Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết trong cuộc trao đổi với Tuổi trẻ về chủ đề biến dữ liệu thành tài nguyên số quốc gia.
* Thưa bà, Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, trong đó dữ liệu là tài nguyên số, vậy ngành Thống kê – cơ quan tập trung dữ liệu kinh tế, xã hội lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ làm gì để biến số liệu, dữ liệu thống kê thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước?
– Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xác định dữ liệu là tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê nhận thức rõ trách nhiệm trong việc sản xuất và cung cấp thông tin thống kê chất lượng cao, kịp thời, minh bạch để số liệu thống kê trở thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước.
Theo đó, quy trình sản xuất thông tin thống kê đã được ban hành mới theo hướng hiện đại hóa, làm cơ sở cho chuyển đổi số toàn diện.
Hình thức thu thập thông tin thống kê được chuyển đổi từ phiếu giấy sang phiếu điều tra điện tử (bao gồm phương thức phỏng vấn trực tiếp sử dụng thiết bị di động (CAPI) và phỏng vấn gián tiếp sử dụng webform) cho toàn bộ các cuộc điều tra giúp nâng cao đáng kể tính kịp thời và chất lượng dữ liệu thống kê.
Đồng thời, công tác chuẩn hóa danh mục, khái niệm, chỉ tiêu thống kê cũng được tăng cường để bảo đảm tính so sánh và khả năng liên thông dữ liệu.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia cũng được đẩy mạnh nhằm chuyển đổi căn bản và toàn diện việc sản xuất, sử dụng thông tin thống kê.
Hiện tại, cục đã hoàn thành giai đoạn một – xây dựng Kho dữ liệu thống kê tổng hợp, kết nối, cung cấp dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu quốc gia – là tài nguyên dùng chung trong hệ thống cơ quan nhà nước. Và để nâng cao độ bao phủ, tính chính xác của dữ liệu thống kê, cục khai thác, sử dụng dữ liệu hành chính thu thập từ các cơ quan bộ, ngành trong sản xuất thống kê
Để biến số liệu thống kê thành tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê đang tập trung xây dựng các phương pháp, chỉ tiêu nghiệp vụ thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu của Đảng, Chính phủ trong việc ban hành các chương trình, nghị quyết thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.
Đối với xây dựng hạ tầng dữ liệu thống kê hiện đại gồm: Kho dữ liệu thống kê vi mô tập trung phục vụ đa dạng nhu cầu khai thác của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân. Kho metadata phục vụ hiểu đúng, sử dụng đúng giá trị của dữ liệu thống kê đồng thời phục vụ chuẩn hóa, quản lý dữ liệu thống kê.
Ngoài ra, Cục Thống kê đang tăng cường khai thác các nguồn dữ liệu hành chính có tính pháp lý từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quản lý thuế để tận dụng dữ liệu sẵn có, đáng tin cậy để sản xuất và cung cấp thông tin thống kê bảo đảm chất lượng, kịp thời.
Xây dựng nền tảng số quản lý dữ liệu thống kê dùng chung và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu để tập trung hóa các hoạt động quản lý, thu thập, xử lý, tích hợp, tổng hợp dữ liệu thống kê, qua đó cung cấp, chia sẻ tài nguyên dữ liệu tin cậy, đa dạng cho các đối tượng người dùng.
Trong quản lý dữ liệu, ngành Thống kế cũng áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị, quản lý dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy, tính minh bạch và khả năng tái sử dụng, chia sẻ và liên thông dữ liệu.
Thời gian tới, ngành Thống kê sẽ tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, trước hết là đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê từ mô hình dựa chủ yếu vào điều tra thống kê và báo cáo thống kê sang mô hình sản xuất thông tin thống kê dựa trên dữ liệu đa nguồn, trong đó dữ liệu hành chính giữ vai trò nền tảng, kết hợp với dữ liệu lớn, dữ liệu địa không gian và các nguồn dữ liệu khác nhằm nâng cao chất lượng, tính đầy đủ, tính kịp thời.
Đổi mới quy trình sản xuất thông tin thống kê theo mô hình GSBPM (Generic Statistical Business Process Model) phiên bản mới nhất, bảo đảm bao quát toàn bộ vòng đời dữ liệu.
Thực hiện đổi mới mô hình thông tin thống kê theo GSIM nhằm chuẩn hóa cấu trúc thông tin, bảo đảm khả năng chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Xây dựng và áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu thống kê theo SDMX trong toàn bộ hệ thống thống kê. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dữ liệu và siêu dữ liệu (metadata) thống nhất bảo đảm liên thông, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu.
Phát triển hệ sinh thái dữ liệu thống kê đồng bộ, hiện đại, từng bước hình thành kinh tế dữ liệu thống kê gắn với kinh tế dữ liệu quốc gia. Tiếp tục xây dựng, và vận hành cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia theo hướng tập trung, tích hợp, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Xây dựng, phát triển các sản phẩm dữ liệu thống kê có giá trị gia tăng cao cung cấp trên thị trường dữ liệu. Xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu thống kê cung cấp dữ liệu mở miễn phí và dịch vụ dữ liệu có tính phí. Cung cấp dịch vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu thống kê qua API và phát triển các dịch vụ dữ liệu thống kê trực tuyến khác phục vụ đa dạng đối tượng sử dụng.
Đồng thời, ngành Thống kê sẽ tăng cường ứng dụng các mô hình phân tích, dự báo hiện đại, phát triển hệ thống sản phẩm phân tích chuyên sâu phong phú, đa dạng.
Hoạt động phổ biến thông tin thống kê cũng được đổi mới theo hướng tăng cường trực quan hóa dữ liệu (dashboard, infographic), chuyển từ báo cáo tĩnh sang nền tảng dữ liệu tương tác, cho phép người dùng tự do tùy biến biểu đồ, chuỗi thời gian và trích xuất dữ liệu để tái sử dụng. Mở rộng cung cấp dữ liệu dưới dạng dịch vụ, phục vụ hiệu quả cho tất cả các đối tượng người dùng.
Thiết lập hệ thống đánh giá và giám sát chất lượng thống kê theo toàn bộ quy trình sản xuất thông tin, công khai minh bạch các tiêu chí chất lượng.
Có thể khẳng định, ngành Thống kê đang và sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc sản xuất dữ liệu thống kê thành một nguồn tài nguyên dữ liệu số quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng điều hành, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
* Định kỳ hàng tháng, hàng quý Cục Thống kê đều công bố rộng rãi báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của đất nước trên báo chí, truyền thông, điều này có ý nghĩa gì với công tác điều hành kinh tế – xã hội, với người dân, doanh nghiệp, thời gian tới ngành sẽ tiếp tục đổi mới ra sao để mỗi con số thống kê thực sự “biết nói”?
– Việc Cục Thống kê định kỳ công bố thông tin kinh tế – xã hội hằng tháng, hằng quý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành.
Đây là nguồn thông tin chính thống, tin cậy và có tính hệ thống, giúp Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành và địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, đánh giá đúng thực trạng và xu hướng phát triển của nền kinh tế, từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, các thông tin thống kê công bố định kỳ không chỉ phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế mà còn cung cấp những tín hiệu quan trọng về thị trường, xu hướng sản xuất, tiêu dùng, đầu tư.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân bổ nguồn lực, mở rộng hay thu hẹp hoạt động một cách hợp lý, hạn chế rủi ro và nắm bắt cơ hội.
Còn với người dân và xã hội, việc công bố rộng rãi các chỉ tiêu kinh tế – xã hội góp phần nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin vào công tác điều hành của Nhà nước, giúp công chúng có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tình hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngành Thống kê nhận thức rõ sứ mệnh phải luôn làm cho mỗi con số thực sự “biết nói” để dẫn dắt nhận thức và hỗ trợ ra quyết định.
Do vậy, trong thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu, bảo đảm phản ánh sát thực tiễn, đúng thực chất của nền kinh tế.
Một định hướng quan trọng khác là đẩy mạnh công tác phân tích, diễn giải số liệu, chuyển từ tư duy “có gì công bố nấy” sang chủ động cung cấp thông tin có chọn lọc, có chiều sâu, gắn với bối cảnh và xu hướng phát triển.
Các sản phẩm thống kê không chỉ là những bảng số liệu khô cứng, mà được bổ sung các nhận định, phân tích, dự báo, giúp người sử dụng hiểu đúng, hiểu sâu và khai thác hiệu quả hơn. Đồng thời, ngành cũng sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành để mở rộng nguồn thông tin đầu vào, qua đó nâng cao chất lượng và tính toàn diện của số liệu thống kê.
Hình thức phổ biến thông tin thống kê cũng sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng trực quan, hiện đại và thân thiện hơn với người dùng, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau, từ nhà quản lý, nhà nghiên cứu đến doanh nghiệp và người dân.
Mục tiêu cuối cùng là để mỗi thông tin thống kê khi được công bố không chỉ dừng lại ở giá trị tham khảo, mà thực sự trở thành cơ sở tin cậy cho việc hoạch định chính sách, điều hành kinh tế và ra quyết định trong toàn xã hội.
Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) vừa điều chỉnh tăng 0,1%/năm lãi suất huy động trực tuyến ở các kỳ hạn từ 6-36 tháng cho cả 3 nhóm tiền gửi: dưới 100 triệu đồng, từ 100-500 triệu đồng và trên 500 triệu đồng.
Sau điều chỉnh, lãi suất trực tuyến dành cho khoản tiền gửi dưới 100 triệu đồng dao động 6,5-7,1%/năm; nhóm từ 100-500 triệu đồng ở mức 6,6-7,2%/năm còn tiền gửi trên 500 triệu đồng được hưởng mức cao nhất tới 7,3%/năm tại kỳ hạn 36 tháng. Lãi suất kỳ hạn 12 và 21 tháng đối với nhóm tiền gửi trên 500 triệu đồng đã chạm mốc 7%/năm.
Trong khi đó, OCB giữ nguyên lãi suất tiết kiệm tại quầy, với mức cao nhất 7%/năm cho kỳ hạn 36 tháng. Ngân hàng cũng tiếp tục áp dụng mức lãi suất đặc biệt 8,5%/năm cho khách hàng gửi từ 1.000 tỷ đồng trở lên tại kỳ hạn 6 và 12 tháng.
Thực tế, sau cuộc họp với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn hồi đầu tháng 4, các ngân hàng cho biết đồng thuận giảm lãi suất để giữ mặt bằng thấp hỗ trợ nền kinh tế. “Cuộc đua” lãi suất ưu đãi của các ngân hàng bớt "nóng" hơn. Nhiều nhà băng sau đó dừng hoặc giảm dần lãi suất ưu đãi cho khách gửi tiết kiệm.
OCB trước khi điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất cũng đã giảm từ 0,2-0,5%/năm lãi suất tiết kiệm các kỳ hạn từ 6-36 tháng.
Lãi suất các ngân hàng ra sao?
Theo biểu lãi suất các ngân hàng công bố ngày 12/5, ở kỳ hạn 1 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến dao động từ 1,6%/năm tại SCB đến 4,75%/năm tại nhiều ngân hàng như Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank, ACB, OCB, PGBank hay VPBank. Nhóm ngân hàng quốc doanh đồng loạt niêm yết mức trần 4,75%/năm cho kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng theo quy định hiện hành.
Tại kỳ hạn 3 tháng, xu hướng tương tự tiếp tục được duy trì khi nhiều ngân hàng niêm yết mức 4,75%/năm. Trong khi đó, SCB vẫn là ngân hàng có lãi suất tiết kiệm thấp nhất thị trường với 1,9%/năm. Một số ngân hàng tư nhân như Techcombank, SHB hay MB áp dụng mức lãi suất thấp hơn nhóm dẫn đầu, dao động quanh 4,65-4,7%/năm.
Ở kỳ hạn 6 tháng, nhiều ngân hàng đẩy lãi suất vượt mốc 6%/năm. MBV hiện dẫn đầu với mức 7,2%/năm, theo sau là ACB với 7,1%/năm. Các ngân hàng như LPBank, PGBank, BVBank, OCB hay nhóm ngân hàng quốc doanh niêm yết phổ biến từ 6,5% đến 6,9%/năm. Trong khi đó, SCB tiếp tục duy trì mức thấp nhất chỉ 2,9%/năm.
Tại kỳ hạn 9 tháng, MBV tiếp tục giữ vị trí cao nhất với 7,2%/năm, kế đến là ACB với 7,2%/năm và LPBank, PGBank cùng ở mức 6,9%/năm. Nhóm Big4 gồm Agribank, Vietcombank và VietinBank niêm yết 6,6%/năm, cao hơn BIDV ở mức 5,8%/năm.
Đối với kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất tăng mạnh hơn, trong đó ACB dẫn đầu với 7,3%/năm, tiếp theo là MBV đạt 7,2%/năm. LPBank, PGBank và VIB cùng niêm yết mức 7%/năm, trong khi nhiều ngân hàng khác dao động quanh 6,3-6,9%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức 6,8%/năm, riêng BIDV thấp hơn ở mức 5,9%/năm.
Ở kỳ hạn dài 18 tháng, mức lãi suất cao nhất thuộc về MBV với 7,2%/năm, tiếp theo là LPBank đạt 7,1%/năm. Nhóm ngân hàng như ACB, OCB, PGBank, Agribank, Vietcombank và VietinBank niêm yết quanh 6,7-6,8%/năm.
Tại World Cup 2026, trọng tài sẽ dừng trận đấu đúng phút 22 của mỗi hiệp. Mỗi quãng nghỉ này, cầu thủ hai đội được rời sân để uống nước trong 3 phút (hydration breaks). Đây là một chủ đề tạo ra nhiều tranh cãi từ đầu giải đấu đến nay.
Theo The Hollywood Reporter, Fox - đơn vị sở hữu bản quyền phát sóng World Cup tại Mỹ - có thể thu về ít nhất 250 triệu USD chỉ từ quảng cáo phát sóng trong 3 phút nghỉ uống nước giữa mỗi hiệp.
"Rất khó để quay lại mô hình cũ khi quãng nghỉ uống nước đã chứng minh hiệu quả về mặt doanh thu. Nếu không phải 3 phút nghỉ này, cũng sẽ có một hình thức khác", David Levy, cựu Chủ tịch Turner, người từng đàm phán bản quyền với UEFA nhận định. Levy hiện điều hành công ty tiếp thị thể thao Horizon Sports & Experiences.
ESPN cho rằng World Cup năm nay cũng hiện thực hóa điều mà các lãnh đạo truyền thông Mỹ theo đuổi từ lâu. Đó là kiếm tiền hiệu quả hơn từ một môn thể thao vốn có rất ít khoảng dừng tự nhiên để chèn quảng cáo. Việc này khác với bóng bầu dục, bóng rổ hay bóng chày.
Nhiều khán giả phản đối, còn cầu thủ và huấn luyện viên lo ngại gián đoạn nhịp độ thi đấu. Theo ESPN, quãng nghỉ uống nước là "mỏ vàng" với các đài truyền hình và nhà quảng cáo. Sau khi World Cup kết thúc, sự thay đổi này cũng đặt ra nhiều câu hỏi về tương lai của bóng đá.
Ông lớn truyền thông Mỹ ESPN đặt vấn đề rằng các giải đấu tại nước này liệu sẽ tích cực áp dụng quãng nghỉ uống nước, các giải bóng đá ở châu Âu sẽ ứng phó thế nào khi doanh thu từ bản quyền truyền hình chững lại. "Liệu Mỹ sẽ ảnh hưởng lớn hơn đến cách vận hành của bóng đá thế giới hay không", ESPN nêu.
Charlie Methven, cựu giám đốc điều hành một đội bóng ở Anh cho rằng sự thay đổi sẽ không diễn ra ngay lập tức. "Điều đó sẽ không xảy ra chỉ sau một đêm. Nhưng khi mô hình truyền hình truyền thống tiếp tục suy yếu, các giải đấu không còn nhiều cách để gia tăng giá trị bản quyền phát sóng", Methven nói.
Trong khi một lãnh đạo khác trong ngành truyền thông lại nhìn nhận quãng nghỉ uống nước là một khoản doanh thu từ trên trời rơi xuống với bóng đá. Theo ông, các công ty có thể tiếp cận lượng khán giả bị giữ chân ngay trong những thời điểm hấp dẫn nhất của trận đấu. "Rất nhiều nhà đài đang thèm muốn những gì Fox đã làm được", ông chia sẻ.
FIFA lần đầu áp dụng quãng nghỉ giúp cầu thủ hạ nhiệt tại World Cup 2014 ở Brazil. Hiện nay, phần lớn các giải bóng đá trên thế giới đều có quy định về quãng nghỉ này, nhưng chỉ được áp dụng khi thời tiết quá nóng hoặc theo quyết định của trọng tài.
Đến tháng 12/2025, FIFA chính thức thông báo World Cup 2026 sẽ có quãng nghỉ ba phút giữa mỗi hiệp ở tất cả 104 trận đấu, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, sân vận động có mái che và điều hòa nhiệt độ.
Quyết định này giúp Fox bán quảng cáo từ sớm và khai thác tối đa giá trị thương mại của các quãng nghỉ. Đồng thời, theo ESPN, đây là lần đầu tiên mà các nhà quảng cáo có cơ hội tiếp cận khán giả ngay khi trận đấu đang diễn ra - khoảng thời gian vốn được xem là giá trị nhất. Còn theo The Wall Street Journal, giá quảng cáo tại Mỹ trong các quãng nghỉ dao động từ 200.000 đến 750.000 USD mỗi suất.
Xu hướng mới xuất hiện đúng lúc nhiều giải bóng đá lớn trên thế giới đang gặp khó trong việc tăng doanh thu bản quyền truyền hình. Ligue 1 của Pháp liên tiếp thất bại trong các thỏa thuận phát sóng. Điều này, buộc giải đấu phải tự xây dựng nền tảng phát trực tiếp đến người xem. Giá trị bản quyền truyền hình của giải đấu này được cho là chỉ khoảng 171 - 286 triệu USD.
Ở quy mô rộng hơn, doanh thu bản quyền truyền hình của các giải đấu hàng đầu châu Âu cũng gần như không còn tăng trưởng. Không giải đấu nào ghi nhận mức giá trị bản quyền truyền hình tăng mạnh như bóng rổ NBA hay bóng bầu dục NFL tại Mỹ gần đây.
Mọi giải đấu đều đang cố thu hẹp khoảng cách với Ngoại hạng Anh. Theo Deloitte, Premier League ghi nhận doanh thu 7,4 tỷ bảng, tương đương 10 tỷ USD mùa 2025-2026. Con số này gấp hơn 2 lần giải Bundesliga của Đức (4,9 tỷ USD), La Liga của Tây Ban Nha (4,8 tỷ USD) và vượt Serie A của Italy (3,4 tỷ USD), Ligue 1 (2,2 tỷ USD).
Tuy nhiên, Deloitte cũng lưu ý lợi nhuận của các CLB tại Ngoại hạng Anh đang giảm. Các quãng nghỉ khó có thể giải quyết toàn bộ vấn đề tài chính, nhưng nó được xem là một mắt xích quan trọng trong chiến lược thương mại hóa sâu hơn với Premier League.
Charlie Methven dự đoán trong tương lai sẽ có những cuộc họp giữa ban điều hành Premier League cùng các đội bóng để bàn về giải pháp ứng phó khi doanh thu từ bản quyền phát sóng giảm 10%. "Câu trả lời rất có thể là các bên cùng tạo thêm một quãng nghỉ để bán quảng cáo", Methven nói.
Theo ông, thậm chí, áp lực với bản quyền phát sóng với các giải khác đã lớn hơn nhiều so với Ngoại hạng Anh. "Ligue 1 đã mất một hợp đồng truyền hình lớn. Serie A cũng được cho là đang chịu sức ép tương tự. Điều đó đồng nghĩa với việc nhiều CLB đã phải chấp nhận nguồn thu từ truyền hình sụt giảm" chuyên gia này cho hay.
Nhiều lãnh đạo trong ngành đều dự đoán Ngoại hạng Anh nhiều khả năng sẽ là giải đấu cuối cùng áp dụng các quãng nghỉ thương mại, nhờ tiềm lực tài chính vượt trội và lịch sử phát triển lâu đời.
Trong khi đó, các chuyên gia cho rằng Pháp, Italy và Tây Ban Nha có khả năng cân nhắc phương án này sớm hơn để tăng doanh thu bản quyền. Thậm chí, các quãng nghỉ uống nước có thể được đổi tên thành quãng nghỉ chiến thuật.
Thực tế, Fox đã gọi các quãng dừng này là "match break" thay vì "hydration break", nhằm mở rộng ý nghĩa hơn chỉ để nghỉ uống nước.
Hiện tại, UEFA khẳng định không có kế hoạch áp dụng quãng nghỉ thương mại tại Euro 2028 hay Champions League. Trong khi, đại diện La Liga từ chối bình luận, còn Bundesliga, Ligue 1 và Serie A không phản hồi về khả năng áp dụng quãng nghỉ này.
Matt Drew, chuyên gia từng phụ trách đàm phán bản quyền bóng đá quốc tế tại DAZN đánh giá việc mở rộng áp dụng các quãng nghỉ chỉ là vấn đề thời gian. Tuy nhiên, Drew nói châu Âu vẫn còn tồn tại nhiều khác biệt. "Phản ứng của người hâm mộ châu Âu với những quyết định mang tính áp đặt từ giới chủ luôn rất mạnh mẽ. Nếu phải chọn một nơi có khả năng đi đầu, tôi sẽ chọn Tây Ban Nha, bởi La Liga đang rất chú trọng thị trường Mỹ", chuyên gia này nói.
Tại Mỹ, hai giải bóng đá hàng đầu quốc gia này đều sẽ đàm phán các hợp đồng bản quyền truyền hình mới trong vài năm tới. Họ vốn đã có quy định về quãng nghỉ khi thời tiết quá nóng, nhưng cũng đang nghiên cứu cách tận dụng sức hút của World Cup để gia tăng giá trị thương mại.
"Rất khó để cưỡng lại cơ hội này. Sau World Cup, MLS sẽ bước vào vòng đàm phán bản quyền mới và hoàn toàn có thể đưa các quãng nghỉ vào hợp đồng", lãnh đạo một đối tác đang làm việc với MLS chia sẻ.
Theo ông, giải đấu muốn tạo thêm nguồn lực để các ông chủ đầu tư mạnh hơn cho đội bóng, cũng như thu hút các đối tác truyền thông cùng đầu tư.
Trong tuyên bố gửi ESPN, người phát ngôn của giải MLS Dan Courtemanche cho biết giải đấu chưa thảo luận việc thay đổi chính sách quãng nghỉ uống nước. Tuy nhiên, MLS vẫn thường xuyên rà soát toàn bộ các quy định thi đấu.
"Hiện còn quá sớm để đánh giá các kịch bản giả định. Chúng tôi đang theo dõi diễn biến tại World Cup và chưa có ý định thay đổi quy định hiện hành", Courtemanche thông tin.
Kara Nortman, đồng sáng lập Angel City, CLB bóng đá nữ tại MLS kiêm đối tác điều hành quỹ đầu tư Monarch Collective, cho rằng các giải đấu hoàn toàn có thể biến những quãng nghỉ thành lợi thế."Không có gì quan trọng hơn việc giữ gìn giá trị cốt lõi của bóng đá. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, sức khỏe cầu thủ và yếu tố thương mại đều là những thực tế cần được cân bằng", Nortman cho hay.
Theo ông, các đơn vị hãy nghĩ đến cách biến quãng nghỉ giữa hiệp thành động lực giúp bóng đá phát triển, không chỉ để tăng doanh thu, mà còn về sức khỏe cầu thủ và sự gắn kết với người hâm mộ.
Nông nghiệp tăng trưởng thấp, đối mặt rào cản ngày càng lớn
Việt Nam cần xây dựng một tầm nhìn chiến lược cho nông nghiệp tương xứng với các lĩnh vực hạ tầng trọng yếu hay công nghiệp bán dẫn, thay vì chỉ dừng ở mục tiêu kim ngạch xuất khẩu khoảng 70 tỷ USD như hiện nay. Đây là đề xuất được ông Nguyễn Mạnh Hùng, Nhà sáng lập, Phó Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Nafoods Group, đưa ra tại Diễn đàn Nông nghiệp 2026 diễn ra chiều 16/7 tại TPHCM.
Theo ông Hùng, ngành nông nghiệp cần đặt mục tiêu tham vọng hơn, hướng tới kim ngạch xuất khẩu 700-1.000 tỷ USD trong vòng 15-20 năm tới. Một mục tiêu đủ lớn sẽ tạo động lực để toàn bộ hệ sinh thái từ khoa học công nghệ, nguồn vốn đến chính sách đất đai cùng vận hành theo một định hướng thống nhất.
Ông cho rằng khi có chiến lược dài hạn và rõ ràng, không chỉ ngành nông nghiệp mà cả các lĩnh vực phụ trợ như chế biến, logistics, công nghệ và dịch vụ cũng sẽ có cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ.
Tại diễn đàn, đại diện doanh nghiệp cũng bày tỏ trăn trở khi tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp nhiều năm qua chỉ dao động khoảng 3-4%, thấp hơn đáng kể so với nhiều lĩnh vực kinh tế khác.
Đây là nghịch lý khi nông nghiệp vẫn là ngành gắn với sinh kế của khoảng 60-80% dân số. Khoảng cách giữa quy mô lao động và tốc độ tăng trưởng cho thấy giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị sản phẩm cũng như năng suất lao động vẫn còn hạn chế.
Bên cạnh đó, các thị trường nhập khẩu lớn như châu Âu và Mỹ ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và dư lượng hóa chất, tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Trong số khoảng 1 triệu doanh nghiệp Việt, chỉ có 1-2% làm nông nghiệp
Bên cạnh bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh, diễn đàn cũng chỉ ra thực tế số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp vẫn rất khiêm tốn.
Ông Trần Ngọc Liêm, Phó Tổng thư ký, Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh khu vực TPHCM, dẫn số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết cả nước hiện có hơn 50.000 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.
Trong tổng số hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ doanh nghiệp tham gia lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm khoảng 1-2%.
"Đây là con số còn rất khiêm tốn, trong khi nông nghiệp luôn được xem là trụ đỡ của nền kinh tế", ông Liêm nhận định.
Theo các đại biểu, một trong những nguyên nhân chính là số lượng doanh nghiệp quy mô lớn đầu tư vào nông nghiệp còn ít do vướng mắc về quỹ đất và khả năng tiếp cận nguồn vốn.
Ở góc độ tín dụng, các chuyên gia cho biết dư nợ dành cho lĩnh vực nông nghiệp hiện chỉ chiếm khoảng 11% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, thấp hơn đáng kể so với bất động sản. Nguyên nhân chủ yếu là doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm và gặp nhiều rào cản khi tiếp cận vốn vay.
Đề cập đến chính sách hỗ trợ, bà Lê Thị Ánh Tuyết, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đồng Nai, cho biết Nghị định 57 về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp đã được ban hành nhưng số đơn vị thực tế tiếp cận được chính sách vẫn còn hạn chế.
Theo bà Tuyết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang rà soát, sửa đổi các quy định nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi hơn để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này trong thời gian tới.
Ngoài những rào cản về đất đai và tín dụng, doanh nghiệp còn phải đối mặt với hệ thống logistics chưa đồng bộ, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, khiến chi phí vận chuyển tăng cao. Cùng với đó, tình trạng thiếu hụt lao động trong nông nghiệp đang trở thành thách thức lớn, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.