Một buổi sáng đầu mùa mưa Tây nguyên, PV Thanh Niên theo cán bộ kiểm lâm vượt hơn 10 km đường rừng để đến khu vực chăn thả voi nhà của Vườn quốc gia Yók Đôn. Những tấm biển cảnh báo được dựng dọc lối đi nhằm thông tin cho người dân và du khách về khu vực sinh sống của voi.
Giữa khu rừng khộp, quản tượng Y Mức Kđoh (48 tuổi) đang lặng lẽ theo chân voi cái Y Khun đi tìm nguồn nước. Người đàn ông có hơn hai thập niên gắn bó với nghề quản tượng kể câu chuyện đời mình gắn liền với số phận của con voi này.
“Năm 2001, tôi vào làm việc tại Vườn quốc gia Yók Đôn. Khi đó vườn mua lại 4 cá thể voi của người dân để phục vụ công tác bảo tồn, trong đó có voi của chính gia đình tôi. Voi vào vườn thì tôi cũng theo vào chăm sóc đến tận bây giờ”, ông kể.
Từ ngày ấy, Y Mức Kđoh gần như dành trọn cuộc đời cho Y Khun. Trước khi được sống giữa rừng, Y Khun từng giống nhiều voi nhà Yók Đôn khác: ngày ngày chở khách du lịch trên lưng. Những ký ức ấy vẫn khiến người quản tượng trăn trở.
Theo ông, thời điểm làm du lịch, voi thường phải đứng hàng giờ dưới nắng để chờ khách. Chúng bị cột một chỗ, không được tự do kiếm ăn hay lựa chọn những loại cây cỏ yêu thích. Việc vận động không phù hợp cùng chế độ dinh dưỡng hạn chế khiến sức khỏe nhiều cá thể voi suy giảm đáng kể.
“Nhìn voi lúc đó thương lắm. Nó không được đi lại, không được ăn uống theo nhu cầu tự nhiên. Sức khỏe giảm sút thấy rõ”, ông nhớ lại.
Bước ngoặt đến khi mô hình du lịch thân thiện với voi được triển khai tại Yók Đôn. Những chuyến cưỡi voi dần được thay thế bằng hình thức tham quan, quan sát voi trong môi trường tự nhiên. Khi được trả về rừng, Y Khun thay đổi từng ngày.
“Voi được đi lại tự do, tự tìm thức ăn, tự chọn nơi uống nước. Tính cách cũng nhanh nhẹn, vui vẻ hơn trước rất nhiều. Điều quý nhất là được sống cùng đồng loại, cùng đi kiếm ăn dưới tán rừng”, Y Mức Kđoh nói với nụ cười hiếm hoi trên gương mặt sạm nắng.
Trả voi nhà về thiên nhiên cũng đồng nghĩa đưa chúng trở lại với những quy luật khắc nghiệt của rừng già. Trong ký ức của Y Mức Kđoh, có một đêm năm 2017 mà ông chưa từng quên.
Chiều hôm đó, khi đang tìm vị trí an toàn để cột voi Y Khun, ông bất ngờ phát hiện một con voi rừng đực trưởng thành xuất hiện gần đó. Đi xuôi chiều gió, Y Khun không phát hiện mối nguy, trong khi con voi rừng đã đánh hơi được sự hiện diện của voi cái. Nó lập tức lao tới.
Trong khoảnh khắc Y Khun hoảng loạn bỏ chạy, người quản tượng đưa ra quyết định đầy mạo hiểm. Ông lao ngang trước đầu voi rừng, bật đèn pin và liên tục hò hét để thu hút sự chú ý của con vật đang trong thời kỳ động dục. Mục đích duy nhất là kéo sự truy đuổi về phía mình để Y Khun có cơ hội thoát thân.
Chiều muộn hôm ấy, Y Khun tạm thời được đưa về khu vực gần một con suối nhỏ. Nhưng sự việc chưa dừng lại. Khi màn đêm buông xuống, con voi rừng tiếp tục lần theo dấu vết và tìm đến nơi Y Khun đang đứng. Nó ép chặt voi cái vào một gốc cây lớn để tấn công.
“Tôi đã về khu dân cư thì nhận được tin Y Khun bị voi rừng tấn công. Tôi lập tức quay lại, chặt tre làm bó đuốc thật dài rồi tìm cách xua đuổi”, ông kể.
Nhưng đối thủ lần này không hề dễ đối phó. “Con voi rừng rất khôn. Hai lần liên tiếp nó dùng vòi chụp lấy ngọn lửa rồi dập tắt”, ông nhớ lại, giọng vẫn còn nguyên sự căng thẳng.
Trước tình thế nguy hiểm, Y Mức Kđoh tiếp tục dùng đèn pin chiếu thẳng vào mắt voi rừng rồi chạy ra phía đường lớn để đánh lạc hướng.
Kế hoạch thành công. Con voi rừng chuyển sự chú ý sang ông, tạo khoảng trống để Y Khun chạy thoát qua khu vực cầu cứu hộ của vườn. “Đó là lần nguy hiểm nhất mà tôi từng trải qua. Voi rừng muốn giao phối nên rất hung dữ. Nếu sơ suất một chút là có thể mất mạng”, ông nói.
Đến nay, những cuộc chạm trán giữa voi nhà và voi rừng vẫn thỉnh thoảng xảy ra. Vì vậy, các quản tượng và cán bộ Vườn quốc gia Yók Đôn luôn phải tính toán kỹ lưỡng vị trí chăn thả để giảm nguy cơ xung đột.
Hơn 20 năm theo nghề, Y Mức Kđoh hiểu rằng chỉ tình yêu đặc biệt dành cho voi mới giúp người ta gắn bó với công việc đầy gian nan này. Suốt sáu tháng mùa khô khắc nghiệt và sáu tháng mùa mưa dầm dề của rừng khộp, ông vẫn đều đặn theo dấu đàn voi mỗi ngày.
Mùa mưa, thức ăn trong rừng dồi dào hơn. Mùa khô, khi cây cối trút lá, ông cùng cán bộ vườn và các tổ chức bảo tồn trồng thêm chuối, cỏ và nhiều loại cây thức ăn để bổ sung dinh dưỡng cho voi.
Ban ngày, các quản tượng theo sát đàn voi. Đêm xuống, nhiệm vụ bảo vệ lại được chuyển cho lực lượng tuần tra của Vườn quốc gia Yók Đôn. Sự phối hợp ấy đã tạo thành “lá chắn” bảo vệ voi nhà Yók Đôn trước những hiểm nguy giữa rừng già.
Nhiều năm đã trôi qua kể từ ngày những chiếc xích sắt được tháo bỏ. Giờ đây, thay cho cảnh voi đứng lặng chờ khách du lịch là hình ảnh những đàn voi tự do bước đi giữa rừng khộp, kiếm ăn bên suối và hòa mình vào thiên nhiên.
Từ hành trình ấy, mô hình du lịch thân thiện theo dấu chân voi đang dần trở thành điểm nhấn đặc biệt của Yók Đôn, góp phần gìn giữ những cá thể voi nhà cuối cùng của Tây nguyên, đồng thời mang đến cho du khách cơ hội chứng kiến cuộc sống chân thực của những “cư dân khổng lồ” giữa đại ngàn.
Ngày 31/5, Bộ Tư lệnh TP HCM đưa ông Võ Huy Thịnh, 70 tuổi, đến khảo sát tại công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng. Ông Thịnh cho biết từng chứng kiến cảnh chôn cất tập thể các chiến sĩ tại nghĩa trang Đô Thành, nay là công viên Lê Thị Riêng, cách đây 58 năm.
Thời điểm đó, ông Thịnh 12 tuổi, đang học lớp đệ lục (tương đương lớp 7 hiện nay). Do các trận đánh liên tiếp xảy ra trong nội thành Sài Gòn, trường học đóng cửa. Khoảng 10h một ngày sau Tết Mậu Thân, ông cùng nhóm bạn từ khu vực Ngã ba Ông Tạ đến nghĩa trang Đô Thành chơi.
Tại đây, ông thấy xe tải của quân đội Việt Nam Cộng hòa chạy vào nghĩa trang trên đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám), chở khoảng chục thi thể đã phân hủy, trương phình, không còn nguyên vẹn do trúng bom đạn, trong đó có một số người mặc đồ bà ba đen.
Theo lời kể của ông, nhân viên Sở Vệ sinh dùng cáng đưa các thi thể xuống hố hình chữ nhật dài hơn 10 m, sâu khoảng 5 m, rồi rải một lớp bột màu trắng để giảm mùi hôi. "Các thi thể được xếp chồng lên nhau ngay ngắn như hộp cá mòi rồi xe ủi lấp đất lại", ông Thịnh nói.
Ông xác định vị trí hố chôn cách cổng nghĩa trang khoảng 50 m, lệch về bên trái theo hướng nhìn từ đường Lê Văn Duyệt. Đối chiếu với sơ đồ nghĩa trang Đô Thành trước đây và công viên Lê Thị Riêng hiện nay, ông cho rằng khu vực này có thể nằm gần nhà truyền thống phía sau cổng công viên trên đường Cách Mạng Tháng Tám, cách cư xá Bắc Hải khoảng 500 m.
Sau năm 1975, ông Thịnh nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại Campuchia. Năm 1978, ông bị thương, thủng màng nhĩ và trở về TP HCM sinh sống. "Tôi luôn nhớ cảnh chôn cất tập thể hôm đó và mong góp sức tìm kiếm các liệt sĩ", ông nói.
Dẫn đầu đoàn khảo sát, thiếu tướng Nguyễn Thành Trung, Chính ủy Bộ Tư lệnh TP HCM, cho biết việc khởi động quá trình tìm kiếm xuất phát từ bức ảnh do cựu phóng viên AP (Mỹ) gửi về gần đây. Tấm hình ghi lại cảnh hai người đàn ông cùng ba trẻ em đứng quan sát việc chôn cất các chiến sĩ tại khu đất trống thuộc nghĩa địa Chí Hòa, còn gọi là nghĩa địa Đô Thành.
Kết hợp nhiều tài liệu lịch sử, thiếu tướng Trung cho biết sau chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, khu vực nay là công viên Lê Thị Riêng từng là nơi chôn tập thể các chiến sĩ đặc công, biệt động Sài Gòn trong hai rãnh sâu hình chữ nhật.
Trước khi công viên được xây dựng năm 1983, lực lượng chức năng từng quy tập hơn chục hài cốt liệt sĩ tại đây. Từ các tư liệu, hình ảnh và lời kể nhân chứng, đơn vị quân đội bước đầu nhận định hố chôn tập thể có thể nằm gần khu nhà truyền thống và cầu Thê Húc trong công viên.
Theo thiếu tướng Nguyễn Thành Trung, sau buổi khảo sát, Bộ Tư lệnh TP HCM sẽ báo cáo Ban chỉ đạo tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Quân khu 7; đồng thời tổ chức hội thảo để tổng hợp thông tin, khoanh vùng khu vực nghi vấn.
Đơn vị cũng dự kiến phối hợp Khoa Vật lý địa cầu, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM sử dụng thiết bị khảo sát địa vật lý bằng sóng siêu âm (sonar) để kiểm tra lòng đất tại các vị trí nghi có hài cốt liệt sĩ trước khi xây dựng phương án quy tập.
Ngày 15.5, tại phiên xét xử sơ thẩm vụ án ma túy đặc biệt nghiêm trọng ở Quảng Ninh, bị cáo Bùi Đình Khánh được HĐXX cho nói lời sau cùng trước khi tòa nghị án.
Trước bục khai báo, Bùi Đình Khánh gửi lời xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho nhóm bị cáo phạm tội che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm.
Bị cáo Khánh nói rằng, nhiều người liên quan chỉ vì tình cảm cá nhân nên vô tình vi phạm pháp luật sau khi bị cáo chủ động liên lạc nhờ giúp đỡ trong quá trình bỏ trốn.
Bùi Đình Khánh đề nghị HĐXX cân nhắc hoàn cảnh của một số bị cáo như Hồ Thị Thư, là mẹ nuôi đang lớn tuổi, sức khỏe yếu và phải chăm lo gia đình. Ngoài ra, các bị cáo Triệu Thị Hiền, Triệu Nguyễn Hoài Thương, Lò Văn Minh là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế và có hoàn cảnh khó khăn.
Trong lời nói sau cùng, Bùi Đình Khánh thừa nhận bản thân "thiếu tu dưỡng đạo đức, thiếu ý chí trước lòng tham nên gục ngã".
"Mặc dù được ăn học, gia đình có truyền thống cách mạng nhưng bị cáo đã sa ngã trước lợi nhuận, thực hiện hành vi buôn bán ma túy, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng", Bùi Đình Khánh trình bày tại tòa.
Bị cáo cũng cho rằng vụ án khiến nhiều gia đình tan nát, nhiều người vướng vòng lao lý.
"Nhiều gia đình tan nát, tất cả đều là do những người như bị cáo có nhận thức về pháp luật còn kém. Vì lòng tham nên bị gục ngã trước cám dỗ", Bùi Đình Khánh nói.
"Trùm" ma túy cũng gửi lời xin lỗi đến gia đình bị cáo, đặc biệt là mẹ bị cáo. Bùi Đình Khánh nói rằng, bản thân là con trưởng trong gia đình, đã phụ sự mong đợi của mẹ, đã không làm tròn trách nhiệm của một người con với gia đình.
Ngoài ra, Bùi Đình Khánh gửi lời chia buồn tới gia đình thiếu tá Nguyễn Đăng Khải, cán bộ công an hy sinh trong quá trình truy bắt nhóm tội phạm ma túy.
Khi được HĐXX hỏi có đề nghị gì cho bản thân, Bùi Đình Khánh khẳng định không xin giảm nhẹ hình phạt. "Bị cáo thấy bản án đó là thích đáng với mình. Đúng người, đúng tội, không có gì sai", Bùi Đình Khánh nói.
Theo cáo trạng, Bùi Đình Khánh giữ vai trò trung tâm trong đường dây mua bán ma túy xuyên tỉnh, trực tiếp cất giấu heroin, chuẩn bị súng AK, đạn và lựu đạn để phục vụ giao dịch ma túy và chống trả lực lượng chức năng.
Đại diện Viện KSND tỉnh Quảng Ninh trước đó đã đề nghị tuyên tử hình Bùi Đình Khánh về các tội giết người và mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt đề nghị là tử hình.
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27.7.1947 – 27.7.2026), trong ngày 26 và 27.7, Hội Nhà báo phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Khánh Hòa tổ chức thăm, tặng quà cho 30 gia đình người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn tại xã Cà Ná và xã Diên Điền.
Mỗi gia đình được trao một suất quà trị giá 2,5 triệu đồng (gồm 2 triệu đồng tiền mặt và phần quà trị giá 500.000 đồng). Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm tri ân những người đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời góp phần động viên các gia đình chính sách vươn lên trong cuộc sống.
Trong đó, ngày 26.7, đoàn đã trao 15 suất quà cho các gia đình chính sách tại xã Cà Ná. Tiếp đó, ngày 27.7, đoàn trao 15 suất quà cho các thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, người có công giúp đỡ cách mạng và nạn nhân chất độc hóa học tại xã Diên Điền.
Tại xã Diên Điền, đoàn công tác đã đến thăm hỏi trực tiếp tại nhà bà Nguyễn Thị Bẹ (89 tuổi), người có công giúp đỡ cách mạng, từng bị địch bắt tù đày và bà Phan Thị Cúc (81 tuổi), thương binh, từng bị địch bắt tù đày. Tại mỗi gia đình, các thành viên trong đoàn ân cần thăm hỏi sức khỏe, đời sống, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những cống hiến, hy sinh của các mẹ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời chúc các mẹ luôn mạnh khỏe, sống vui, hạnh phúc bên con cháu.
Xúc động trước sự quan tâm của đoàn công tác, bà Phan Thị Cúc gửi lời cảm ơn Hội Nhà báo và Hội Chữ thập đỏ tỉnh Khánh Hòa đã dành sự quan tâm, động viên các gia đình chính sách đúng dịp kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Bà mong muốn trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều hoạt động thiết thực nhằm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người có công với cách mạng.
Đại diện Hội Chữ thập đỏ tỉnh Khánh Hòa cho biết, hoạt động thăm, tặng quà người có công là việc làm thường niên, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "đền ơn đáp nghĩa" của dân tộc. Thông qua chương trình, hội mong muốn góp phần lan tỏa truyền thống tốt đẹp ấy, đồng thời phát huy trách nhiệm xã hội của đội ngũ những người làm báo trong các hoạt động an sinh, hướng về cộng đồng.