Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 15/6 tới thị trấn nghỉ dưỡng Evian-les-Bains, phía đông nước Pháp, để tham dự hội nghị thượng đỉnh G7. Tại đây, ông sẽ gặp loạt lãnh đạo châu Âu, những người sẽ phải thực hiện nhiệm vụ đầy khó khăn: Tìm cách lấy lòng lãnh đạo Mỹ để tránh gây đổ vỡ quan hệ xuyên Đại Tây Dương, nhưng cũng phải biết cách nói “không” với ông Trump.
Trong năm qua, châu Âu chọn chiều lòng, nhượng bộ gần như vô điều kiện và công khai tán dương Tổng thống Mỹ, đồng thời âm thầm tìm cách điều chỉnh các chính sách của ông. Các thành viên NATO chấp nhận yêu cầu nâng chi tiêu quốc phòng lên mức 5% GDP, phản ứng của châu Âu với các biện pháp áp thuế đối ứng cũng rất hạn chế. Thậm chí, Tổng thư ký NATO Mark Rutte còn so sánh ông Trump với “một người cha” khi xử lý các vấn đề quốc tế.
Nhưng sau nhiều năm tìm cách thích ứng với sự khó đoán của ông Trump, các lãnh đạo châu Âu tuần này được cho là sẽ thay đổi cách tiếp cận để cân bằng giữa hợp tác và sự phản kháng ngày càng tăng đối với áp lực từ Mỹ.
“Châu Âu hiện ở một vị thế khác so với vài năm trước. Họ không còn nhiều dư địa chính trị để nhất nhất đáp ứng mọi yêu cầu từ Washington”, Max Bergmann, giám đốc Chương trình châu Âu, Nga và Á-Âu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), nói.
Mỹ vẫn là cường quốc quân sự không thể thiếu trong liên minh phương Tây, cung cấp đảm bảo an ninh, năng lực tình báo và phần lớn hậu cần của NATO. Nhưng ngày càng nhiều lãnh đạo châu Âu lo ngại Mỹ không còn sẵn sàng đảm nhận vai trò lãnh đạo liên minh xuyên Đại Tây Dương.
Cuộc tranh luận đó càng trở nên cấp bách hơn khi Tổng thống Trump công khai đe dọa kiểm soát Greenland, vùng lãnh thổ thuộc Đan Mạch. Có thời điểm, một số lãnh đạo châu Âu tin rằng ông Trump đã cận kề việc ra lệnh triển khai quân đội Mỹ lên hòn đảo. Đây là động thái có thể đảo ngược vị thế của Mỹ từ cường quốc quân sự chính của NATO thành mối đe dọa quân sự cho chính liên minh này.
“Đó là thời điểm mà liên minh xuyên Đại Tây Dương bắt đầu rạn nứt, khi xu hướng tách rời thực sự bắt đầu diễn ra”, Bergmann nói, thêm rằng các lãnh đạo châu Âu đã tự hỏi họ thực sự nhận được gì từ việc lấy lòng, nhượng bộ trước ông Trump.
Theo Bergmann, hội nghị G7 không chỉ đóng vai trò là diễn đàn để giải quyết các thách thức toàn cầu, mà còn là thước đo cách các đối tác lèo lái qua một kỷ nguyên ngoại giao bất định hơn của Mỹ. Và ít có lãnh đạo nào ủng hộ sự tự chủ của châu Âu mạnh mẽ hơn Pháp, nước chủ nhà của hội nghị lần này.
Trong nhiều năm, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thúc giục châu Âu trở nên độc lập hơn về mặt chiến lược, lập luận rằng châu lục này phải có khả năng bảo vệ các lợi ích của mình và thể hiện sức mạnh ngay cả khi các ưu tiên của Mỹ không còn gắn liền với họ.
Khi bước vào năm cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống, ông Macron vẫn tiếp tục thúc đẩy tầm nhìn đó, ngay cả khi một số chính phủ châu Âu ngần ngại rời xa chiếc ô an ninh của Mỹ.
“Chúng ta phải hành động như những người châu Âu, đoàn kết hơn, tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của chính mình. Và đối với tôi, đây là hướng đi đúng đắn”, ông nói trong cuộc họp của các lãnh đạo Liên minh châu Âu vào tháng 4.
Tuy nhiên, việc ông Macron theo đuổi sự độc lập lớn hơn cho châu Âu không đồng nghĩa với việc từ bỏ Mỹ hay xa lánh ông Trump. Tổng thống Pháp vẫn nỗ lực cân bằng cả hai bên.
Trong những năm qua, ông Macron đã tìm cách lấy lòng Tổng thống Mỹ thông qua sự kết hợp giữa ngoại giao và các màn tiếp đón hoành tráng, như chào đón ông tại Tháp Eiffel, dành cho ông một vị trí ở hàng ghế đầu tại lễ duyệt binh Ngày Quốc khánh Pháp và mời lãnh đạo Mỹ đến dự lễ mở cửa trở lại của Nhà thờ Đức Bà.
Nhưng gần đây hơn, xung đột Mỹ – Iran đã thúc đẩy các chính trị gia châu Âu giữ khoảng cách với cuộc chiến của Mỹ và Tổng thống Trump. Ngay cả đối với một số đồng minh thân cận nhất như Thủ tướng Italy Giorgia Meloni, việc đứng về phía lãnh đạo Mỹ đã trở thành hành động đầy rủi ro, đặc biệt từ cuộc khủng hoảng Greenland và khi cuộc khủng hoảng làm chao đảo nền kinh tế toàn cầu.
Thủ tướng Anh Keir Starmer đến Evian-les-Bains vào thời điểm cả vị thế chính trị trong nước của ông lẫn mối quan hệ với ông Trump “chạm đáy”. Ông Starmer đang đối mặt với thách thức âm ỉ ngay trong nội bộ đảng của mình và đã phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Tổng thống Mỹ vì không đồng ý triển khai lực lượng tham gia chiến dịch tấn công Iran hồi tháng 3.
Ông Trump đã công khai chỉ trích ông Starmer “hèn nhát”, chế giễu các tàu sân bay Anh, mô tả London là “rất không hợp tác”. Điều này đã làm rạn nứt mối quan hệ đặc biệt mà ông Starmer đã dành cả năm đầu tiên nhiệm kỳ để vun đắp.
Lãnh đạo Mỹ cũng đã cho thấy ông sẵn sàng phơi bày sự khác biệt giữa thái độ công khai và những tính toán ngoại giao riêng của các lãnh đạo châu Âu. Năm ngoái, ông Trump đã công khai các tin nhắn riêng cho thấy Tổng thư ký NATO Rutte đã ca ngợi nỗ lực của Tổng thống Mỹ trong việc gây áp lực buộc các nước châu Âu chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng.
Các quan chức Nhà Trắng tiết lộ trước chuyến đi rằng Tổng thống Trump sẽ tiếp tục thúc ép các nước châu Âu đóng vai trò lớn hơn trong việc tăng cường khả năng phòng thủ.
“Mỹ không thể dẫn đầu ở mọi khu vực trên thế giới và cần những quốc gia có năng lực ở châu Âu san sẻ nhiều gánh nặng hơn”, một quan chức cấp cao của chính quyền Trump nói với Washington Post.
Một lãnh đạo châu Âu giấu tên sau đó đã nhận xét rằng nếu ông Trump công khai các tin nhắn tương tự của họ, cử tri ở quê nhà sẽ rất phẫn nộ.
Sự kiện này đã nhấn mạnh thách thức mà nhiều lãnh đạo tham dự hội nghị tại Pháp đang phải đối mặt, đó là cân bằng giữa sự phản kháng công khai đối với ông Trump và những nhượng bộ cần thiết trong các cuộc trao đổi riêng để duy trì mối quan hệ với ông.
Chuyên gia Bergmann đã ví hội nghị thượng đỉnh G7 lần này như “cuộc tụ họp gia đình gượng gạo, nơi bạn phải đến nhà thông gia và ở đó có một ông chú mà bạn chẳng ưa cho lắm”.
“Không ai muốn xảy ra đối đầu trực diện, ngay cả khi đôi lúc mọi chuyện trở nên bằng mặt không bằng lòng. Nhưng vẫn luôn có khả năng mọi thứ sẽ căng thẳng và tình hình có thể trở nên khá kịch tính”, ông nói.
Vài giờ sau khi gần như tất cả các quan chức Israel khác lên tiếng về bản ghi nhớ hiểu biết giữa Mỹ và Iran, Thủ tướng Benjamin Netanyahu cuối cùng đã phát biểu về vấn đề này. Nhà lãnh đạo Israel nói rằng ông và Tổng thống Mỹ Donald Trump “không phải lúc nào cũng có chung quan điểm”.
Trong một cuộc họp báo vào tối 15/6, ông Netanyahu nói rằng sự bất đồng như vậy “vẫn xảy ra trong những gia đình hạnh phúc nhất”.
“Tổng thống Trump và tôi không phải lúc nào cũng có chung quan điểm. Ông ấy là Tổng thống Mỹ, còn tôi là Thủ tướng Israel. Tôi chịu trách nhiệm về các lợi ích an ninh của Israel, và điều đó cần phải được thực hiện một cách khôn ngoan”, ông Netanyahu nói.
Khi được hỏi liệu thỏa thuận này có đạt được ngoài ý muốn đối với lập trường của ông hay không, ông Netanyahu nhấn mạnh mối quan hệ lâu năm của mình với ông Trump.
“Hành động một cách khôn ngoan đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm và sự am hiểu sâu sắc về Mỹ. Tôi tin rằng mình đang thực hiện điều này theo cách tốt nhất có thể”, ông nói.
Trong bài phát biểu, ông Netanyahu phần lớn né tránh đề cập trực tiếp đến thỏa thuận Mỹ - Irana mà tập trung vào những gì ông mô tả là “thành tựu to lớn” trong các chiến dịch của Israel chống lại Iran và trên khắp Trung Đông.
“Có hay không có thỏa thuận, Iran vẫn sẽ không có vũ khí hạt nhân, không phải hôm nay và cũng không phải ngày mai. Chừng nào tôi còn là Thủ tướng Israel, điều đó sẽ không xảy ra. Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc. Chúng ta sẽ cần phải tiếp tục cảnh giác, mạnh mẽ và kiên quyết để tự bảo vệ mình khi cần”, ông nói.
Ông Netanyahu cũng nêu rõ rằng Israel không có ý định rút quân khỏi miền Nam Li Băng, Gaza hay Syria. “Chúng ta sẽ ở lại các vùng an ninh này cho đến chừng nào còn cần thiết để bảo vệ đất nước của mình”, ông phát biểu.
Trả lời câu hỏi từ các phóng viên, ông Netanyahu thừa nhận sự mơ hồ về chính thỏa thuận này. “Chúng ta vẫn chưa biết thỏa thuận đó sẽ như thế nào”, ông nói.
Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian hôm qua cho biết một bản ghi nhớ hiểu biết với Mỹ đại diện cho một bước tiến quan trọng hướng tới việc chấm dứt xung đột và bắt đầu các cuộc đàm phán, nhưng ông nhấn mạnh rằng một thỏa thuận cuối cùng vẫn chưa được hoàn tất.
“Thỏa thuận đạt được là một bước đi quan trọng hướng tới việc ngăn chặn chiến tranh và khởi động các cuộc đàm phán, và một thỏa thuận cuối cùng vẫn chưa được chính thức hóa”, ông Pezeshkian viết trong một loạt bài đăng trên mạng xã hội X.
Ông cho biết Iran đã chuẩn bị “cho tất cả các phương án” và trọng tâm của chính phủ, “dù có hay không có thỏa thuận,” vẫn sẽ là phục vụ nhân dân Iran.
Ông Pezeshkian nhấn mạnh, bản ghi nhớ là kết quả của nhiều tháng thảo luận và theo dõi liên tục. Nếu các điều khoản của nó được thực hiện một cách đúng đắn, nó “có thể được coi là một tài liệu danh giá cho đất nước”, ông nói thêm.
Theo Hãng tin Reuters, một quan chức cấp cao trong chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 30-4 cho biết lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran từ đầu tháng 4 được xem là đã "chấm dứt" tình trạng thù địch giữa hai nước, qua đó có thể giúp Washington vượt qua mốc thời hạn theo Luật Quyền hạn chiến tranh của Quốc hội mà không cần thay đổi chiến lược hiện tại.
"Xét theo Nghị quyết Quyền hạn chiến tranh, các hành động thù địch bắt đầu từ ngày 28-2 đã chấm dứt", ông nói, đồng thời nhấn mạnh không có cuộc giao tranh nào giữa lực lượng Mỹ và Iran kể từ khi lệnh ngừng bắn mong manh có hiệu lực hơn ba tuần qua.
Lập luận này cho phép Nhà Trắng duy trì hiện trạng quân sự mà không cần sự phê chuẩn mới từ Quốc hội, vì họ cho rằng lệnh ngừng bắn đã "ngắt quãng" trạng thái xung đột.
Phát biểu được đưa ra trong bối cảnh ông Trump đối mặt hạn chót ngày 1-5 để chấm dứt chiến sự, hoặc phải trình bày trước Quốc hội về việc gia hạn. Tuy nhiên nhiều khả năng mốc thời gian này sẽ trôi qua mà không làm thay đổi hướng đi của cuộc chiến.
Trước đó giới phân tích và các trợ lý Quốc hội dự đoán chính quyền Mỹ có thể thông báo gia hạn thêm 30 ngày hoặc phớt lờ thời hạn, với lập luận rằng lệnh ngừng bắn đồng nghĩa xung đột đã kết thúc.
Theo luật năm 1973, Tổng thống Mỹ được phép tiến hành hành động quân sự trong vòng 60 ngày trước khi phải chấm dứt, xin phép Quốc hội hoặc đề nghị gia hạn thêm 30 ngày vì "nhu cầu quân sự không thể tránh khỏi".
Trong khi đó, cuộc chiến với Iran bắt đầu từ ngày 28-2 sau các cuộc không kích của Mỹ và Israel. Hai ngày sau, ông Trump chính thức thông báo với Quốc hội, kích hoạt thời hạn 60 ngày kết thúc vào ngày 1-5.
Đồng thời tại phiên điều trần Thượng viện hôm 30-4, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth cũng cho rằng "đồng hồ 60 ngày" đã dừng lại trong thời gian ngừng bắn. Tuy nhiên phe Dân chủ phản đối quan điểm này, khẳng định không có quy định pháp lý nào cho phép điều này.
Hiến pháp Mỹ quy định chỉ Quốc hội có quyền tuyên chiến, nhưng quy định này thường không áp dụng với các chiến dịch quân sự ngắn hạn hoặc nhằm đối phó mối đe dọa khẩn cấp.
Hiện Đảng Cộng hòa của ông Trump đang nắm đa số sít sao tại Quốc hội. Các nỗ lực của phe Dân chủ nhằm buộc Nhà Trắng rút quân hoặc xin phép Quốc hội từ khi xung đột nổ ra đều đã bị bác bỏ.
"Các đơn vị thuộc cánh quân Tây đã hoàn toàn giải phóng Cộng hòa Nhân dân Lugansk (LPR). Lực lượng Nga còn kiểm soát thêm hai khu dân cư là Verkhnyaya Pisarevka ở tỉnh Kharkov và Boykovo tại tỉnh Zaporizhzhia", Bộ Quốc phòng Nga cho biết hôm 1/4.
LPR là cách Nga gọi tỉnh Lugansk, một trong hai địa phương thuộc vùng Donbass.
Giới chức Ukraine sau đó bác bỏ thông tin của Nga. Quân đội Ukraine khẳng định lực lượng nước này vẫn hiện diện tại Lugansk và đang giữ vững "những tuyến phòng thủ cuối cùng" trong khu vực. Một phát ngôn viên quân đội Ukraine nói với Reuters rằng "không có thay đổi đáng kể nào trên chiến trường" tạiLugansk trong khoảng 6 tháng gần đây.
Lữ đoàn Xung kích số 3 Ukraine cho biết các đơn vị trực thuộc vẫn hoạt động tại tỉnh này, đồng thời mô tả tuyên bố của Nga là "đòn tâm lý chiến".
Hơn 99% diện tích Lugansk trên thực tế đang do lực lượng Nga kiểm soát, ngoại trừ một phần nhỏ ở phía tây còn đang giằng co. Các nhóm theo dõi chiến sự nhận định một số khu vực tại Lugansk vẫn thuộc vùng xám, khu vực đang giao tranh và không thực sự nghiêng về bên nào.
Điện Kremlin thời gian qua giữ nguyên yêu cầu Ukraine rút toàn bộ lực lượng khỏi phần còn lại của vùng Donbass để chấm dứt "giai đoạn nóng" của xung đột. Yuri Ushakov, cố vấn đối ngoại của Tổng thống Nga Vladimir Putin, cho rằng triển vọng giải quyết các vấn đề ngoại giao, bao gồm chấm dứt chiến sự, sẽ rộng mở hơn nếu Kiev đưa ra quyết định rút quân.
Kiev nhiều lần bác bỏ yêu cầu này, coi đây là điều không thể nhượng bộ. Tổng thống Volodymyr Zelensky cuối tuần qua cho biết Nga đã đưa ra tối hậu thư yêu cầu Ukraine rút quân khỏi Donbass trong vòng hai tháng, nếu không Moskva sẽ tăng thêm yêu cầu trong đàm phán hòa bình do Washington làm trung gian.