phải được tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi kịp thời; tránh tình trạng chỉ thu thập thông tin để báo cáo mà chưa gắn với trách nhiệm giải quyết.
Truyền thông chính sách trong thời đại số phải bảo đảm ba yêu cầu: nhanh, đúng và thuyết phục. Nhanh để không tạo khoảng trống thông tin; đúng để bảo đảm tính chính xác, chính thống; thuyết phục để người dân hiểu, chia sẻ và đồng thuận. Chính sách tốt không chỉ đúng về mục tiêu, đúng về pháp lý, mà còn phải được truyền thông đúng cách, được nhân dân hiểu đúng, đồng tình và tích cực tham gia thực hiện.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt, định hướng và tạo đồng thuận xã hội.
Trong công tác dư luận xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Với chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận có điều kiện và trách nhiệm trở thành một kênh quan trọng nắm bắt, phản ánh và tham mưu xử lý các vấn đề dư luận xã hội.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức nắm bắt dư luận theo hướng sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe thực chất tiếng nói của nhân dân. Cần kết hợp giữa nắm bắt qua hệ thống tổ chức, qua đội ngũ cán bộ cơ sở, qua tiếp xúc cử tri, giám sát, phản biện xã hội, với việc khai thác các kênh thông tin trên môi trường số. Qua đó, phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Thông qua giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận cần góp phần phát hiện sớm những bất cập trong cơ chế, chính sách, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, không để những bức xúc nhỏ tích tụ thành mâu thuẫn lớn, không để các vấn đề dân sinh trở thành điểm nóng xã hội.
Trong thời đại số, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng cần phát huy vai trò định hướng, lan tỏa thông tin tích cực, củng cố đồng thuận xã hội trên không gian mạng. Mỗi cán bộ Mặt trận, đoàn thể, đoàn viên, hội viên cần trở thành một chủ thể tích cực trong tuyên truyền, giải thích chính sách, phản ánh tiếng nói từ cơ sở, đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thời đại số.
Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của con người. Chất lượng công tác dư luận xã hội trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh mới, cán bộ làm công tác dư luận xã hội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phân tích sắc bén, năng lực dự báo tốt, am hiểu thực tiễn xã hội và có khả năng sử dụng công nghệ số.
Cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này theo hướng tích hợp ba nhóm năng lực: năng lực chính trị, năng lực xã hội học và năng lực số. Năng lực chính trị để nhận diện đúng tính chất của vấn đề, phân biệt giữa bức xúc chính đáng của nhân dân với hành vi lợi dụng, kích động, chống phá. Năng lực xã hội học để khảo sát, phân tích, đánh giá tâm trạng xã hội một cách khoa học. Năng lực số để khai thác dữ liệu, sử dụng công cụ phân tích truyền thông, theo dõi xu hướng thông tin và tham mưu trong môi trường số.
Cùng với đội ngũ chuyên trách, cần củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội. Mạng lưới này phải đa dạng, có chiều sâu, bao gồm cán bộ cơ sở, trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín, doanh nhân, công nhân, nông dân, thanh niên và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đây là lực lượng quan trọng giúp công tác dư luận xã hội bám sát đời sống, phản ánh được nhiều chiều cạnh của thực tiễn, nhất là những vấn đề đang hình thành từ cơ sở.
Tựu trung lại, 5 giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, đổi mới tư duy là tiền đề; chuyển đổi số là khâu đột phá; truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi là điều kiện bảo đảm hiệu quả; phát huy vai trò Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội là nền tảng để bám sát Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố then chốt quyết định chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ là công cụ nắm bắt tâm trạng xã hội mà còn là phương thức quan trọng để củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Ở đâu cấp ủy, chính quyền biết lắng nghe nhân dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề nhân dân quan tâm, ở đó niềm tin xã hội được củng cố. Ngược lại, nếu xa dân, thiếu thông tin, chậm phản hồi hoặc né tránh những vấn đề bức xúc thì rất dễ tạo khoảng trống để thông tin xấu độc len lỏi, tác động tiêu cực đến xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, số hóa và lấy nhân dân làm trung tâm không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược tăng cường giữa Philippines và Việt Nam

Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố chung giữa Philippines và Việt Nam:
1. Nhận lời mời của Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr., Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Philippines từ ngày 31.5 đến ngày 1.6.2026.
2. Ngày 1.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón và hội đàm chính thức với Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. và cùng chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác song phương. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã chủ trì buổi chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Philippines và tham dự diễn đàn doanh nghiệp.
3. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm, diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm triển khai hiệu quả quan hệ Đối tác chiến lược giữa Philippines và Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh tiềm năng hợp tác to lớn và nhất trí nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược hiện nay lên Đối tác chiến lược tăng cường.
4. Trên cơ sở khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam - Philippines, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tình hữu nghị lâu bền và hợp tác chặt chẽ giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế, đồng thời, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế và thượng tôn các nguyên tắc và nghĩa vụ theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến chương ASEAN.
5. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ quyết tâm phát huy những thành quả hợp tác về chính trị - an ninh, an toàn và an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển, mở rộng thương mại và đầu tư, hợp tác nông nghiệp, giáo dục, du lịch, giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân... đồng thời bày tỏ mong muốn thúc đẩy kết quả hợp tác thực chất vì lợi ích hai nước và của khu vực. Các cuộc thảo luận giữa hai lãnh đạo đã đặt nền tảng cho khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường năng động, bền chặt và cùng có lợi, vì an ninh, thịnh vượng và ấm no của nhân dân hai nước.
6. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định các cuộc trao đổi cấp cao giữa Philippines và Việt Nam thể hiện tin cậy giữa hai nước và cam kết tăng cường quan hệ song phương, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo khẳng định tiếp tục triển khai các chuyến thăm và tiếp xúc thường xuyên trên tất cả các kênh và các cấp, giao lưu nhân dân và kết nối doanh nghiệp, góp phần duy trì tham vấn về các vấn đề chiến lược của khu vực và toàn cầu, và tăng cường tiềm năng bổ trợ giữa định hướng phát triển của mỗi nước. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ chế hợp tác mới giữa cơ quan lập pháp và chính quyền địa phương hai nước thông qua duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc song phương và tại các diễn đàn đa phương, chia sẻ thông tin và các thực tiễn tốt.
7. Hai bên nhất trí phát huy đầy đủ và triển khai thường xuyên các cơ chế đối thoại và hợp tác song phương đã được thể chế hóa ở các cấp, bao gồm Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương (JCBC), Tiểu ban Thương mại Việt Nam - Philippines (JTC), các đối thoại quốc phòng và an ninh và tham vấn về các vấn đề biển và đại dương, nhằm xác định và thúc đẩy các tiềm năng bổ trợ giữa hai nước. Hai nhà lãnh đạo giao Bộ Ngoại giao hai nước phối hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch hành động mới triển khai khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường.
8. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tầm hợp tác kinh tế giữa Philippines và Việt Nam, là hai nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới, góp phần tăng cường năng lực và khả năng tự cường của mỗi quốc gia. Cả hai nhà lãnh đạo bày tỏ mong muốn vượt mục tiêu thương mại song phương 10 tỉ USD theo hướng cân bằng thông qua mở rộng cơ hội thương mại hai chiều, cải thiện tiếp cận thị trường và giảm thiểu các rào cản thương mại và đầu tư.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích tăng cường các trao đổi cấp cao và phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các khu vực công và tư nhân của hai nước, đồng thời hoan nghênh nỗ lực khai phá những lĩnh vực hợp tác mới như khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số/bao trùm về số, quản trị số, các công nghệ mới, năng lượng, đầu tư hai chiều trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế sáng tạo và các sáng kiến kinh tế xanh. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường liên kết và hợp tác kinh tế khu vực trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bao gồm các nỗ lực xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN bao trùm, tự cường và bền vững.
9. Nhận thức rõ vai trò thiết yếu của nông nghiệp đối với sự phát triển và nền kinh tế của mỗi nước, hai nhà lãnh đạo cam kết thúc đẩy hợp tác nông nghiệp chặt chẽ hơn thông qua nghiên cứu và phát triển chung, nâng cao năng lực, trao đổi chuyên gia và thực tiễn tốt, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, và nghiên cứu các lĩnh vực hợp tác tiềm năng trong thương mại và đầu tư, nông nghiệp, đặc biệt về gạo, thủy sản, phát triển kinh tế biển xanh bền vững, nông nghiệp bền vững, nông nghiệp thông minh, quản lý thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp và giải quyết các thách thức liên quan đến lương thực và nông nghiệp, với mục tiêu chuyển đổi các ngành nông nghiệp và thủy sản thành những động lực tăng trưởng mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nông thôn và tạo động lực cho các cộng đồng dân cư.
Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng lực chế biến thực phẩm và tăng cường chuỗi cung ứng nhằm nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững trước những thách thức toàn cầu. Hai nhà lãnh đạo kêu gọi tăng cường hợp tác song phương để phòng chống các hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) thông qua chia sẻ thông tin, nâng cao năng lực và hợp tác quản lý nghề cá và thực thi pháp luật.
10. Hai nhà lãnh đạo nhận thức rõ vai trò quan trọng của du lịch là một động lực tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hiểu biết văn hóa và kết nối nhân dân; cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển du lịch thông qua chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy các sáng kiến du lịch bền vững và bao trùm, và tạo thuận lợi cho các hoạt động trao đổi và hợp tác du lịch giữa hai nước.
11. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường các cơ chế hợp tác biển hiện có, bao gồm Ủy ban Hỗn hợp về các vấn đề biển và đại dương cấp Thứ trưởng, Nhóm công tác chung về các vấn đề biển và đại dương (JPWG-MOC), việc thực hiện Bản ghi nhớ về phòng ngừa và quản lý sự cố tại Biển Đông và Bản ghi nhớ về hợp tác biển giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines, đường dây nóng giữa cơ quan cảnh sát biển hai nước.
Hai bên cam kết xử lý các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hòa bình, hữu nghị, phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác về nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường, thủy đạc, kết nối hàng hải và bảo tồn các vùng biển quốc tế. Hai nhà lãnh đạo cũng tái khẳng định cam kết bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, sự an toàn, phúc lợi, quyền bình đẳng và nhân phẩm của thuyền viên.
Hai nhà lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền rà soát và cải thiện các chính sách và cơ chế về thị thực cho thuyền viên để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập cảnh vào mỗi nước, phù hợp với luật pháp trong nước và các khuôn khổ ASEAN liên quan. Hai nhà lãnh đạo cam kết bảo đảm triển khai các cơ chế bảo đảm an toàn và an ninh cho ngư dân hai nước.
12. Hai bên nhấn mạnh hợp tác an ninh và quốc phòng ngày càng vững chắc là một trong những trụ cột chính của khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo nhất trí:
a. Duy trì các cuộc trao đổi cấp cao giữa ngành quốc phòng và an ninh hai nước, tăng cường đối thoại chiến lược và chính sách, chia sẻ thông tin, mở rộng hợp tác giáo dục và đào tạo, tiếp tục thể chế hóa và duy trì các cơ chế đối thoại, giao lưu giữa quân nhân các binh chủng và cơ quan hàng hải, thúc đẩy các hoạt động thăm viếng tàu và các hoạt động chung ứng phó với các vấn đề an ninh trên biển;
b. Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, quân y, hậu cần quân sự, thương mại quốc phòng, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR), an ninh hàng hải và hàng không, chống khủng bố và gìn giữ hòa bình;
c. Tăng cường trao đổi và hợp tác trong việc thúc đẩy và đề cao luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS).
13. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm lừa đảo trên mạng, các hoạt động lừa đảo trực tuyến, đưa người di cư trái phép và buôn người, đánh bạc bất hợp pháp, các hoạt động tài chính bất hợp pháp, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp và xử lý các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích các cơ quan liên quan hai bên tận dụng chuyên môn và kinh nghiệm của nhau trong các lĩnh vực này và thúc đẩy hợp tác trong đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật trong các khuôn khổ song phương và đa phương. Hai bên cam kết phối hợp chặt chẽ để không cho phép bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này để thực hiện các hoạt động tội phạm chống phá nước kia, phù hợp với luật pháp và quy định của mỗi nước.
14. Hai bên nhất trí triển khai các biện pháp sau nhằm tăng cường hợp tác thực thi pháp luật phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia:
a. Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên để giải quyết tình trạng di cư trái phép, buôn người và lừa đảo trực tuyến ảnh hưởng đến người dân Philippines và Việt Nam;
b. Thông qua các hoạt động đào tạo và nâng cao năng lực để trao đổi thông tin và thực tiễn tốt về cơ chế phòng chống và kinh nghiệm truy tố tội phạm buôn người của mỗi bên, trong đó có thể tận dụng hợp tác với các cơ quan ASEAN liên quan như AMMTC/SOMTC và ASEANAPOL;
c. Cụ thể hóa cam kết thành các quy trình thông báo, điều tra và truy tố các băng nhóm lừa đảo và buôn người lôi kéo nạn nhân ở cả hai nước;
d. Mở rộng hợp tác về an ninh mạng và đấu tranh chống tội phạm trên không gian mạng.
15. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác pháp lý và tư pháp, đồng thời tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong quá trình đàm phán Hiệp định Dẫn độ, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa hai nước.
16. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu nhân dân thực chất, là nền tảng vững chắc để củng cố tình hữu nghị bền vững và đoàn kết giữa nhân dân Philippines và Việt Nam, thông qua các tổ chức hữu nghị, nhóm nghị sĩ hữu nghị và hợp tác giữa các chính quyền địa phương. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể thao và du lịch; tăng cường kết nối hàng không và hàng hải, góp phần thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa nhân dân hai nước, đặc biệt giữa phụ nữ, thanh niên và giới học giả.
17. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì các chương trình, hoạt động trao đổi và sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Văn hóa 2024 - 2029, nhằm thúc đẩy hợp tác và trao đổi trong các lĩnh vực như bản quyền, thư viện, phát triển hồ sơ lưu trữ, văn học, bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bảo tàng, các ngành công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn và liên ngành, điện ảnh và nội dung nghe nhìn...
18. Hai bên tái khẳng định cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam tại Philippines và người Philippines tại Việt Nam được sinh sống, làm việc và học tập trên cơ sở luật pháp của mỗi nước và thông lệ quốc tế. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác lao động nhằm thúc đẩy phúc lợi và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của lao động di cư Philippines và Việt Nam.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ thúc đẩy các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN, đặc biệt trong năm Philippines đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2026, thông qua việc triển khai đầy đủ và hiệu quả Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và văn kiện "ASEAN 2045: Tương lai chung của chúng ta". Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN và xây dựng một cộng đồng tự cường và bền vững hơn. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự kết nối giữa các cơ chế hợp tác tiểu vùng, trong đó có Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN Brunei Darussalam - Indonesia - Malaysia - Philippines (BIMP - EAGA) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 sắp tới tại Hà Nội là diễn đàn đóng góp cho đối thoại và hợp tác khu vực trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Philippines và việc ký kết và thông qua Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về Hợp tác Hàng hải tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu.
20. Hai nhà lãnh đạo nhất trí phối hợp chặt chẽ, tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong các ứng cử tại các tổ chức quốc tế và khu vực và các khuôn khổ đa phương, đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc.
21. Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế. Hai bên tái khẳng định lập trường nhất quán của ASEAN về Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thúc đẩy tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý và ngoại giao, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định lập trường của mỗi nước về phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 về Biển Đông. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc các bên tự kiềm chế trong triển khai các hoạt động có thể làm leo thang căng thẳng và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc, duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho đàm phán và sớm đạt được một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982.
22. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận cuộc trao đổi thực chất, mang định hướng dài hạn giữa hai nước đã tạo đà tích cực cho quan hệ song phương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chân thành cảm ơn Tổng thống Marcos và nhân dân Philippines về sự tiếp đón nồng hậu và tái khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc tiếp tục củng cố quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường với Philippines. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Việt Nam vào thời điểm thuận tiện cho cả hai bên.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Thủ tướng đến Kazan, bắt đầu chương trình tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN - Nga

Đón Thủ tướng Lê Minh Hưng cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay quốc tế Kazan có người đứng đầu Cộng hòa Tatarstan Rustam Minikhanov. Về phía Việt Nam, có Đại sứ Việt Nam tại Nga Đặng Minh Khôi; Tổng lãnh sự Việt Nam tại Ekaterinburg Nguyễn Mai Hường và các cán bộ Đại sứ quán.
Đây là chuyến công tác đầu tiên của Thủ tướng Lê Minh Hưng trên cương vị mới tới Liên bang Nga, cho thấy sự coi trọng của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - Nga. Chuyến công tác góp phần phát huy vai trò "cầu nối" của Việt Nam, tạo thêm động lực mới cho quan hệ ASEAN - Nga.
Quan hệ đối tác đối thoại ASEAN - Nga được thiết lập năm 1991 và được nâng cấp lên quan hệ Đối tác chiến lược năm 2018. Từ đó đến nay, quan hệ ASEAN - Nga tiếp tục phát triển tích cực trên tất cả các mặt.
Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga có ý nghĩa quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - Nga, củng cố cam kết chính trị, làm mới động lực hợp tác và xác định phương hướng chiến lược cho quan hệ ASEAN - Nga giai đoạn tới trên cả 3 trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội.
Hội nghị thể hiện cam kết chính trị ở cấp cao nhất của hai bên đối với mối quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - Nga, cho thấy sự coi trọng của Nga đối với vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cũng như sự coi trọng của ASEAN đối với vai trò và vị thế Nga ở khu vực và trên thế giới.
Đồng thời, hội nghị là biểu tượng minh chứng cho việc đối thoại và hợp tác luôn là phương thức hữu hiệu nhất đóng góp vào kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh và ổn định phục vụ cho phát triển.
Là "cầu nối" quan trọng giữa Nga và ASEAN, Việt Nam luôn là một trong những nước tích cực nhất ủng hộ Nga mở rộng quan hệ hợp tác với ASEAN. Việt Nam đã đưa ra nhiều sáng kiến, kiến nghị thúc đẩy quan hệ giữa Nga và ASEAN, ủng hộ Nga tham gia tích cực hơn các thể chế của ASEAN.
Việt Nam sẽ cùng các nước thúc đẩy cách tiếp cận thực chất, cân bằng và hướng tới kết quả cụ thể trong hợp tác ASEAN - Nga. Trọng tâm là khơi thông các lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác đầy đủ như thương mại, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, an ninh phi truyền thống, giáo dục, đào tạo, du lịch, giao lưu nhân dân và đặc biệt là năng lượng. Ngoài ra, Việt Nam cũng mong muốn góp phần mở rộng không gian hợp tác giữa ASEAN với khu vực Á - Âu.
Nhân dịp tham dự hội nghị, Thủ tướng Lê Minh Hưng dự kiến có cuộc hội kiến với Tổng thống Nga Vladimir Putin và làm việc với người đứng đầu Cộng hòa Tatarstan Rustam Minikhanov.
Đây sẽ là dịp quan trọng để truyền tải thông điệp của Chính phủ nhiệm kỳ mới về việc tiếp tục coi trọng và thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Nga; đồng thời trao đổi các định hướng lớn mang tính đột phá, trọng tâm hợp tác và các biện pháp tháo gỡ vướng mắc nhằm triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao đã đạt được.
Tin Gốc: Thanh Niên

