Hơn 5h sáng ngày đầu tháng 6, bà Lê Thị Nhung, 56 tuổi, cùng nhóm 5 người trong bản Háng, xã Giao An bắt đầu hành trình vào rừng tìm măng đắng. Mỗi người mang theo gùi, dao, thuổng và một ít thức ăn là xôi nếp nương hoặc cơm nắm muối vừng cho cả ngày lao động.
Từ bản đến khu vực có nhiều măng phải đi bộ khoảng 3-4 km qua các sườn núi và khe suối khúc khuỷu trên dãy Pù Rinh. Vào chính vụ từ tháng 3 đến tháng 6, việc lên rừng đào măng trở thành công việc thường ngày của nhiều hộ dân.
“Tầm này đang mùa giáp hạt nên trong bản nhiều người đi hái măng. Có hôm bà con đi như hội”, bà Nhung nói.
Bản Háng cách trung tâm xã Giao An gần 10 km, có hơn 100 hộ với gần 500 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Thái. Do diện tích đất sản xuất hạn chế, ngoài làm nương rẫy, người dân phụ thuộc khá nhiều vào nguồn lợi từ rừng như dược liệu, nấm, mật ong, cua đá và măng đắng… Trong số đó, măng đắng là một trong những sản vật mang lại thu nhập ổn định nhất vào mỗi đầu hè.
Theo người dân địa phương, măng đắng mọc tự nhiên dưới tán rừng trên núi Pù Rinh. Loại măng này có hình dáng tương tự măng luồng nhưng kích thước nhỏ hơn, khi ăn có vị đắng ban đầu rồi dần chuyển sang vị ngọt hậu đặc trưng.
Đến khu vực có măng, người đi rừng dùng thuổng nhỏ đào quanh gốc rồi tách từng búp măng khỏi đất. Những cây chưa đủ kích cỡ thường được để lại để tiếp tục phát triển hoặc trở thành cây mẹ cho mùa sau. “Chỉ lấy những cây đã đủ tuổi thu hoạch thôi còn măng nhỏ thì để lại cho năm tới”, bà Nhung cho hay.
Theo chị Lương Thị Sự, 39 tuổi, người dân trong bản đã duy trì cách khai thác này nhiều năm nhằm bảo vệ nguồn măng tự nhiên. “Cây măng đắng rất khỏe. Nếu khai thác đúng cách thì năm sau vẫn mọc đều”, chị Sự nói.
Ngoài đào măng, nhiều người còn tranh thủ tìm nấm rừng, hái các loại thảo dược, bắt cua đá hoặc lấy mật ong để tăng thêm thu nhập trong những tháng nông nhàn.
Theo người dân bản Háng, đầu vụ, măng đắng thường được thương lái thu mua với giá 40.000-50.000 đồng mỗi kg. Bước vào chính vụ như hiện nay, giá giảm còn khoảng 20.000-25.000 đồng mỗi kg. Những ngày đầu tháng 6, gần 20 người trong bản thường xuyên vào rừng lấy măng. Trung bình mỗi người thu được 10-20 kg một ngày.
Với mức giá hiện tại, thu nhập từ măng đạt khoảng 250.000-500.000 đồng mỗi ngày. Những hôm gặp khu vực nhiều măng, một lao động có thể thu về khoảng 600.000 đồng. Gia đình có hai hoặc ba người cùng đi rừng có thể kiếm hơn một triệu đồng mỗi ngày.
Sau khoảng 7-8h đi rừng, đầu buổi chiều, người dân bắt đầu gùi măng về bản để sơ chế và tiêu thụ. Măng sau khi thu hoạch thường được bóc bớt lớp bẹ ngoài rồi luộc ngay nhằm giữ độ tươi và vị ngọt tự nhiên.
Không chỉ là sản vật mang lại thu nhập, măng đắng còn gắn bó với đời sống ẩm thực của đồng bào Thái ở Giao An. Măng được chế biến thành nhiều món như luộc chấm chẻo, nướng trên than hồng, xào với thịt lợn bản hoặc nấu canh cùng cá suối.
Tại bản Háng, vợ chồng ông Phạm Văn Quyết và bà Đào Thị Lan là những người thu mua măng đắng lâu năm cho bà con trong vùng. Hơn 15 năm sinh sống tại đây, ngoài kinh doanh tạp hóa, gia đình ông còn thu gom măng để cung cấp cho các đầu mối ở địa phương.
Ông Quyết cho biết phần lớn sản lượng măng được tiêu thụ trong xã và các vùng lân cận. Do sản lượng khai thác không lớn nên măng đắng chủ yếu được bán theo hình thức nhỏ lẻ. “Măng đưa về đến đâu tiêu thụ gần hết đến đó, rất ít khi tồn hàng”, ông Quyết nói.
Dù mang lại nguồn thu đáng kể, nghề hái măng đắng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Địa hình núi Pù Rinh dốc, nhiều đoạn trơn trượt sau mưa. Người đi rừng thường gặp nguy cơ ngã, bị ong đốt hoặc côn trùng cắn… “Có hôm đi từ sáng đến chiều mới về, chân tay xây xát là chuyện bình thường”, bà Nhung cho biết.
Mùa măng đắng chỉ kéo dài khoảng bốn tháng trong năm. Đây là khoảng thời gian nhiều hộ tranh thủ tăng thu nhập trước khi bước vào các vụ sản xuất nông nghiệp tiếp theo.
Với nhiều gia đình ở bản Háng, những chuyến lên núi Pù Rinh mỗi sáng không chỉ là hoạt động khai thác lâm sản phụ mà còn là nguồn sinh kế quan trọng, góp phần cải thiện đời sống giữa vùng cao còn nhiều khó khăn.
Theo đó, thông tư quy định, đối tượng trọng dụng nhân tài là cán bộ chỉ huy, quản lý thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự phải đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện sau: có tư duy hệ thống và tầm nhìn đặc biệt xuất sắc trong phát hiện thách thức, thời cơ, dự báo xu hướng phát triển để tham mưu xây dựng và thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối về lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự.
Cạnh đó, đối tượng trọng dụng nhân tài phải có năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ đặc biệt xuất sắc, triển khai các giải pháp, biện pháp mới có tính sáng tạo, đột phá mang lại hiệu quả cao trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, có khả năng tiếp nhận, chuyển giao, nghiên cứu, phát triển làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nền, công nghệ tiên tiến để ứng dụng nhanh, hiệu quả trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hoặc có năng lực quản trị đặc biệt xuất sắc trong tổ chức thực hiện công tác kỹ thuật ở cấp mình; tham gia xây dựng, tư vấn, đánh giá phản biện về chính sách phát triển ngành, lĩnh vực, quốc gia.
Các đối tượng này cũng cần phải chủ trì tối thiểu 1 hoặc 2 và tham gia chính tối thiểu 2 công trình nghiên cứu khoa học hoặc phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích có tính chất đột phá về khoa học kỹ thuật và công nghệ, được cấp có thẩm quyền công nhận, áp dụng trong phạm vi cấp ngành, lĩnh vực hoặc toàn quân, có hiệu quả cao;
Ngoài ra, phải đạt từ hạng ba trở lên trong các hội thi uy tín cấp bộ, ngành, quốc gia hoặc quốc tế theo lĩnh vực công tác; đơn vị có mô hình, giải pháp, cách làm mới, sáng tạo về công tác khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự đạt hiệu quả cao.
Đối với nhân tài được trọng dụng là cán bộ, nhân viên chuyên môn trong hoạt động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện gồm: có năng lực đặc biệt xuất sắc trong nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khoa học giải quyết tốt các nhiệm vụ khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự khó khăn, phức tạp.
Chủ trì tối thiểu 2 hoặc 1 và tham gia chính tối thiếu 2 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đã được nghiệm thu, sản phẩm của nhiệm vụ được triển khai sản xuất loạt, đưa vào trang bị trong quân đội hoặc bằng độc quyền sáng chế, phát minh, giải pháp hữu ích được cấp có thẩm quyền công nhận, áp dụng vào sản xuất quốc phòng đạt hiệu quả cao; đạt từ hạng ba trở lên trong các hội thi uy tín cấp bộ, ngành, quốc gia hoặc quốc tế theo lĩnh vực công tác.
Với lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng, ngoài các tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện nêu trên, đồng thời phải có chứng chỉ quốc tế về công nghệ thông tin, an ninh mạng.
Đối với nhân tài được trọng dụng là cán bộ, nhân viên chuyên môn trong hoạt động sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật cần có năng lực đặc biệt xuất sắc trong thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật và công nghệ khó khăn, phức tạp của đơn vị; chủ trì tối thiểu 2 hoặc 1 và tham gia chính tối thiểu 2 nhiệm vụ kỹ thuật hoặc nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được nghiệm thu hoặc giải pháp hữu ích được cấp bằng độc quyền, sáng chế được cấp có thẩm quyền công nhận, áp dụng trong phạm vi cấp ngành, lĩnh vực hoặc toàn quân, đạt hiệu quả cao.
Đối với nhân tài là cán bộ, nhân viên chuyên môn trong công tác bảo đảm kỹ thuật đáp ứng các tiêu chí gồm: có năng lực đặc biệt xuất sắc thực hiện công tác bảo đảm kỹ thuật trong nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu;
Đồng thời, các đối tượng này cũng phải chủ trì tối thiểu 2 hoặc 1 và tham gia chính tối thiểu 2 nhiệm vụ kỹ thuật hoặc giải pháp hữu ích được cấp bằng độc quyền, sáng chế được cấp có thẩm quyền công nhận, áp dụng trong phạm vi cấp ngành, lĩnh vực hoặc toàn quân, đạt hiệu quả cao.
UBND TP.HCM yêu cầu thực hiện các nội dung trên trong tháng 5.2026. Đồng thời báo cáo kết quả triển khai, số liệu quản lý đàn chó, mèo, kết quả tiêm phòng, tình hình dịch bệnh, cùng các khó khăn, vướng mắc…
Trước đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo các cơ quan trực thuộc khẩn trương tổ chức triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả các giải pháp phòng chống bệnh dại.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025 và từ đầu năm 2026 đến nay, bệnh dại vẫn diễn biến đáng lo ngại trên phạm vi cả nước. Số người tử vong tiếp tục ở mức cao, với 77 ca trong năm 2025 và 30 ca từ đầu năm 2026 đến nay. Một số địa phương vẫn ghi nhận ca bệnh trên cả người và động vật.
Theo thông tin từ Ban Lễ tang, ông từ trần lúc 14h ngày 26/4 (tức 10/3 năm Bính Ngọ) tại nhà riêng trên đường Huyền Trân Công Chúa, phường Bàn Thạch, TP Đà Nẵng.
Lễ viếng bắt đầu từ 9h ngày 27/4, lễ truy điệu tổ chức lúc 16h ngày 29/4. Lễ di quan diễn ra lúc 8h ngày 30/4, sau đó hỏa táng tại Đài hóa thân An Phước Viên, TP Đà Nẵng.
Ban Tổ chức Lễ tang gồm 16 thành viên, do Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Lê Ngọc Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, làm Trưởng ban.
Ông Vũ Ngọc Hoàng sinh năm 1953, quê xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (cũ). Trong quá trình công tác, ông từng giữ các chức vụ như Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 10, 11; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam; Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương.
Lúc sinh thời, ông Vũ Ngọc Hoàng được biết đến là người có nhiều trăn trở về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt trong hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và công tác cán bộ. Ông nhấn mạnh yêu cầu lựa chọn, sử dụng cán bộ dựa trên năng lực, hiệu quả công việc và cạnh tranh lành mạnh.
Ông nhiều lần đề cập vai trò nêu gương của người đứng đầu, cho rằng đội ngũ lãnh đạo cần giữ gìn phẩm chất, đề cao trách nhiệm, đồng thời chủ động đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy.
Trong các ý kiến đóng góp, ông cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa đổi mới và kiểm soát quyền lực, yêu cầu hoàn thiện cơ chế giám sát, bảo đảm quyền lực được thực thi đúng quy định, gắn với trách nhiệm giải trình. Bên cạnh yếu tố thể chế, ông đề cao vai trò của đạo đức công vụ, coi đây là nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân.
Trong quá trình công tác tại khu vực miền Trung, ông tham gia vào giai đoạn chuẩn bị cho việc tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng năm 1997, góp phần hình thành TP Đà Nẵng trực thuộc Trung ương, tạo điều kiện để hai địa phương phát triển theo định hướng riêng.
Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huy hiệu 30, 40, 45 năm tuổi Đảng; Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba; Huy chương "Vì sự nghiệp Văn hóa quần chúng"; Huy chương "Vì sự nghiệp Lao động - Thương binh và Xã hội"; Huy chương "Vì sự nghiệp Thanh tra Việt Nam"; Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Đông Y"; Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Bảo hiểm xã hội" và nhiều bằng khen, giấy khen khác.