Chủ trương tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập các đơn vị sự nghiệp công lập đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Đối với ngành giáo dục, đây không chỉ là câu chuyện giảm đầu mối quản lý hay thực hiện chủ trương chung của Chính phủ, mà còn là cơ hội hiếm có để tái cấu trúc hệ thống trường học theo hướng hiệu quả hơn, hiện đại hơn và quan trọng nhất là phục vụ người học tốt hơn.
Tuy nhiên nếu việc sáp nhập chỉ dừng lại ở việc đổi tên trường, gộp đầu mối hành chính hoặc sắp xếp lại nhân sự thì chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội giải quyết những “nút thắt” đã tồn tại nhiều năm trong giáo dục phổ thông.
Là một giáo viên tiểu học trực tiếp đứng lớp, điều tôi trăn trở nhất không phải là trường có bao nhiêu cán bộ quản lý, mà là mỗi ngày vẫn có những lớp học với 45-50 học sinh.
Trong một phòng học diện tích chỉ hơn 50m², việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018 gặp rất nhiều trở ngại. Muốn tổ chức hoạt động nhóm, giáo viên phải mất nhiều thời gian di chuyển bàn ghế. Muốn đến từng bàn hướng dẫn học sinh, lối đi quá hẹp. Muốn quan tâm nhiều hơn đến những em tiếp thu chậm, thời gian lại không cho phép vì còn gần năm mươi học sinh khác đang chờ được hỗ trợ.
Trong khi chương trình mới đặt trọng tâm vào phát triển phẩm chất, năng lực, tăng cường trải nghiệm, hợp tác và cá thể hóa việc học thì thực tế lớp học đông khiến không ít giáo viên buộc phải quay về phương pháp giảng dạy theo lối truyền đạt một chiều để kịp tiến độ.
Một lớp học khoảng 30-35 học sinh sẽ tạo ra sự khác biệt rất lớn. Giáo viên có nhiều thời gian quan tâm từng em hơn. Học sinh có nhiều cơ hội phát biểu, thực hành và trải nghiệm hơn. Những em còn hạn chế về năng lực cũng được hỗ trợ kịp thời, thay vì bị “chìm” trong một lớp học quá đông.
Điều đáng suy nghĩ là trong khi nhiều trường thiếu phòng học để tách lớp, thì vẫn có những phòng làm việc hành chính được sử dụng với tần suất không cao, nếu không muốn nói là lãng phí.
Đó là nghịch lý cần được nhìn nhận khi bàn về sáp nhập trường học.
Khi các địa phương thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và nhiều trường có thể được tổ chức lại theo quy mô lớn hơn, giáo dục cũng cần mạnh dạn nghiên cứu những mô hình quản trị mới, thay vì chỉ duy trì cách tổ chức cũ.
Theo quan điểm cá nhân của tôi, đối với những địa phương có điều kiện phù hợp, đặc biệt là khu vực đô thị nơi các điểm trường nằm gần nhau, ngành giáo dục có thể nghiên cứu hoặc thí điểm mô hình một hiệu trưởng phụ trách toàn hệ thống trường trên cùng địa bàn; mỗi điểm trường bố trí một phó hiệu trưởng trực tiếp điều hành hoạt động hằng ngày. Đây không phải là đề xuất nhằm giảm vai trò của đội ngũ quản lý.
Ngược lại, mục tiêu là phân cấp rõ hơn, giảm tầng nấc trung gian và sử dụng nguồn lực đúng nơi đang cần nhất.
Nếu bộ máy quản lý được tinh gọn hợp lý, nhiều phòng làm việc có thể được cải tạo thành phòng học. Chỉ cần mỗi điểm trường có thêm hai hoặc ba phòng học, nhiều trường sẽ có điều kiện tách lớp, giảm sĩ số xuống mức hợp lý hơn. Đó là lợi ích mà học sinh có thể cảm nhận được ngay.
Tất nhiên mô hình một hiệu trưởng quản lý nhiều điểm trường không phải phù hợp với mọi địa phương, cần có nghiên cứu, đánh giá và thí điểm ở những nơi đáp ứng đủ điều kiện.
Một vấn đề khác cũng cần được nhìn nhận là bài toán nhân sự. Sau quá trình sắp xếp, chắc chắn sẽ có sự điều chỉnh về đội ngũ quản lý. Theo tôi, đây không nên được xem là khó khăn, mà nên được coi là cơ hội để tăng cường lực lượng trực tiếp làm chuyên môn.
Phần lớn cán bộ quản lý trường học đều trưởng thành từ giáo viên. Họ hiểu nghề, hiểu học sinh và có kinh nghiệm sư phạm. Nếu trong quá trình sắp xếp có những vị trí quản lý không còn phù hợp, việc bố trí trở lại giảng dạy hoặc đảm nhiệm các nhiệm vụ chuyên môn sẽ giúp bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cho nhà trường.
Quan trọng hơn, giáo dục cần nâng cao vai trò của đội ngũ tổ trưởng chuyên môn. Họ là những người hiểu rõ nhất chương trình, học sinh và những khó khăn trong từng tiết dạy.
Theo tôi, tổ trưởng chuyên môn chỉ thật sự phát huy vai trò khi vẫn duy trì việc giảng dạy thường xuyên. Bởi chỉ khi mỗi ngày vẫn đứng trên bục giảng, vẫn trực tiếp hướng dẫn học sinh, vẫn đối diện với những khó khăn của lớp học đông, của học sinh có năng lực khác nhau, họ mới có thể đưa ra những giải pháp sát thực tiễn.
Đổi mới giáo dục sẽ không thể thành công nếu người làm công tác chuyên môn ngày càng xa lớp học. Tinh gọn bộ máy vì thế không nên chỉ là giảm số lượng đầu mối, mà cần chuyển mạnh nguồn lực từ quản lý sang phục vụ hoạt động dạy và học.
Giáo dục là lĩnh vực đặc biệt. Mỗi quyết định về tổ chức bộ máy cuối cùng đều phải trả lời một câu hỏi rất giản dị: Học sinh có được hưởng lợi hay không? Đó mới là mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc cải cách.
Nếu sau sáp nhập, học sinh vẫn học trong những lớp có gần năm mươi em, giáo viên vẫn chật vật giữa những phòng học chật hẹp, còn nguồn lực vẫn chủ yếu dành cho quản lý thay vì lớp học thì mục tiêu của cuộc cải cách sẽ chưa trọn vẹn.
Đó là nội dung đáng chú ý của quyết định phê duyệt Chương trình hỗ trợ đào tạo sau ĐH gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030 vừa được ĐH Quốc gia TP.HCM ban hành. Chương trình được triển khai trong giai đoạn 2026-2030, hướng tới xây dựng hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo theo chuẩn quốc tế, đồng thời hình thành đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao cho đất nước.
Mục tiêu chung của chương trình nhằm thu hút và phát triển nguồn nhân lực sau ĐH theo định hướng gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; tạo môi trường học tập, nghiên cứu thuận lợi để người học phát huy năng lực học thuật, từ đó góp phần nâng cao năng lực công bố quốc tế và khẳng định vị thế nghiên cứu của ĐH Quốc gia TPHCM trong khu vực và thế giới.
Trong giai đoạn 2026-2030, ĐH này đặt mục tiêu thu hút người học sau ĐH, hướng tới tỷ lệ người học sau ĐH gồm kỹ sư chuyên sâu, thạc sĩ và tiến sĩ chiếm tối thiểu 30% tổng số người học. Trong đó, nghiên cứu sinh đóng góp 40% số lượng người học sau ĐH. Chương trình đồng thời thúc đẩy đào tạo sau ĐH gắn với nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, góp phần gia tăng số lượng và nâng cao chất lượng công bố quốc tế ISI/Scopus, văn bằng bảo hộ tài sản trí tuệ và sản phẩm chuyển giao.
Chương trình được triển khai trên toàn hệ thống, đối tượng tham gia là học viên và nghiên cứu sinh đang học tập tại các cơ sở đào tạo thuộc ĐH Quốc gia TP.HCM, bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài.
Người tham gia chương trình phải học tập và nghiên cứu toàn thời gian, cam kết tốt nghiệp đúng thời gian đào tạo tiêu chuẩn; đáp ứng yêu cầu về kết quả học tập, năng lực nghiên cứu và chuẩn đầu ra theo quy định của ĐH Quốc gia TP.HCM và cơ sở đào tạo. Luận văn, luận án phải gắn với định hướng nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã đăng ký. Đồng thời, người học phải tuân thủ các quy định pháp luật, quy định của ĐH Quốc gia TP.HCM, không bị kỷ luật từ mức khiển trách trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, đánh giá định kỳ theo yêu cầu của chương trình.
Chương trình được thiết kế như một cơ chế hỗ trợ đào tạo sau ĐH có tính tích hợp, trong đó người học được tham gia vào môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp với định hướng rõ ràng và điều kiện thuận lợi để phát triển học thuật. Người học là thành viên của nhóm nghiên cứu, trực tiếp thực hiện các nội dung nghiên cứu; kết quả luận văn, luận án đồng thời là một phần kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Theo kế hoạch triển khai chương trình, ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ công bố công khai trên cổng thông tin của chương trình danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có gắn với đào tạo sau ĐH cùng nhu cầu tuyển học viên, nghiên cứu sinh; đồng thời thiết lập cơ chế kết nối trực tiếp giữa người học với chủ nhiệm và người hướng dẫn.
Song song đó, chương trình tăng cường hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với các nhóm nghiên cứu mạnh trong và ngoài nước, cũng như thúc đẩy kết nối với doanh nghiệp để phát triển các sản phẩm nghiên cứu có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.
Đáng chú ý, mức hỗ trợ tối đa dành cho nghiên cứu sinh lên đến 560 triệu đồng/người; đối với học viên là 160 triệu đồng/người theo thời gian chuẩn của chương trình đào tạo tương ứng. Người học cam kết học tập và nghiên cứu toàn thời gian, được hỗ trợ kinh phí theo tháng hoặc theo thỏa thuận với nhóm nghiên cứu, tổ chức chủ trì.
Các cơ sở đào tạo thuộc ĐH này có trách nhiệm tổ chức tuyển sinh, phối hợp đào tạo và quản lý người học; chủ động huy động nguồn lực đối ứng, ký kết cam kết trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo - chủ nhiệm nhiệm vụ - người học. Trong trường hợp người học vi phạm cam kết, bỏ học hoặc bị buộc thôi học, người học và cơ sở đào tạo phải thực hiện trách nhiệm bồi hoàn kinh phí theo quy định của pháp luật.
Việc triển khai Chương trình hỗ trợ đào tạo sau ĐH là một trong những bước cụ thể hóa định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Thông báo kết luận số 45-TB/TGV ngày 30.9.2025 của Tổ giúp việc Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 21/7 cho biết phát hiện một số tồn tại về dữ liệu điểm học bạ, phiếu đăng ký, minh chứng ưu tiên và chứng chỉ ngoại ngữ... khi rà soát trên hệ thống tuyển sinh.
Cụ thể, với minh chứng ưu tiên và chứng chỉ ngoại ngữ, hơn 125.000 em chưa được duyệt. Hơn 2.600 dữ liệu khu vực ưu tiên của thí sinh cần rà soát. Ngoài ra, hàng chục nghìn trường hợp có điểm môn Ngoại ngữ, Ngoại ngữ 2 trong học bạ nhưng không có mã môn này.
Để đảm bảo chính xác trong xét tuyển, Bộ đề nghị các địa phương rà soát, cập nhật dữ liệu, hoàn thành trước 17h ngày 24/7. Bộ lưu ý việc này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác xét tuyển của trường đại học và kết quả của thí sinh.
Đại diện tuyển sinh của một số trường cho biết đây là khâu quan trọng. Như năm ngoái, có trường phát hiện một số thí sinh dùng chứng chỉ ngoại ngữ giả sau khi xét tuyển xong, nên phải hủy kết quả.
Bộ cũng đề nghị các địa phương cập nhật kết quả của nhóm bị kỷ luật trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hoặc nhóm phúc khảo, dẫn đến thay đổi điểm thi.
"Tuyệt đối không để chậm muộn, để sót đơn thư của thí sinh", Bộ nêu.
Theo kế hoạch, các đại học sẽ tổ chức xét tuyển, xử lý nguyện vọng từ ngày 4 đến 9/8 với 6 lần lọc ảo. Sau đó, các trường rà soát để công bố điểm chuẩn sau 17h ngày 10/8.
Theo kế hoạch số 272 về triển khai sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường chuyên biệt công lập trên địa bàn, TP Hà Nội dự kiến giữ nguyên 124 trường THPT công lập hiện có.
TP cũng xác định tiếp tục rà soát, đầu tư cơ sở vật chất nhằm tăng quy mô lớp học, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh tại từng khu vực.
Thống kê hiện trạng quy hoạch mạng lưới trường, lớp, học sinh, giáo viên tiểu học năm học 2025-2026 của Sở GD&ĐT Hà Nội cho thấy với 124 trường THPT công lập, toàn thành phố có 5.153 lớp với 228.377 học sinh. Số cán bộ quản lý của 124 trường này là 367, số giáo viên là 9.229 và 1.180 nhân viên.
Đáng chú ý, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Hà Nội có 126 xã, phường, nhưng chỉ hơn 90 xã, phường có trường THPT công lập.
Số liệu cho thấy sự phân bổ trường THPT công lập giữa các xã, phường không đồng đều. Phường Hà Đông hiện có nhiều trường THPT công lập nhất với 3 trường, 124 lớp và 5.373 học sinh.
Nhóm có 2 trường THPT công lập gồm nhiều địa bàn như phường Cửa Nam, phường Giảng Võ, phường Hoàng Mai, phường Yên Hòa, phường Đống Đa, phường Ô Chợ Dừa, xã Thư Lâm, xã Quốc Oai, xã Sóc Sơn, xã Gia Lâm, xã Mỹ Đức, xã Tây Phương, xã Quang Minh. Trong khi đó, phần lớn các xã, phường chỉ có một trường THPT công lập.
Nhiều trường có quy mô học sinh lớn. Ngoài Hà Đông, các địa bàn như phường Cửa Nam có 4.947 học sinh, phường Yên Hòa 4.475 học sinh, phường Hoàng Mai có 4.258 học sinh, phường Đống Đa có 4.162 học sinh.
Theo số liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, năm học 2026-2027, toàn thành phố có 102.243 học sinh trúng tuyển vào các trường công lập, tương ứng hơn 80% số thí sinh dự thi.
Theo công văn số 777 ngày 10/7, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương sắp xếp lại hệ thống trường mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập. Mục tiêu chung là giảm ít nhất 30% số trường hoạt động độc lập so với ngày 1/7/2025; nơi có điều kiện giảm 50%.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương hoàn thành việc sắp xếp trường học trước ngày 30/8 và báo cáo kết quả với Thủ tướng trước ngày 6/9.