Công ty cổ phần Tập đoàn Hóa chất Đức Giang (mã: DGC) vừa gửi công văn lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM về việc xin chậm nộp báo cáo tài chính được kiểm toán năm 2025.
Ngày 17-3, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã công bố việc khởi tố vụ án “Gây ô nhiễm môi trường”, “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” và “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Hóa chất Đức Giang và các đơn vị liên quan.
Hiện nay vụ án vẫn đang trong quá trình điều tra, nhiều hồ sơ, sổ sách và tài liệu kế toán của doanh nghiệp đang bị niêm phong và thu giữ tại cơ quan chức năng. Do vậy, công ty chưa thể thực hiện các thủ tục công tác kiểm toán báo cáo tài chính năm 2025.
Theo quy định tại Thông tư 16/2020 của Bộ Tài chính, công ty đại chúng phải công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo, nhưng không quá 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Như vậy, thời hạn cuối cùng phải nộp là ngày 30-3-2026.
Hóa chất Đức Giang đề nghị được nộp báo cáo này sau ngày 30-3 vì lý do bất khả kháng nêu trên. Doanh nghiệp cam kết ngay sau khi việc kiểm toán báo cáo tài chính năm 2025 có thể tiếp tục được triển khai sẽ phối hợp với công ty kiểm toán và công bố thông tin ngay sau khi hoàn thành.
Ngày 19-3, Hóa chất Đức Giang cho biết sẽ dự kiến tổ chức đại hội đồng cổ đông bất thường vào ngày 8-5. Lý do triệu tập đại hội đồng cổ đông bất thường là số lượng thành viên hội đồng quản trị hiện còn lại ít hơn số lượng tối thiểu theo quy định của pháp luật.
Theo đó, 3 thành viên hội đồng quản trị của Tập đoàn gồm ông Đào Hữu Huyền – Chủ tịch hội đồng quản trị, ông Đào Hữu Duy Anh – Phó chủ tịch hội đồng quản trị và ông Phạm Văn Hùng – Thành viên hội đồng quản trị – đã bị khởi tố và bắt tạm giam.
Kinh Doanh
Sếp VPBankS nói về giá cổ phiếu giảm sau IPO, khẳng định có 'sức' cho vay thêm 30.000 tỉ

Tại đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 diễn ra chiều nay (20-4), lãnh đạo Chứng khoán VPBank - VPBankS (VPX) đã chia sẻ nhiều thông tin đáng chú ý về chiến lược tăng trưởng, nguồn vốn, cũng như triển vọng thị trường chứng khoán thời gian tới.
Khi trả lời cổ đông về tác động của lãi suất đến hoạt động cho vay ký quỹ (margin), ông Nhâm Hà Hải - Tổng giám đốc VPBankS - cho biết cuối năm 2025 dư nợ margin công ty đạt 34.000 tỉ đồng.
Thực tế đến nay theo thông tin từ ông Hải, dư nợ đã vượt 38.000 tỉ đồng, cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh hơn kỳ vọng.
Trước đó tại báo cáo tài chính quý 1-2026, dư nợ margin của công ty này đạt khoảng 36.000 tỉ đồng.
Cũng theo lãnh đạo VPBankS, thương vụ chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) kỷ lục cuối năm ngoái đã đưa vốn chủ sở hữu công ty lên gần 34.000 tỉ đồng, top 2 toàn thị trường. Bởi vậy dù dư nợ lớn song dư địa cho vay margin còn rất lớn, ước khoảng 32.000 - 33.000 tỉ đồng.
Một điểm sáng khác từ thị trường chung được ông Hải nhắc tới, đó là thanh khoản chứng khoán gia tăng đáng kể trong quý 1. Dù khối ngoại bán ròng khoảng 1 tỉ USD, thị trường vẫn cho thấy sức hấp thụ tốt.
Lãnh đạo công ty đánh giá với các yếu tố vĩ mô dự kiến cải thiện, thanh khoản và nhu cầu margin sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Trả lời câu hỏi của cổ đông, ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc VPBank, nhận định sự phát triển nhanh của VPBankS là một phần trong chiến lược tổng thể của ngân hàng nhằm mở rộng sang thị trường vốn, đáp ứng nhu cầu trung và dài hạn của nền kinh tế.
Sự hỗ trợ từ SMBC sẽ tập trung vào năng lực tài chính, quản trị, nguồn nhân lực và đặc biệt là khả năng huy động vốn quốc tế.
Sau chưa đầy 4 năm hoạt động, từ xuất phát điểm gần như không có khách hàng, VPBankS đã phục vụ hàng triệu khách hàng và vươn lên nhóm dẫn đầu về quy mô vốn, tài sản và dư nợ margin.
Ở lĩnh vực ngân hàng đầu tư (IB), VPBankS đã thực hiện tư vấn thành công một thương vụ M&A cho nhà đầu tư nước ngoài.
Đây chính là thương vụ Tập đoàn Thiên Long bán cổ phần cho đối tác ngoại.
Đáng chú ý, VPBankS cũng đang tham gia vào chương trình thử nghiệm (sandbox) về tài sản số, hợp tác với đối tác quốc tế như OKX Venture...
Trong khi đó đề cập tới định giá cổ phiếu, bà Hồ Thúy Nga - Chủ tịch hội đồng quản trị VPBankS - cho biết thị giá cổ phiếu VPX từng tăng lên 34.500 đồng/cổ phiếu sau IPO, nhưng sau đó chịu áp lực giảm do biến động vĩ mô như lãi suất, giá dầu và địa chính trị...
Dù vậy xét về định giá hiện tại, cổ phiếu VPBankS vẫn ở mức hấp dẫn so với ngành. Cụ thể P/B đạt khoảng 1,62 lần (so với trung bình ngành 2,01 lần) và P/E ở mức 12,69 lần (so với 14,74 lần).
Ban lãnh đạo kỳ vọng khi thị trường được nâng hạng và các chính sách đầu tư dài hạn phát huy hiệu quả, giá cổ phiếu sẽ phản ánh đúng giá trị và tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Thaco, VinFast, TC Group kiến nghị giữ ôtô là ngành kinh doanh có điều kiện

Động thái này diễn ra trong bối cảnh Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, trong đó có đề xuất loại bỏ ngành nghề sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ôtô khỏi danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Ba doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực này là các tập đoàn Trường Hải (Thaco), Thành Công (TC Group) và VinFast đồng loạt kiến nghị Thủ tướng, Bộ Công Thương, Tài chính cân nhắc lại đề xuất trên.
Thaco cho rằng việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh với lĩnh vực ôtô chưa phù hợp. Bởi, đây là ngành công nghiệp nền tảng, tác động đến nhiều ngành, đồng thời có khả năng ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường. Do vậy, sản phẩm có yêu cầu rất cao về chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, cộng đồng.
Ôtô cũng có thời gian sử dụng lâu dài với yêu cầu chất lượng cao. Do đó, người tiêu dùng cần được bảo đảm quyền tiếp cận các nhà sản xuất, phân phối có đủ năng lực về bảo hành, bảo dưỡng, cung ứng linh phụ kiện thay thế và triệu hồi sản phẩm lỗi.
"Việc đáp ứng các điều kiện về nhà xưởng, dây chuyền, cơ sở bảo hành, bảo dưỡng không phải rào cản hành chính mà để đảm bảo chất lượng, trách nhiệm của nhà sản xuất suốt vòng đời sử dụng", Thaco nêu.
Cùng quan điểm, phía VinFast khẳng định các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật thể hiện năng lực, cam kết đầu tư nghiêm túc và lâu dài của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe. Hãng cũng kiến nghị giữ lại các thủ tục hành chính trong nhập khẩu, sản xuất ôtô để tránh nguy cơ để lọt các doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu.
"Nguy cơ thiệt hại cho người tiêu dùng càng lớn hơn vì ôtô loại hàng hóa có giá trị cao, kỹ thuật và công nghệ phức tạp", VinFast lo ngại.
Những năm qua, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp như hãng đã đầu tư lớn vào hệ thống nhà xưởng, dây chuyền công nghệ, nhân lực và hệ thống cung ứng nội địa. TC Group cho rằng việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh bắt buộc sẽ không công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp với nhập khẩu ôtô.
"Nếu các điều kiện kinh doanh với xe trong nước và nhập khẩu bị bãi bỏ hoàn toàn, doanh nghiệp nhập khẩu có thể tham gia thị trường với rào cản thấp hơn. Điều này dẫn tới bất lợi cho các doanh nghiệp đã đầu tư và có chiến lược dài hạn vào sản xuất trong nước", hãng cho biết.
Trước đó, khi dự kiến đưa khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện, Bộ Công Thương cũng đề cập tới một số rủi ro tương tự các doanh nghiệp trên. Ngoài ra, cơ quan này cũng cho rằng các quy định hiện hành thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất để sản xuất, lắp ráp ôtô từ linh kiện rời. Nếu bỏ các quy định này, doanh nghiệp có thể nhập khẩu nguyên khối thân xe tương đối hoàn chỉnh và chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp đơn giản. Điều này sẽ khiến ngành công nghiệp ôtô trong nước mất động lực nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Bộ cũng không loại trừ một số quốc gia gần kề như Trung Quốc, đang dư thừa lớn công suất sản xuất ôtô, sẽ chuyển phần dư thừa này sang Việt Nam dưới dạng các dự án FDI lắp ráp đơn giản, nhằm lẩn tránh quy định về xuất xứ, từ đó xuất khẩu sang các quốc gia khác. Khi đó, Việt Nam có nguy cơ bị các quốc gia điều tra về hành vi trung chuyển hàng hóa, bị áp dụng các biện pháp thuế quan trừng phạt với nhiều ngành xuất khẩu khác.
Trong khi đó, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) lại cho rằng phương án bãi bỏ là phù hợp với xu thế cải cách và có đủ cơ sở thực tiễn.
Theo VCCI, hiện nay mọi xe ôtô sản xuất, lắp ráp hoặc nhập khẩu đều phải qua kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi được lưu hành. Hệ thống đăng kiểm, cơ chế triệu hồi sản phẩm khuyết tật và trách nhiệm sản phẩm theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tạo ra lớp bảo vệ hậu kiểm đủ mạnh.
"Giấy chứng nhận sản xuất, lắp ráp và giấy phép kinh doanh nhập khẩu ôtô thực chất là lớp tiền kiểm chồng lên các công cụ quản lý kỹ thuật đã có, làm tăng chi phí tuân thủ mà không bổ sung thêm giá trị bảo vệ an toàn công cộng", VCCI đánh giá.
Cơ quan này đánh giá các yêu cầu về cơ sở bảo hành, ủy quyền chính hãng và giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại từ nước sản xuất tạo rào cản gia nhập rất cao, khiến thị trường nhập khẩu ôtô bị chi phối bởi một số ít doanh nghiệp lớn. Hệ quả là giá ôtô tại Việt Nam vẫn thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN khi so sánh theo sức mua tương đương, trong khi người tiêu dùng có ít lựa chọn hơn.
Về lo ngại trung chuyển hàng hóa và dư thừa công suất, VCCI cho rằng Việt Nam có đủ khung pháp lý về chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ thương mại. Quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên cũng quy định rõ tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa để được hưởng ưu đãi thuế quan. Đây là các công cụ phù hợp với cam kết quốc tế để xử lý vấn đề lẩn tránh xuất xứ, thay vì sử dụng điều kiện kinh doanh như một hàng rào kỹ thuật trá hình.
Thực tế sau hơn 20 năm, tỷ lệ nội địa hóa của ngành ôtô Việt Nam vẫn ở mức thấp, trung bình 7-10% với xe con, so với 70-80% tại Thái Lan. Theo VCCI, thực tế này cho thấy rào cản gia nhập thị trường không phải là công cụ hiệu quả để thúc đẩy nội địa hóa. Thay vào đó, các chính sách như ưu đãi thuế cho linh kiện sản xuất trong nước, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ phù hợp hơn.
Ngoài ra, cơ quan này cũng cho rằng các điều kiện kinh doanh hiện hành được thiết kế cho mô hình sản xuất ôtô truyền thống với các công đoạn hàn, sơn, lắp ráp có thể không còn phù hợp, tạo rào cản cho các nhà đầu tư mới trong lĩnh vực xe điện, xe tự hành. Kinh nghiệm quốc tế tại Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy các nước này không sử dụng cơ chế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp mà quản lý hoàn toàn bằng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế triệu hồi bắt buộc và trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật dân sự.
Vì vậy, VCCI ủng hộ phương án bãi bỏ ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời đề nghị Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế hậu kiểm để bảo đảm an toàn cho người sử dụng, cộng đồng.
Ngành công nghiệp ôtô trong nước đang chiếm trên 3% giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tạo việc làm cho khoảng 200.000 lao động trực tiếp có kỹ năng thuộc lĩnh vực sản xuất lắp ráp ôtô và công nghiệp hỗ trợ. Sản lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước liên tục tăng, từ 323.892 xe năm trong 2020 lên khoảng hơn 500.000 xe trong năm 2025, chiếm khoảng 65-75% tổng số xe bán ra.
Hiện, cả nước có khoảng 650 nhà sản xuất và phụ tùng ôtô tại Việt Nam, trong đó doanh nghiệp cung ứng linh kiện đạt tiêu chuẩn nhà cung ứng cấp 1 cho các hãng ô tô lớn lên tới hơn 400 doanh nghiệp, tăng hơn 200% so với năm 2016.
Tin Gốc: Vnexpress

Năm 2026 được xác định là năm bản lề triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và tính tự chủ của nền kinh tế, lấy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững làm động lực chủ yếu.
Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân chia sẻ thương hiệu quốc gia không còn chỉ là câu chuyện quảng bá hình ảnh hay xúc tiến thương mại theo nghĩa truyền thống, mà phải được xác định là tài sản chiến lược, phản ánh năng lực cạnh tranh tổng thể và uy tín của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
"Xây dựng thương hiệu quốc gia trong kỷ nguyên mới không chỉ là hình ảnh hàng hóa "Made in Vietnam", mà còn là xây dựng uy tín quốc gia và sức mạnh mềm trên trường quốc tế", ông Tân nhấn mạnh.
Tại Diễn đàn Thương hiệu quốc gia với chủ đề "Thương hiệu quốc gia Việt Nam trong kỷ nguyên mới", các diễn giả đã chỉ ra các điểm nghẽn và giải pháp để nâng tầm thương hiệu quốc gia trong thời gian tới.
Ông Hoàng Minh Chiến - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương - cho biết sau hơn 20 năm triển khai chương trình Thương hiệu quốc gia, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ.
Năm 2025, giá trị này đạt 519,6 tỉ USD, xếp thứ 32 trong tổng số 193 nền kinh tế, tăng hơn 200 tỉ USD so với năm 2020.
Tuy vậy, tổng giá trị của 100 thương hiệu doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam năm 2025 chỉ đạt khoảng 38,4 tỉ USD.
Thực tế này phản ánh việc Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu giá trị thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thiên về gia công (OEM), trong khi năng lực thiết kế (ODM) và xây dựng thương hiệu riêng (OBM) còn hạn chế.
"Thương hiệu mạnh không thể dựa mãi vào tài nguyên hay lao động giá rẻ. Nó phải được xây dựng trên hàm lượng tri thức, công nghệ và bản sắc văn hóa", ông Chiến khẳng định.
Theo ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch HĐQT công ty CP Secoin, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM - doanh nghiệp Việt không thiếu sản phẩm tốt, mà thiếu cách kể câu chuyện có giá trị.
Từ những bài học tại Secoin, ông Kỳ cho rằng chiến lược đưa thương hiệu ra quốc tế tập trung trong 5 yếu tố: chất lượng sản phẩm, tính độc đáo, tính đích thực, sự sẵn lòng mua sản phẩm và thân thiện với môi trường.
"Việt Nam muốn nâng tầm thương hiệu quốc gia không chỉ là "made in Vietnam" (sản xuất tại Việt Nam), mà phải là "designed and branded in Vietnam" (được thiết kế và mang thương hiệu Việt Nam)", ông Kỳ nhận định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

