TP.HCM di dời cảng, trả lại không gian cho nội đô

TP.HCM di dời cảng, trả lại không gian cho nội đô

Sở Xây dựng TP.HCM được giao làm đầu mối tham mưu, phối hợp Bộ Xây dựng và các đơn vị liên quan lập phương án, xác định lộ trình di dời toàn bộ các cảng biển còn lại trong khu vực nội đô. Mục tiêu cốt lõi là kéo giảm tình trạng ùn tắc giao thông nghiêm trọng tại các trục đường cửa ngõ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hiện thực hóa chiến lược phát triển đô thị bền vững.

Thực tế, từ những năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 791 phê duyệt quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Đông Nam bộ, đặt ra chủ trương di dời các cảng trên sông Sài Gòn và sông Nhà Bè ra khỏi khu vực trung tâm. Kế hoạch di dời hệ thống cảng biển nội đô của TP.HCM đã chính thức bắt đầu từ Quyết định 1589 năm 2008. Lộ trình này bao gồm một số mục quan trọng như di dời các cảng sông Sài Gòn, chuyển đổi các cảng lớn ở khu vực nội thành như Cảng Nhà Rồng – Khánh Hội, Cảng Tân Thuận hay Cảng Ba Son ra khỏi trung tâm. Quỹ đất ven sông sau khi di dời cảng được định hướng chuyển đổi sang làm công viên, không gian công cộng, thương mại – dịch vụ và phát triển hạ tầng giao thông (như khu vực Nhà Rồng – Khánh Hội gắn liền với Bảo tàng Hồ Chí Minh hay việc xây cầu Thủ Thiêm 4).

Cùng với đó, hoạt động hàng hải và hạ tầng logistics chính được quy hoạch dịch chuyển về các khu cảng ngoại thành có luồng lách sâu và hạ tầng kết nối tốt hơn như Cát Lái – Phú Hữu, Hiệp Phước (Nhà Bè) và cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải (khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu cũ).

Trong hơn 2 thập niên qua, TP.HCM đã triển khai được một phần lớn như khu vực Ba Son hay một số bến cảng nội đô đã ngừng đón tàu tải trọng lớn. Điển hình như Tân Cảng tại Q.Bình Thạnh cũ đã hoàn thành di chuyển hoạt động sang Cát Lái và Hiệp Phước, nhường quỹ đất để hình thành các khu đô thị ven sông hiện đại. Hay tại Cảng Sài Gòn khu vực Nhà Rồng – Khánh Hội, hoạt động bốc xếp hàng hóa đã dừng hẳn để chuyển đổi công năng thành công viên văn hóa, bến tàu du lịch kết nối trực tiếp với không gian trung tâm. Hiện nay, Cảng Tân Thuận tại Q.7 cũ cũng đang trong lộ trình thu hẹp và di dời, tạo điều kiện quan trọng để chuẩn bị mặt bằng thi công cầu Thủ Thiêm 4.

Việc di dời hệ thống cảng biển ra khỏi nội đô cũng đã chứng minh tác động tích cực rất lớn. Trước đây, các tuyến đường như Nguyễn Hữu Cảnh, Tôn Đức Thắng hay Nguyễn Tất Thành luôn rơi vào tình trạng báo động đỏ về kẹt xe và rủi ro tai nạn do dòng xe container di chuyển liên tục. Khi các bến cảng rút đi, diện mạo khu vực lập tức thay đổi, trả lại không gian sống an toàn, giảm thiểu khói bụi và mở ra không gian công cộng xanh mát ven sông cho người dân.

Đánh giá về chủ trương thúc đẩy lộ trình di dời cảng biển của thành phố, TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, khẳng định đây là bước đi tất yếu để tái cấu trúc không gian kinh tế và phát triển đô thị bền vững. Điểm sáng lớn nhất là giúp giảm tải áp lực giao thông nội đô khi loại bỏ hàng ngàn lượt xe container, xe tải nặng lưu thông trên các trục đường huyết mạch mỗi ngày, giải quyết triệt để các “nút thắt cổ chai” và giảm thiểu rủi ro tai nạn. Đồng thời, môi trường sống của người dân được cải thiện rõ rệt nhờ hạn chế tiếng ồn, bụi mịn và khí thải.

Không những thế, việc di dời các khu cảng cũ như Cảng Nhà Rồng – Khánh Hội, Tân Thuận, Ba Son còn giúp giải phóng “quỹ đất vàng” ven sông. Sông Sài Gòn là “mặt tiền” tự nhiên quý giá nhất của thành phố. Nhiều thập niên qua, việc các cảng biển chiếm giữ các dải đất vàng ven sông từ Bình Thạnh, Q.1 đến Q.4 và Q.7 (cũ) đã chia cắt không gian đô thị, làm hạn chế khả năng tiếp cận bờ sông của cộng đồng. Khi di dời triệt để các cảng biển còn lại, TP.HCM sẽ nối liền được chuỗi cảnh quan kiến trúc, dịch vụ từ bến Bạch Đằng xuyên qua khu vực Q.4 cũ đến Nam Sài Gòn. Hiện nay, TP.HCM còn có dư địa mở rộng không gian công cộng, xây dựng công viên, phát triển hạ tầng giao thông như dự án cầu Thủ Thiêm 4 và các công trình dịch vụ thương mại giá trị cao.

Về mặt logistics, việc chuyển dịch công năng về các khu bến ngoại thành có luồng lạch sâu, hạ tầng kết nối tốt hơn như Cát Lái – Phú Hữu, Hiệp Phước, cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải và định hướng cụm cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ giúp tối ưu hóa đáng kể năng lực cạnh tranh, đón đầu xu hướng hàng hải quốc tế. “Các luồng sông nội đô như sông Sài Gòn không còn đủ độ sâu và độ rộng tĩnh không cầu để đón các tàu container tải trọng thế hệ mới. Việc rút khỏi các sông nội đô để tập trung phát triển Cụm cảng Hiệp Phước, Cảng Cái Mép – Thị Vải và đặc biệt là Siêu cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ trong tương lai là định hướng chiến lược hoàn toàn đúng đắn, giúp thành phố tiến thẳng ra Biển Đông và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Thuận nói.

Đặc biệt, nhìn vào cơ hội phát triển liên vùng sau khi sáp nhập và mở rộng không gian, TS Phạm Viết Thuận đánh giá TP.HCM đang sở hữu mạng lưới cảng biển liên hoàn cực kỳ giá trị từ sông Sài Gòn, Cát Lái (sông Soài Rạp) đến cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải. Lợi thế cốt lõi là tạo ra chuỗi cung ứng logistics xuyên suốt, trực tiếp kết nối cụm cảng quốc tế với sân bay Long Thành, thu hút các tuyến tàu mẹ trọng tải lớn để vươn tầm thành trung tâm kinh tế biển toàn cầu.

Phân tích cụ thể các lợi thế này, ông nhấn mạnh việc hợp nhất TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu giúp tối ưu hóa không gian liên vùng, phá vỡ ranh giới hành chính để quy hoạch mạng lưới giao thông đồng bộ, giảm chi phí vận tải. Đồng thời, không gian mới kích hoạt phát triển cảng nước sâu Cần Giờ – cửa ngõ chiến lược ôm trọn vịnh Gành Rái với luồng nước sâu tự nhiên lý tưởng cho siêu tàu container, biến TP.HCM thành trung tâm trung chuyển quốc tế cạnh tranh trực tiếp trong khu vực, song song với giảm tải rõ rệt cho khu vực nội đô.

Chuyên gia quy hoạch, kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn cũng nhận định sau quá trình mở rộng không gian liên kết vùng và phát triển hệ thống vành đai, cao tốc, đặc biệt trong bối cảnh tái cấu trúc không gian kinh tế vùng Đông Nam bộ, TP.HCM đang đứng trước cơ hội xây dựng lại toàn bộ bản đồ logistics theo hướng hiện đại và liên kết vùng.

Kinh nghiệm từ các trung tâm logistics lớn như Thâm Quyến hay Singapore cho thấy vận tải thủy và vận tải chuyên biệt phải trở thành “xương sống” của logistics đô thị. Hàng hóa cần được vận chuyển trực tiếp từ trung tâm sản xuất đến cảng trung chuyển bằng các hành lang logistics riêng biệt, hạn chế tối đa container đi xuyên khu dân cư. Quan trọng hơn, toàn bộ chuỗi vận hành cần được tự động hóa và kết nối đồng bộ nhằm giảm chi phí logistics, vốn đang là điểm yếu lớn của VN.

  Thuê nhà 900 triệu, doanh nghiệp được tính thuế nộp thay vào chi phí ra sao?

Từ đó, TP.HCM cần quy hoạch lại toàn bộ hệ thống logistics theo tầm nhìn vùng, thay vì tư duy cục bộ từng khu vực như trước đây. Những cảng cạn, ICD không còn phù hợp cần từng bước chuyển đổi công năng để phát triển đô thị, không gian công cộng và các trung tâm dịch vụ giá trị cao hơn. Trong khi đó, logistics tải nặng nên được dịch chuyển ra các hành lang và trung tâm hậu cần kết nối vành đai, cao tốc, cảng biển và sân bay.

Chủ trương đã thống nhất từ 20 năm trước, song, theo Sở Xây dựng, bài toán di dời cảng chưa thể hoàn thành dứt điểm do vướng nhiều thách thức lớn. Khi các cảng di dời ra vùng ven như Cát Lái hay Hiệp Phước, áp lực giao thông lại đổ dồn về các tuyến đường vành đai, khiến khu vực đường Nguyễn Thị Định, Đồng Văn Cống hay Huỳnh Tấn Phát liên tục quá tải. Tình trạng kẹt xe vô hình trung bị đẩy từ trung tâm ra ngoại thành do hạ tầng giao thông kết nối chưa hoàn thiện kịp. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư bến cảng mới cực kỳ tốn kém, giải phóng mặt bằng phức tạp, cùng với việc tăng chi phí vận tải nội địa cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khiến tiến độ di dời trong nhiều thời điểm bị chững lại.

Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn lưu ý: Di dời cảng khỏi trung tâm không đồng nghĩa với việc lập tức đóng cửa các cảng trung tâm, bởi các cảng này đang gắn với hệ thống hải quan, kho bãi, hãng tàu, doanh nghiệp logistics, depot và hàng nghìn lao động. Thành phố có thể nghiên cứu giảm dần hàng xuất nhập khẩu đường dài, hàng đi tàu mẹ hoặc những tuyến có thể khai thác hiệu quả hơn tại Cái Mép – Thị Vải. Trong khi đó, Cát Lái vẫn có thể duy trì chức năng logistics đô thị, giao nhận khu vực và tăng tỷ trọng kết nối bằng sà lan. Nói cách khác, đối tượng cần được di chuyển trước hết là dòng hàng, sau đó mới đến quy mô cầu cảng, kho bãi và công năng sử dụng đất. Đặc biệt tiến tới xây dựng hành lang logistics theo hướng “nhà máy sản xuất – cảng biển – cảng hàng không”.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông Ngô Viết Nam Sơn chỉ rõ: Việc tái cấu trúc cảng biển cần được đặt trong tầm nhìn dài hạn, gắn với hạ tầng giao thông và quy hoạch lại không gian đô thị. Đơn cử, tại Singapore, hoạt động container đang được từng bước hợp nhất về cảng Tuas ở phía tây. Theo Cơ quan Hàng hải và Cảng Singapore, khi hoàn thành trong thập niên 2040, Tuas sẽ có diện tích khoảng 1.337 ha, 66 bến với tổng chiều dài khoảng 26 km và công suất thiết kế 65 triệu TEU mỗi năm, gần gấp đôi sản lượng Singapore xử lý năm 2021. Việc tập trung các bến container về một đầu mối được kỳ vọng giúp giảm vận chuyển trung gian, tăng tự động hóa và giải phóng quỹ đất gần trung tâm cho các chức năng đô thị mới.

Tại Hà Lan, cảng Rotterdam đã phát triển mạnh hoạt động container về phía biển Bắc thông qua dự án Maasvlakte 2 – dự án lấn biển khoảng 2.000 ha, làm quy mô toàn cảng tăng khoảng 20%. Kênh dẫn vào các bến Maasvlakte 2 rộng khoảng 600 m, sâu 20 m, đáp ứng tàu biển cỡ lớn. Trong khi đó, một số khu cảng cũ gần đô thị được chuyển đổi dần thành không gian ở, làm việc, sáng tạo và dịch vụ.

TS Phạm Viết Thuận nhìn nhận thách thức của TP.HCM hiện nay là áp lực hạ tầng kết nối tại điểm đến mới. Các tuyến đường bộ kết nối đến cụm cảng mới (như Khu công nghiệp Hiệp Phước) đôi khi chưa đồng bộ với công suất của cảng, dễ gây ách tắc ở khu vực ngoại vi. Ngoài ra, quá trình di dời, xây dựng bến cảng mới đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khổng lồ. Hơn nữa, việc di dời đòi hỏi phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích kinh tế – không gian thương mại sau di dời – và duy trì sự thông suốt của chuỗi cung ứng logistics – dòng hàng phải đi trước giá đất.

Từ những phân tích trên, TS Phạm Viết Thuận đề xuất trước hết, hạ tầng kết nối phải đi trước một bước bằng việc ưu tiên ngân sách đẩy nhanh tiến độ đường Vành đai 3, Vành đai 4, tuyến đường sắt kết nối và cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu. Cùng với đó, cần đồng bộ cơ chế liên vùng bằng việc thành lập ban điều hành chung cho cụm cảng 3 khu vực (TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa-Vũng Tàu) để thống nhất chính sách thuế, phí và thủ tục hải quan điện tử. Ngoài ra, thành phố phải đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng hệ thống quản lý cảng thông minh (Smart Port), phát triển hệ sinh thái cảng xanh hướng tới Net Zero, và đặc biệt là đẩy nhanh siêu dự án Cần Giờ bằng cách hoàn thiện thủ tục, thu hút nguồn lực quốc tế để sớm khởi công, tận dụng vị thế vàng trên bản đồ hàng hải thế giới.

Tin Gốc: Thanh Niên