Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết trong cuộc trao đổi với Tuổi trẻ về chủ đề biến dữ liệu thành tài nguyên số quốc gia.
* Thưa bà, Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, trong đó dữ liệu là tài nguyên số, vậy ngành Thống kê – cơ quan tập trung dữ liệu kinh tế, xã hội lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ làm gì để biến số liệu, dữ liệu thống kê thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước?
– Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xác định dữ liệu là tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê nhận thức rõ trách nhiệm trong việc sản xuất và cung cấp thông tin thống kê chất lượng cao, kịp thời, minh bạch để số liệu thống kê trở thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước.
Theo đó, quy trình sản xuất thông tin thống kê đã được ban hành mới theo hướng hiện đại hóa, làm cơ sở cho chuyển đổi số toàn diện.
Hình thức thu thập thông tin thống kê được chuyển đổi từ phiếu giấy sang phiếu điều tra điện tử (bao gồm phương thức phỏng vấn trực tiếp sử dụng thiết bị di động (CAPI) và phỏng vấn gián tiếp sử dụng webform) cho toàn bộ các cuộc điều tra giúp nâng cao đáng kể tính kịp thời và chất lượng dữ liệu thống kê.
Đồng thời, công tác chuẩn hóa danh mục, khái niệm, chỉ tiêu thống kê cũng được tăng cường để bảo đảm tính so sánh và khả năng liên thông dữ liệu.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia cũng được đẩy mạnh nhằm chuyển đổi căn bản và toàn diện việc sản xuất, sử dụng thông tin thống kê.
Hiện tại, cục đã hoàn thành giai đoạn một – xây dựng Kho dữ liệu thống kê tổng hợp, kết nối, cung cấp dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu quốc gia – là tài nguyên dùng chung trong hệ thống cơ quan nhà nước. Và để nâng cao độ bao phủ, tính chính xác của dữ liệu thống kê, cục khai thác, sử dụng dữ liệu hành chính thu thập từ các cơ quan bộ, ngành trong sản xuất thống kê
Để biến số liệu thống kê thành tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê đang tập trung xây dựng các phương pháp, chỉ tiêu nghiệp vụ thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu của Đảng, Chính phủ trong việc ban hành các chương trình, nghị quyết thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.
Đối với xây dựng hạ tầng dữ liệu thống kê hiện đại gồm: Kho dữ liệu thống kê vi mô tập trung phục vụ đa dạng nhu cầu khai thác của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân. Kho metadata phục vụ hiểu đúng, sử dụng đúng giá trị của dữ liệu thống kê đồng thời phục vụ chuẩn hóa, quản lý dữ liệu thống kê.
Ngoài ra, Cục Thống kê đang tăng cường khai thác các nguồn dữ liệu hành chính có tính pháp lý từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quản lý thuế để tận dụng dữ liệu sẵn có, đáng tin cậy để sản xuất và cung cấp thông tin thống kê bảo đảm chất lượng, kịp thời.
Xây dựng nền tảng số quản lý dữ liệu thống kê dùng chung và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu để tập trung hóa các hoạt động quản lý, thu thập, xử lý, tích hợp, tổng hợp dữ liệu thống kê, qua đó cung cấp, chia sẻ tài nguyên dữ liệu tin cậy, đa dạng cho các đối tượng người dùng.
Trong quản lý dữ liệu, ngành Thống kế cũng áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị, quản lý dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy, tính minh bạch và khả năng tái sử dụng, chia sẻ và liên thông dữ liệu.
Thời gian tới, ngành Thống kê sẽ tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, trước hết là đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê từ mô hình dựa chủ yếu vào điều tra thống kê và báo cáo thống kê sang mô hình sản xuất thông tin thống kê dựa trên dữ liệu đa nguồn, trong đó dữ liệu hành chính giữ vai trò nền tảng, kết hợp với dữ liệu lớn, dữ liệu địa không gian và các nguồn dữ liệu khác nhằm nâng cao chất lượng, tính đầy đủ, tính kịp thời.
Đổi mới quy trình sản xuất thông tin thống kê theo mô hình GSBPM (Generic Statistical Business Process Model) phiên bản mới nhất, bảo đảm bao quát toàn bộ vòng đời dữ liệu.
Thực hiện đổi mới mô hình thông tin thống kê theo GSIM nhằm chuẩn hóa cấu trúc thông tin, bảo đảm khả năng chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Xây dựng và áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu thống kê theo SDMX trong toàn bộ hệ thống thống kê. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dữ liệu và siêu dữ liệu (metadata) thống nhất bảo đảm liên thông, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu.
Phát triển hệ sinh thái dữ liệu thống kê đồng bộ, hiện đại, từng bước hình thành kinh tế dữ liệu thống kê gắn với kinh tế dữ liệu quốc gia. Tiếp tục xây dựng, và vận hành cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia theo hướng tập trung, tích hợp, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Xây dựng, phát triển các sản phẩm dữ liệu thống kê có giá trị gia tăng cao cung cấp trên thị trường dữ liệu. Xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu thống kê cung cấp dữ liệu mở miễn phí và dịch vụ dữ liệu có tính phí. Cung cấp dịch vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu thống kê qua API và phát triển các dịch vụ dữ liệu thống kê trực tuyến khác phục vụ đa dạng đối tượng sử dụng.
Đồng thời, ngành Thống kê sẽ tăng cường ứng dụng các mô hình phân tích, dự báo hiện đại, phát triển hệ thống sản phẩm phân tích chuyên sâu phong phú, đa dạng.
Hoạt động phổ biến thông tin thống kê cũng được đổi mới theo hướng tăng cường trực quan hóa dữ liệu (dashboard, infographic), chuyển từ báo cáo tĩnh sang nền tảng dữ liệu tương tác, cho phép người dùng tự do tùy biến biểu đồ, chuỗi thời gian và trích xuất dữ liệu để tái sử dụng. Mở rộng cung cấp dữ liệu dưới dạng dịch vụ, phục vụ hiệu quả cho tất cả các đối tượng người dùng.
Thiết lập hệ thống đánh giá và giám sát chất lượng thống kê theo toàn bộ quy trình sản xuất thông tin, công khai minh bạch các tiêu chí chất lượng.
Có thể khẳng định, ngành Thống kê đang và sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc sản xuất dữ liệu thống kê thành một nguồn tài nguyên dữ liệu số quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng điều hành, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
* Định kỳ hàng tháng, hàng quý Cục Thống kê đều công bố rộng rãi báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của đất nước trên báo chí, truyền thông, điều này có ý nghĩa gì với công tác điều hành kinh tế – xã hội, với người dân, doanh nghiệp, thời gian tới ngành sẽ tiếp tục đổi mới ra sao để mỗi con số thống kê thực sự “biết nói”?
– Việc Cục Thống kê định kỳ công bố thông tin kinh tế – xã hội hằng tháng, hằng quý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành.
Đây là nguồn thông tin chính thống, tin cậy và có tính hệ thống, giúp Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành và địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, đánh giá đúng thực trạng và xu hướng phát triển của nền kinh tế, từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, các thông tin thống kê công bố định kỳ không chỉ phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế mà còn cung cấp những tín hiệu quan trọng về thị trường, xu hướng sản xuất, tiêu dùng, đầu tư.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân bổ nguồn lực, mở rộng hay thu hẹp hoạt động một cách hợp lý, hạn chế rủi ro và nắm bắt cơ hội.
Còn với người dân và xã hội, việc công bố rộng rãi các chỉ tiêu kinh tế – xã hội góp phần nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin vào công tác điều hành của Nhà nước, giúp công chúng có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tình hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngành Thống kê nhận thức rõ sứ mệnh phải luôn làm cho mỗi con số thực sự “biết nói” để dẫn dắt nhận thức và hỗ trợ ra quyết định.
Do vậy, trong thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu, bảo đảm phản ánh sát thực tiễn, đúng thực chất của nền kinh tế.
Một định hướng quan trọng khác là đẩy mạnh công tác phân tích, diễn giải số liệu, chuyển từ tư duy “có gì công bố nấy” sang chủ động cung cấp thông tin có chọn lọc, có chiều sâu, gắn với bối cảnh và xu hướng phát triển.
Các sản phẩm thống kê không chỉ là những bảng số liệu khô cứng, mà được bổ sung các nhận định, phân tích, dự báo, giúp người sử dụng hiểu đúng, hiểu sâu và khai thác hiệu quả hơn. Đồng thời, ngành cũng sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành để mở rộng nguồn thông tin đầu vào, qua đó nâng cao chất lượng và tính toàn diện của số liệu thống kê.
Hình thức phổ biến thông tin thống kê cũng sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng trực quan, hiện đại và thân thiện hơn với người dùng, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau, từ nhà quản lý, nhà nghiên cứu đến doanh nghiệp và người dân.
Mục tiêu cuối cùng là để mỗi thông tin thống kê khi được công bố không chỉ dừng lại ở giá trị tham khảo, mà thực sự trở thành cơ sở tin cậy cho việc hoạch định chính sách, điều hành kinh tế và ra quyết định trong toàn xã hội.
Chỉ thị mới của Thủ tướng về thúc đẩy tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà không chỉ tạo thêm động lực cho thị trường mà còn mở ra kỳ vọng sớm tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện cơ chế nhằm đạt mục tiêu nâng tỉ lệ công suất điện mặt trời tại các địa phương, cơ quan và hộ gia đình trong thời gian tới.
Nhận hóa đơn tiền điện tháng 3 vừa rồi đến hơn 4 triệu đồng, chị Đặng Lan Hương (phường Thanh Xuân, Hà Nội) quyết định lắp điện mặt trời mái nhà. Sau khi chuyển xuống nhà đất và cho thuê thêm hai phòng trọ, chi phí điện tăng mạnh so với ở chung cư, khiến chị kỳ vọng hệ thống này sẽ giúp chủ động nguồn điện và giảm chi phí hằng tháng.
Tham khảo các thông tin trên mạng, chị Hương khá bất ngờ khi thị trường có rất nhiều sản phẩm và nhà cung cấp với những mức giá khác nhau.
Với nhu cầu sử dụng điện hiện tại khoảng từ 2 - 3 triệu đồng/tháng, gia đình chị được tư vấn lắp đặt hệ thống điện áp mái gồm pin lưu trữ công suất khoảng 6kW và lưu trữ từ 12 - 18kW, với chi phí dao động khá lớn từ các nhà cung cấp, khoảng từ 80 - 120 triệu đồng. Nếu có thêm các chính sách hỗ trợ cho người dân cũng giúp phần nào giảm bớt gánh nặng.
Không chỉ mức giá chênh lệch, các thiết bị lắp đặt cũng có nhiều loại sản phẩm của nhiều thương hiệu khác nhau. Chị Hương chia sẻ, theo tư vấn của nhân viên lắp đặt, các thiết bị có nguồn gốc khác nhau, từ sản phẩm có thương hiệu đến hàng trôi nổi trên thị trường, nên có mức giá khác nhau, thường "tiền nào của nấy" và chỉ nên lựa chọn các nhà cung ứng cam kết bảo hành.
Thực tế này khiến chị băn khoăn không biết chọn nhà cung ứng nào đảm bảo được chất lượng sản phẩm khi tính ra chi phí lắp đặt cũng ngót cả trăm triệu đồng.
Anh Trần Văn Hưng (phường Hòa Lạc, Hà Nội) cho biết chi phí xăng tăng cao khiến anh tính mua xe máy điện. Tuy nhiên, tiền điện gia đình hiện đã khoảng 5 triệu đồng/tháng, nên nếu có thêm nhu cầu sạc xe, anh dự định lắp điện mặt trời mái nhà để chủ động nguồn điện, nhất là vào mùa nắng nóng hay mất điện, đồng thời giảm chi phí.
Qua tìm hiểu, anh được tư vấn các gói lắp đặt trọn gói khoảng 200 - 250 triệu đồng cho hệ thống 13 - 15kW, với mức giá phụ thuộc vào chất lượng thiết bị như biến tần và pin lưu trữ.
Trong khi đó, anh Nguyễn Tuấn Đức (phường Thủ Dầu Một, TP.HCM) băn khoăn về thủ tục, chi phí và chất lượng thiết bị. Ban đầu lo ngại phải làm nhiều giấy tờ, nhưng sau khi tìm hiểu, anh được biết hiện chỉ cần đăng ký qua Cổng dịch vụ công và có thể thuê đơn vị làm trọn gói.
Tuy vậy, điều anh Đức lo nhất vẫn là chất lượng sản phẩm khi thị trường có nhiều mức giá khác nhau. "Nếu có chính sách hỗ trợ tài chính hoặc vay ưu đãi, người dân sẽ mạnh dạn lắp đặt hơn, đồng thời cần kiểm soát chất lượng để tránh tình trạng chọn thiết bị giá rẻ nhưng không đảm bảo", anh Đức nêu ý kiến.
Theo ông Lê Quang Vinh - đại diện Sigenergy, đơn vị chuyên lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà, chỉ thị mới của Thủ tướng đang tạo cú hích cho thị trường điện mặt trời mái nhà, nhất là trong bối cảnh nhu cầu lắp đặt tăng sớm do lo ngại thiếu điện và dự báo nắng nóng cực đoan.
Nhu cầu tăng mạnh cũng kéo theo giá thiết bị leo thang: tấm quang điện đã tăng 30 - 35% vào cuối năm 2025, còn pin lưu trữ tăng khoảng 20%. Đồng thời, xu hướng đầu tư hệ thống lưu trữ (BESS) để tận dụng điện giá thấp giờ thấp điểm, cùng với nhu cầu sạc xe điện gia tăng, đang khiến thị trường càng thêm sôi động.
Ông Vinh cho biết chi phí lắp đặt hiện đã tăng từ mức 15 - 16 triệu đồng/kW lên khoảng 18 - 20 triệu đồng/kW, tùy thuộc vào chất lượng thiết bị. Riêng pin lưu trữ có giá trung bình khoảng 5 triệu đồng/kW, với cấu hình phổ biến 10kW. Tuy nhiên, ông cảnh báo người dùng không nên chạy theo giá rẻ, bởi thiết bị kém chất lượng có thể khiến "tiền mất, tật mang".
"Người dùng luôn muốn mua với giá rẻ nhất, nhưng cần đi đôi với chất lượng. Ví dụ như đầu tư một thiết bị lưu trữ khoảng 50 triệu đồng, tương đương một chiếc xe máy, nhưng liệu có đảm bảo chất lượng suốt vòng đời thiết bị hay không?
Nếu mỗi ngày tích trữ được 10kWh, thì mỗi tháng là 300kWh, tương đương với mức điện hiện nay sẽ tiết kiệm được 900.000 đồng, thì cũng phải vài năm mới thu hồi vốn. Vì vậy, cần phải kiểm soát được chất lượng thiết bị để đảm bảo việc lắp đặt xong mà chỉ sử dụng được một vài năm", ông Vinh nói.
Lần đầu tiên Việt Nam được lựa chọn đăng cai Hội nghị khoa học quốc tế về thú y và chăn nuôi heo (IPVS 2026), diễn đàn chuyên ngành lớn nhất toàn cầu trong lĩnh vực thú y và chăn nuôi heo.
Tại buổi gặp mặt nhà tài trợ lần thứ 3 ngày 2-4 ở TP.HCM, ban tổ chức cho biết công tác chuẩn bị cho IPVS 2026 đang được đẩy nhanh trong giai đoạn cuối.
Chia sẻ bên lề sự kiện với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Tất Toàn - Trưởng ban tổ chức IPVS 2026, Hiệu trưởng Trường đại học Nông Lâm TP.HCM - nhấn mạnh việc Việt Nam được lựa chọn đăng cai IPVS 2026 là "một niềm vinh dự lớn", đồng thời cho thấy vị thế ngày càng tăng của ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam trên trường quốc tế.
Đến nay, hội nghị đã thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu, học giả đến từ gần 50 quốc gia thuộc 5 châu lục. Theo ban tổ chức, IPVS 2026 dự kiến có 18 báo cáo trọng tâm (keynote), 124 báo cáo trình bày trực tiếp và 880 báo cáo poster, bao phủ 12 chủ đề khoa học chuyên sâu về heo.
Về nội dung, ông Nguyễn Tất Toàn cho biết các chủ đề của hội nghị tiếp tục bám sát những trụ cột cốt lõi của ngành thú y và chăn nuôi heo toàn cầu. Điểm nhấn của kỳ hội nghị năm nay là dấu ấn rõ nét của khu vực châu Á, trong đó Việt Nam được nhìn nhận là một trong những quốc gia ngày càng có đóng góp nổi bật trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển ngành chăn nuôi heo.
Song song với hoạt động học thuật, khu triển lãm doanh nghiệp dự kiến quy tụ hơn 40 gian hàng của các đơn vị trong và ngoài nước, giới thiệu hàng loạt sản phẩm và giải pháp công nghệ mới nhất phục vụ ngành thú y và chăn nuôi, từ vắc xin, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, con giống đến thiết bị chuồng trại và công nghệ sản xuất hiện đại.
Tại khu chợ sầm uất Trionfale ở thủ đô Rome (Italy), những quầy rau củ đang chứng kiến một sự thay đổi chóng mặt. Trái cây sấy khô hay các loại quả mọng giờ đây bị nhiều khách hàng ví là "đắt như vàng".
Đó là hệ lụy trực tiếp khi những căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông tiếp tục leo thang. Chuỗi cung ứng đứt gãy đã nhanh chóng biến các mặt hàng thiết yếu hằng ngày trở thành gánh nặng tài chính đối với người tiêu dùng đại chúng.
Bà Anna Caruso, chủ một quầy nông sản tại chợ Trionfale, thừa nhận giá cả đã đồng loạt "đội" lên. Chi phí nhiên liệu đắt đỏ kéo theo cước vận tải tăng vọt, khiến các mặt hàng quen thuộc như bí xanh, cà tím hay trái cây đều thiết lập mặt bằng giá mới.
Hành vi của người tiêu dùng cũng lập tức xoay trục. Thay vì mua sắm thoải mái, khách hàng bắt đầu nâng lên đặt xuống. Những loại trái cây đắt tiền bị gạt khỏi giỏ hàng, nhường chỗ cho các lựa chọn "nhẹ ví" hơn như táo hay khoai tây.
"Với nhiều mặt hàng, khách nói thẳng là họ không kham nổi. Người có điều kiện thì vẫn mua, còn đa số đành phải cắt giảm", bà Caruso chia sẻ.
Thực tế này được ông Antonio Rosati, một cư dân địa phương, minh chứng rõ nét. Theo ông, nhóm người cao tuổi có thu nhập thấp đang phải tính toán từng đồng. Thay vì mua 300 gram phô mai Parmesan như trước, họ dè sẻn rút xuống chỉ còn 100 gram và chuyển sang các thực phẩm no lâu, giá rẻ như gạo, mì.
Dữ liệu từ Viện Thị trường Nông nghiệp Italy (ISMEA) cho thấy bức tranh chung khá ảm đạm. So với cùng kỳ năm 2025, giá lê đã tăng 8,5%, táo tăng 3,2%, dâu tây tăng 17% và kiwi tăng 1,8%.
Không riêng Italy, toàn châu Âu đang đối mặt với nguy cơ lạm phát thực phẩm bùng phát trở lại. Theo Euronews Business, việc giá dầu Brent liên tục vượt mốc 100 USD/thùng đang tạo ra một cú sốc dây chuyền.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) chỉ ra 3 kênh chính đang bóp nghẹt chuỗi cung ứng. Thứ nhất là chi phí năng lượng. Việc eo biển Hormuz bị ách tắc khiến giá dầu diesel và khí đốt tăng phi mã, đẩy cước logistics và chi phí vận hành trang trại lên cao.
Thứ hai là cú sốc phân bón. FAO cảnh báo giá phân bón toàn cầu có thể vọt thêm 15-20% trong nửa đầu năm 2026. Giá khí đốt đắt đỏ khiến chi phí sản xuất phân bón nội địa tại châu Âu tăng vọt. Nếu nông dân giảm bón phân để tiết kiệm, năng suất mùa vụ cuối năm sẽ sụt giảm, làm nguồn cung càng thêm khan hiếm.
Thứ ba là sự trỗi dậy của nhiên liệu sinh học. Giá dầu cao kích thích dòng vốn đổ vào sản xuất ethanol và biodiesel. Hàng loạt nông sản như ngô, dầu đậu nành bị chuyển hướng sang làm nhiên liệu thay vì thực phẩm, khiến bàn ăn của người dân càng thêm đắt đỏ.
Áp lực đang đè nặng lên các nhà sản xuất. Ông David Granieri, Phó chủ tịch Hiệp hội nông dân Italy Coldiretti, tính toán rằng những biến động từ Vùng Vịnh có thể "thổi bay" 25% ngân sách của một doanh nghiệp nông nghiệp tầm trung. Đây là một con số cực kỳ nặng nề.
Theo giới phân tích, những quốc gia là trung tâm logistics hoặc phụ thuộc mạnh vào nhiên liệu như Hà Lan, Bỉ, Đức, Pháp và Tây Ban Nha sẽ là những nơi dễ bị tổn thương nhất trước làn sóng tăng giá này.
Dù các chính phủ đang nỗ lực can thiệp, nhưng độ trễ của thị trường vẫn là điều đáng lo ngại. Theo bà Maria Castroviejo, chuyên gia phân tích tại Rabobank, nguồn cung hiện tại có thể vẫn tạm đủ, nhưng áp lực chi phí thực sự sẽ giáng xuống thị trường vào mùa thu tới.
Khi chi phí năng lượng ngấm trọn vẹn vào từng khâu sản xuất và vận chuyển, người tiêu dùng châu Âu có lẽ sẽ còn phải tiếp tục bài toán "thắt lưng buộc bụng" trong một thời gian dài.