Theo báo cáo tài chính vừa công bố, Công ty cổ phần Đầu tư Thế Giới Di Động (MWG) có doanh thu gần 46.662 tỷ đồng, tăng hơn 29% so với cùng kỳ. Đây là mức doanh thu hàng quý lớn nhất lịch sử hoạt động của MWG.
Giá vốn tăng chậm hơn doanh thu. Lợi nhuận gộp cải thiện 35% lên khoảng 9.710 tỷ đồng. Biên lãi gộp kỳ này ghi nhận 20,8%.
Song song đó, công ty cũng có gần 858 tỷ đồng doanh thu tài chính, cao hơn cùng kỳ gần 24%. Chủ yếu trong số này là lãi tiền gửi, cho vay và trái phiếu. Đến cuối tháng 3, công ty có 25.875 tỷ đồng gửi ngân hàng, 14.530 tỷ đồng đầu tư trái phiếu và 7.316 tỷ đồng cho vay với các công ty đối tác.
So với kỳ trước, tổng chi phí thường xuyên của MWG tăng lên hơn 21%. Các khoản chiếm tỷ trọng cao nhất là chi phí nhân viên, dịch vụ mua ngoài và lãi vay. Tuy nhiên, chi phí vẫn còn thấp so với số tiền công ty thu về.
Tổng lại, Thế Giới Di Động có lợi nhuận sau thuế gần 2.758 tỷ đồng, tăng 78% so với quý I/2025. Đây là mức lãi đậm nhất mà doanh nghiệp này có được trong ba tháng. Trung bình mỗi ngày, họ lãi hơn 30 tỷ đồng. Kết quả trên giúp lợi nhuận lũy kế của MWG đang đạt gần 20.783 tỷ đồng.
Ban lãnh đạo cho biết doanh thu tăng là một trong những động lực chính giúp cải thiện lợi nhuận. Trong đó, Công ty cổ phần Đầu tư Điện Máy Xanh – công ty con vận hành hai chuỗi bán lẻ điện thoại – thiết bị điện tử và điện máy – dù không mở mới, vẫn đạt tăng trưởng doanh thu 34%. Mức này cao hơn tăng trưởng chung của ngành.
Các ngành hàng chính đều ghi nhận mức tăng về doanh thu 15-65%. Doanh thu từ mua trả chậm cao hơn cùng kỳ 50% với tỷ lệ sản phẩm áp dụng chính sách bán hàng này đạt 97%. Erablue – chuỗi bán lẻ điện máy liên doanh tại Indonesia – mang về doanh thu gấp đôi cùng kỳ với 117 cửa hàng mới và đạt mức tăng trưởng cửa hàng hiện hữu khoảng 25%. Chuỗi này cũng đã đóng góp lợi nhuận cho MWG.
Với Bách Hóa Xanh, doanh thu duy trì mức tăng trưởng 19% nhờ mở mới 280 cửa hàng trong quý I và tối ưu chi phí tại các cửa hàng hiện hữu. Chuỗi này ghi nhận lợi nhuận quý đầu năm cải thiện mạnh nhưng MWG không tiết lộ con số cụ thể.
Năm nay, mục tiêu của Thế Giới Di Động là đạt doanh thu 185.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 9.200 tỷ đồng. Kế hoạch lãi tăng 30%, cao gần gấp đôi mức tăng doanh thu (18%), cho thấy họ dồn trọng tâm vào tối ưu hiệu quả và biên lợi nhuận giai đoạn tái cấu trúc. Sau quý I, công ty đã hoàn thành lần lượt hơn 25% và gần 30% đối với hai chỉ tiêu kể trên.
Năm nay, doanh nghiệp tiếp tục tập trung vào mảng bán lẻ – lĩnh vực cốt lõi, đồng thời tối ưu dòng tiền khi điều kiện thuận lợi. Mảng công nghệ – điện máy tiếp tục là trụ đỡ tăng trưởng cho Thế Giới Di Động, trong đó sản phẩm Apple giữ vai trò then chốt khi đóng góp hơn 40% doanh thu ICT. Sau khi đạt trên 800 triệu USD năm 2025, công ty hướng tới mốc 1 tỷ USD vào 2027, dựa trên việc duy trì thị phần lớn và củng cố hợp tác với hãng.
Mảng bán lẻ thực phẩm và hàng tiêu dùng được kỳ vọng là động lực tăng trưởng kế tiếp với mục tiêu doanh thu tăng 20%. Ban lãnh đạo tỏ ra thận trọng khi chuỗi này vừa chuyển sang giai đoạn tạo lợi nhuận, với dự kiến doanh thu từ các cửa hàng hiện hữu tăng 10% để làm nền tảng mở rộng quy mô.
Tin Gốc: Vnexpress

Diễn biến này đặt ra câu hỏi: liệu thị trường còn phản ánh đúng giá trị nội tại của doanh nghiệp hay đang bị chi phối bởi những yếu tố khác?
Ông Trần Trương Mạnh Hiếu, Trưởng phòng phân tích chiến lược chứng khoán KIS Việt Nam, cho biết đặc điểm nổi bật của thị trường chứng khoán Việt Nam là tỉ trọng giao dịch của nhà đầu tư cá nhân chiếm ưu thế, dao động khoảng 80%.
Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư cá nhân giao dịch theo tin tức ngắn hạn, chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố cảm xúc và hành vi thay vì nghiên cứu sâu về nội tại doanh nghiệp. Bởi vậy nhiều cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt, lợi nhuận ổn định nhưng lại không tăng giá tương xứng hoặc chịu áp lực điều chỉnh "vô cớ".
Ngược lại, một số nhóm cổ phiếu lại ghi nhận mức tăng đáng kể trong thời gian ngắn, dù kết quả kinh doanh chưa thực sự có đột phá tương ứng hoặc định giá đã quá cao. Sự lệch pha này cho thấy yếu tố nội tại doanh nghiệp không còn là biến số duy nhất trong việc định giá cổ phiếu.
"Nhiều người có tâm lý vừa mua xong là cổ phiếu phải tăng ngay, sau T+2 tài khoản phải có lãi 5-7%. Nếu cổ phiếu đi ngang, họ dễ chán nản và bán ra" - ông Trương Hiền Phương, Giám đốc cấp cao chứng khoán KIS Việt Nam, bổ sung.
Cũng bởi vậy, các cổ phiếu có mức biến động thấp dù doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, lại khó thu hút dòng tiền ngắn hạn. Ngược lại, dòng tiền thường đổ vào các mã đang "có sóng", bất chấp rủi ro định giá quá cao.
"Hệ quả khi dòng tiền đầu cơ rút đi, giá cổ phiếu có thể rơi vào trạng thái đi ngang kéo dài, dù doanh nghiệp vẫn duy trì kết quả kinh doanh sau đó có tích cực", ông Phương nêu thực tế.
Một xu hướng khác là việc nhiều nhà đầu tư giao dịch theo tin tức ngắn hạn, thậm chí theo từng diễn biến trong ngày. Lấy ví dụ ở nhóm ngành dầu khí, khi xuất hiện thông tin giá dầu thế giới tăng do căng thẳng Trung Đông, không ít nhà đầu tư ngay lập tức "đua lệnh" mua vào các cổ phiếu nhóm "P" mà chưa phân tích cụ thể từng doanh nghiệp.
Ông Dominic Scriven - Chủ tịch Dragon Capital, chuyên gia lâu năm trên thị trường tài chính Việt Nam - nhấn mạnh thị trường chịu tác động từ nhiều yếu tố khó lường bên ngoài, như các tuyên bố chính sách đột ngột từ lãnh đạo các nền kinh tế lớn, điển hình là Mỹ.
"Nhưng tôi khuyên các nhà đầu tư trong hoàn cảnh này cần tránh việc sáng đọc báo, lướt tin đã vội đặt lệnh" - ông Scriven nhấn mạnh, đồng thời lưu ý nhà đầu tư cần giữ sự bình tĩnh, tránh tham gia thị trường khi chưa có đánh giá và dự báo đủ chắc chắn.
Nhìn chung, chính sự kết hợp giữa tâm lý giao dịch theo tin tức, dòng tiền ngắn hạn và các yếu tố bất định từ bên ngoài đang góp phần làm gia tăng tình trạng lệch pha giữa giá cổ phiếu và giá trị thực của doanh nghiệp trên thị trường.
Bà Trần Thị Khánh Hiền - Giám đốc khối phân tích chứng khoán MB (MBS) - nói việc giá cổ phiếu bị dòng tiền "cuốn" đi và lệch khỏi giá trị nội tại là hiện tượng phổ biến, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều thị trường trên thế giới. Điều này có thể xảy ra với cả doanh nghiệp lớn lẫn doanh nghiệp nhỏ.
Trong những giai đoạn dòng tiền mạnh, yếu tố định giá có thể bị "bỏ qua" trong ngắn hạn. Tuy nhiên khi dòng tiền đảo chiều, giá cổ phiếu thường có xu hướng điều chỉnh trở lại vùng hợp lý hơn, theo bà Hiền.
Một sai lầm phổ biến là nhà đầu tư mua cổ phiếu theo "sóng" hoặc tin tức nhưng khi giá giảm lại không chấp nhận cắt lỗ mà chuyển sang kỳ vọng dài hạn dựa trên yếu tố cơ bản. Điều này dễ khiến khoản đầu tư ngắn hạn biến thành "gồng lỗ" kéo dài.
Đáng lưu ý, ngay cả những cổ phiếu có nền tảng tốt cũng không nằm ngoài quy luật này. Khi bị đẩy lên mức định giá quá cao so với nội tại, các cổ phiếu này vẫn có thể điều chỉnh mạnh khi dòng tiền rút đi.
Song tựu trung, theo bà Hiền, trong ngắn hạn giá cổ phiếu có thể chịu tác động lớn từ kỳ vọng và dòng tiền. Tuy nhiên về dài hạn, giá trị nội tại của doanh nghiệp vẫn là yếu tố cốt lõi quyết định xu hướng bền vững của cổ phiếu.
Một chuyên gia lâu năm trên thị trường chứng khoán lý giải: lâu nay nhiều thành viên diễn đàn chứng khoán thường nói vui "Cổ phiếu không có lái... rất nhạt".
"Cách nói vui nhưng không phải không thực tế" - vị này cho hay, hoạt động "làm giá" cổ phiếu là có. Dẫn chứng rõ thấy nhất vừa qua cơ quan quản lý nhà nước liên tiếp xử phạt hàng loạt trường hợp thao túng cổ phiếu, có vụ còn chuyển sang hình sự.
Quy trình này thường bắt đầu bằng việc các "đội lái" tích lũy cổ phiếu. Khi đã gom đủ hàng và bắt đầu đẩy giá, họ có thể phối hợp với chính người nội bộ doanh nghiệp để tung ra các thông tin tích cực nhằm hỗ trợ đà tăng.
"Một dấu hiệu nhận biết phổ biến là khi giá cổ phiếu tăng mạnh đi kèm với dồn dập các tin tốt, đây có thể là giai đoạn "hiện thực hóa lợi nhuận" của các nhóm này. Ngược lại, khi giá giảm, các thông tin tích cực cũng dần biến mất do không còn động lực duy trì", chuyên gia này phân tích.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hải Phòng dẫn đầu tăng trưởng kinh tế nửa đầu năm ra sao?

9 trong 34 tỉnh, thành phố ghi nhận GRDP tăng trên 10% trong nửa đầu năm, theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính). Hà Tĩnh dẫn đầu với 12,79%, tiếp theo là Ninh Bình 11,44%, Hải Phòng 11,33% và Quảng Ninh 11,11%. Nhóm còn lại gồm Hưng Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Tây Ninh và Thái Nguyên.
Trong số này, chỉ có Hà Tĩnh, Ninh Bình và Tây Ninh vượt mục tiêu tăng trưởng đề ra. Ngược lại, 4 tỉnh, thành phố GRDP đạt dưới 7%, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ giữa các vùng.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực của nhóm dẫn đầu. Với mức tăng 24,25%, khu vực công nghiệp - xây dựng đã đóng góp 9,4 điểm phần trăm vào GRDP, đưa Hà Tĩnh vươn lên dẫn đầu cả nước. Đà bứt phá này gắn với loạt dự án quy mô lớn được vận hành, tăng tốc triển khai như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, nhà máy sản xuất xe máy điện VinFast, hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà, Gia Lách mở rộng...
Nhóm tăng trưởng hai chữ số còn có Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên và Thái Nguyên. Đây đều là những thủ phủ công nghiệp, thu hút FDI hàng đầu cả nước nhờ thế mạnh sản xuất thiết bị điện tử. Theo số liệu của Cục Thống kê, sản xuất công nghiệp tại Bắc Ninh, Thái Nguyên tăng gần 20%; trong khi Hải Phòng thu hút 3 tỷ USD vốn FDI 6 tháng đầu năm - gấp gần 1,8 lần cùng kỳ.
Cùng với công nghiệp, dịch vụ ngày càng thể hiện rõ đóng góp vào tăng trưởng của nhiều địa phương. 6 tháng qua, du lịch của Ninh Bình ghi nhận phục hồi mạnh khi đón 17,6 triệu lượt khách, với doanh thu gần 18.000 tỷ đồng.
Quảng Ninh tiếp tục kết hợp giữa công nghiệp và du lịch để duy trì mức tăng trưởng trên 11%, trong khi Hải Phòng cũng hưởng lợi từ hoạt động vận tải, kho bãi và thương mại nhờ lợi thế cảng biển.
Dù giữ vai trò đầu tàu đóng góp khoảng một phần ba quy mô nền kinh tế, Hà Nội và TP HCM vẫn chưa đạt kịch bản tăng trưởng hai chữ số trong 6 tháng đầu năm. Nhờ khu vực dịch vụ bứt phá cùng sự phục hồi của công nghiệp - xây dựng, GRDP của TP HCM tăng 8,55% (mức cao nhất một thập kỷ), còn Hà Nội đạt 8,22%.
Ở chiều ngược lại, các địa phương tăng trưởng thấp vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, một số ngành đơn lẻ và yếu tố khách quan (thời tiết, chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ), theo Cục Thống kê. Trong đó, 4 tỉnh, thành phố GRDP đạt dưới 7%, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ giữa các vùng.
Sơn La đứng cuối bảng xếp hạng với GRDP chỉ tăng 6,02% (mục tiêu cả năm 8%) do sản lượng thủy điện sụt giảm. Việc thi công dự án mở rộng Quốc lộ 6 bị kéo dài đã ảnh hưởng tới lưu thông hàng hóa, du lịch của địa phương này. Tuy vậy, tỉnh vẫn thu hút được 22 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 43.000 tỷ đồng, gấp 5 lần cùng kỳ. Địa phương đặt mục tiêu thu hút hơn 50.000 tỷ đồng vốn trong nửa cuối năm, góp phần vào kế hoạch đạt GRDP 8% năm nay.
Thanh Hóa xếp thứ 28 trong 34 địa phương với GRDP tăng 7,21%, chưa đạt kịch bản đề ra. Để bù đắp tăng trưởng, tỉnh đặt mục tiêu đưa 15 dự án với tổng vốn hơn 35.000 tỷ đồng vào vận hành trong những tháng cuối năm, tập trung ở các ngành luyện cán thép, hóa chất, cảng container và trung tâm thương mại.
Tính chung, GDP 6 tháng của cả nước đạt 8,18%, cao hơn mức 7,63% cùng kỳ năm ngoái. Đây cũng là mức cao nhất trong nhiều nhiệm kỳ gần đây. Dù vậy, áp lực hoàn thành mục tiêu cả năm rất lớn.
Tại cuộc họp Chính phủ đầu tháng này, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đánh giá kết quả nửa đầu năm chưa như kỳ vọng khi nhiều địa phương còn cách khá xa mục tiêu và giải ngân vốn đầu tư công còn chậm. Bộ Tài chính cho biết, nếu tỷ lệ giải ngân trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 50% thay vì gần 35% hiện nay, tăng trưởng GDP có thể cao hơn khoảng 0,4 điểm phần trăm.
Việt Nam đặt mục tiêu GDP đạt từ 10% năm nay, Chính phủ đã giao chỉ tiêu GRDP cho từng địa phương tại Nghị quyết 168 và 169. Theo kịch bản, Hải Phòng và Quảng Ninh được giao chỉ tiêu cao nhất (13%). Tiếp đến là Bắc Ninh, Hưng Yên, Đà Nẵng, Hà Nội, Nghệ An, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên, TP HCM và Hà Tĩnh.
Đầu tư công được Chính phủ xác định giữ vai trò dẫn dắt, kích hoạt dòng vốn tư nhân và FDI, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh. Nguồn tiền này giúp nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội, hỗ trợ tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo tính toán, giai đoạn 2021-2025, vốn đầu tư công giải ngân tăng 1%, GDP có thể thêm 0,058 điểm phần trăm.
Vì thế, bên cạnh động lực tăng trưởng hiện hữu, nhiều tỉnh thành đang dồn lực giải ngân vốn đầu tư công thông qua tháo gỡ nút thắt giải phóng mặt bằng, môi trường kinh doanh, hạ tầng. Chẳng hạn, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các dự án năng lượng theo Quy hoạch điện VIII, phát triển khu kinh tế Vũng Áng thành trung tâm công nghiệp nặng, và tăng kết nối với cửa khẩu Cầu Treo, hành lang kinh tế Đông - Tây, hệ thống cảng biển nước sâu.
Ninh Bình đặt mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công, hoàn thiện hạ tầng các cụm công nghiệp để hút vốn công nghệ cao. Tại Đà Nẵng - địa phương dẫn đầu tăng trưởng khu vực Nam Trung Bộ, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định tăng giải ngân vốn đầu tư công và dự án trọng điểm là nhiệm vụ trọng tâm của thành phố.
Trong khi đó, lãnh đạo Hà Nội, TP HCM đều đặt mục tiêu tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch, môi trường đầu tư và hạ tầng... để tăng trưởng hai chữ số trong nửa cuối năm. Theo tính toán của Bộ Tài chính, cứ mỗi 1% tăng trưởng của Hà Nội và TP HCM sẽ đóng góp gần 0,4 điểm phần trăm vào GDP cả nước.
Với Đăk Lăk, áp lực nửa cuối năm rất lớn khi phải đạt 11,65% để hoàn thành chỉ tiêu cả năm (10,02%). Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk Đỗ Hữu Huy cho biết tỉnh sẽ xử lý các nút thắt, tháo gỡ hơn 300 dự án tồn đọng. Tỉnh cũng áp dụng cơ chế "luồng xanh" rút ngắn một nửa thời gian thủ tục cho dự án năng lượng, hạ tầng công nghiệp, logistics.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng, trong cùng điều kiện phát triển vẫn có những địa phương đạt tăng trưởng rất cao, cho thấy dư địa thực hiện còn lớn. Ông yêu cầu các bộ, ngành và địa phương rà soát kịch bản tăng trưởng từng quý, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, và kích cầu tiêu dùng, xuất khẩu nhằm đảm bảo nguồn lực phát triển.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Tin Gốc: Vnexpress

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết trong cuộc trao đổi với Tuổi trẻ về chủ đề biến dữ liệu thành tài nguyên số quốc gia.
* Thưa bà, Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, trong đó dữ liệu là tài nguyên số, vậy ngành Thống kê - cơ quan tập trung dữ liệu kinh tế, xã hội lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ làm gì để biến số liệu, dữ liệu thống kê thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước?
- Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xác định dữ liệu là tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê nhận thức rõ trách nhiệm trong việc sản xuất và cung cấp thông tin thống kê chất lượng cao, kịp thời, minh bạch để số liệu thống kê trở thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước.
Theo đó, quy trình sản xuất thông tin thống kê đã được ban hành mới theo hướng hiện đại hóa, làm cơ sở cho chuyển đổi số toàn diện.
Hình thức thu thập thông tin thống kê được chuyển đổi từ phiếu giấy sang phiếu điều tra điện tử (bao gồm phương thức phỏng vấn trực tiếp sử dụng thiết bị di động (CAPI) và phỏng vấn gián tiếp sử dụng webform) cho toàn bộ các cuộc điều tra giúp nâng cao đáng kể tính kịp thời và chất lượng dữ liệu thống kê.
Đồng thời, công tác chuẩn hóa danh mục, khái niệm, chỉ tiêu thống kê cũng được tăng cường để bảo đảm tính so sánh và khả năng liên thông dữ liệu.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia cũng được đẩy mạnh nhằm chuyển đổi căn bản và toàn diện việc sản xuất, sử dụng thông tin thống kê.
Hiện tại, cục đã hoàn thành giai đoạn một - xây dựng Kho dữ liệu thống kê tổng hợp, kết nối, cung cấp dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu quốc gia - là tài nguyên dùng chung trong hệ thống cơ quan nhà nước. Và để nâng cao độ bao phủ, tính chính xác của dữ liệu thống kê, cục khai thác, sử dụng dữ liệu hành chính thu thập từ các cơ quan bộ, ngành trong sản xuất thống kê
Để biến số liệu thống kê thành tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê đang tập trung xây dựng các phương pháp, chỉ tiêu nghiệp vụ thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu của Đảng, Chính phủ trong việc ban hành các chương trình, nghị quyết thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.
Đối với xây dựng hạ tầng dữ liệu thống kê hiện đại gồm: Kho dữ liệu thống kê vi mô tập trung phục vụ đa dạng nhu cầu khai thác của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân. Kho metadata phục vụ hiểu đúng, sử dụng đúng giá trị của dữ liệu thống kê đồng thời phục vụ chuẩn hóa, quản lý dữ liệu thống kê.
Ngoài ra, Cục Thống kê đang tăng cường khai thác các nguồn dữ liệu hành chính có tính pháp lý từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quản lý thuế để tận dụng dữ liệu sẵn có, đáng tin cậy để sản xuất và cung cấp thông tin thống kê bảo đảm chất lượng, kịp thời.
Xây dựng nền tảng số quản lý dữ liệu thống kê dùng chung và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu để tập trung hóa các hoạt động quản lý, thu thập, xử lý, tích hợp, tổng hợp dữ liệu thống kê, qua đó cung cấp, chia sẻ tài nguyên dữ liệu tin cậy, đa dạng cho các đối tượng người dùng.
Trong quản lý dữ liệu, ngành Thống kế cũng áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị, quản lý dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy, tính minh bạch và khả năng tái sử dụng, chia sẻ và liên thông dữ liệu.
Thời gian tới, ngành Thống kê sẽ tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, trước hết là đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê từ mô hình dựa chủ yếu vào điều tra thống kê và báo cáo thống kê sang mô hình sản xuất thông tin thống kê dựa trên dữ liệu đa nguồn, trong đó dữ liệu hành chính giữ vai trò nền tảng, kết hợp với dữ liệu lớn, dữ liệu địa không gian và các nguồn dữ liệu khác nhằm nâng cao chất lượng, tính đầy đủ, tính kịp thời.
Đổi mới quy trình sản xuất thông tin thống kê theo mô hình GSBPM (Generic Statistical Business Process Model) phiên bản mới nhất, bảo đảm bao quát toàn bộ vòng đời dữ liệu.
Thực hiện đổi mới mô hình thông tin thống kê theo GSIM nhằm chuẩn hóa cấu trúc thông tin, bảo đảm khả năng chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Xây dựng và áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu thống kê theo SDMX trong toàn bộ hệ thống thống kê. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dữ liệu và siêu dữ liệu (metadata) thống nhất bảo đảm liên thông, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu.
Phát triển hệ sinh thái dữ liệu thống kê đồng bộ, hiện đại, từng bước hình thành kinh tế dữ liệu thống kê gắn với kinh tế dữ liệu quốc gia. Tiếp tục xây dựng, và vận hành cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia theo hướng tập trung, tích hợp, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Xây dựng, phát triển các sản phẩm dữ liệu thống kê có giá trị gia tăng cao cung cấp trên thị trường dữ liệu. Xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu thống kê cung cấp dữ liệu mở miễn phí và dịch vụ dữ liệu có tính phí. Cung cấp dịch vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu thống kê qua API và phát triển các dịch vụ dữ liệu thống kê trực tuyến khác phục vụ đa dạng đối tượng sử dụng.
Đồng thời, ngành Thống kê sẽ tăng cường ứng dụng các mô hình phân tích, dự báo hiện đại, phát triển hệ thống sản phẩm phân tích chuyên sâu phong phú, đa dạng.
Hoạt động phổ biến thông tin thống kê cũng được đổi mới theo hướng tăng cường trực quan hóa dữ liệu (dashboard, infographic), chuyển từ báo cáo tĩnh sang nền tảng dữ liệu tương tác, cho phép người dùng tự do tùy biến biểu đồ, chuỗi thời gian và trích xuất dữ liệu để tái sử dụng. Mở rộng cung cấp dữ liệu dưới dạng dịch vụ, phục vụ hiệu quả cho tất cả các đối tượng người dùng.
Thiết lập hệ thống đánh giá và giám sát chất lượng thống kê theo toàn bộ quy trình sản xuất thông tin, công khai minh bạch các tiêu chí chất lượng.
Có thể khẳng định, ngành Thống kê đang và sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc sản xuất dữ liệu thống kê thành một nguồn tài nguyên dữ liệu số quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng điều hành, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
* Định kỳ hàng tháng, hàng quý Cục Thống kê đều công bố rộng rãi báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trên báo chí, truyền thông, điều này có ý nghĩa gì với công tác điều hành kinh tế - xã hội, với người dân, doanh nghiệp, thời gian tới ngành sẽ tiếp tục đổi mới ra sao để mỗi con số thống kê thực sự "biết nói"?
- Việc Cục Thống kê định kỳ công bố thông tin kinh tế - xã hội hằng tháng, hằng quý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành.
Đây là nguồn thông tin chính thống, tin cậy và có tính hệ thống, giúp Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành và địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, đánh giá đúng thực trạng và xu hướng phát triển của nền kinh tế, từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, các thông tin thống kê công bố định kỳ không chỉ phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế mà còn cung cấp những tín hiệu quan trọng về thị trường, xu hướng sản xuất, tiêu dùng, đầu tư.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân bổ nguồn lực, mở rộng hay thu hẹp hoạt động một cách hợp lý, hạn chế rủi ro và nắm bắt cơ hội.
Còn với người dân và xã hội, việc công bố rộng rãi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội góp phần nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin vào công tác điều hành của Nhà nước, giúp công chúng có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tình hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngành Thống kê nhận thức rõ sứ mệnh phải luôn làm cho mỗi con số thực sự "biết nói" để dẫn dắt nhận thức và hỗ trợ ra quyết định.
Do vậy, trong thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu, bảo đảm phản ánh sát thực tiễn, đúng thực chất của nền kinh tế.
Một định hướng quan trọng khác là đẩy mạnh công tác phân tích, diễn giải số liệu, chuyển từ tư duy "có gì công bố nấy" sang chủ động cung cấp thông tin có chọn lọc, có chiều sâu, gắn với bối cảnh và xu hướng phát triển.
Các sản phẩm thống kê không chỉ là những bảng số liệu khô cứng, mà được bổ sung các nhận định, phân tích, dự báo, giúp người sử dụng hiểu đúng, hiểu sâu và khai thác hiệu quả hơn. Đồng thời, ngành cũng sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành để mở rộng nguồn thông tin đầu vào, qua đó nâng cao chất lượng và tính toàn diện của số liệu thống kê.
Hình thức phổ biến thông tin thống kê cũng sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng trực quan, hiện đại và thân thiện hơn với người dùng, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau, từ nhà quản lý, nhà nghiên cứu đến doanh nghiệp và người dân.
Mục tiêu cuối cùng là để mỗi thông tin thống kê khi được công bố không chỉ dừng lại ở giá trị tham khảo, mà thực sự trở thành cơ sở tin cậy cho việc hoạch định chính sách, điều hành kinh tế và ra quyết định trong toàn xã hội.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

