Mỗi mùa thi tốt nghiệp THPT có hàng triệu thí sinh (TS) bước vào kỳ sát hạch quan trọng sau 12 năm học. Kết quả kỳ thi không chỉ quyết định việc xét tốt nghiệp mà còn được hàng trăm trường đại học sử dụng để tuyển sinh. Vì vậy, bất kỳ hành vi gian lận nào không chỉ làm thay đổi kết quả của một TS mà còn ảnh hưởng đến tính công bằng, uy tín nhà giáo và cả hệ thống giáo dục.
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nâng cao vị thế nhà giáo. Luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1.1.2026 tiếp tục khẳng định vai trò, quyền lợi, trách nhiệm và chuẩn mực nghề nghiệp; chủ trương lương nhà giáo được xếp ở mức cao nhất trong hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập.
Tuy nhiên, các vụ vi phạm quy chế thi các năm 2006, 2012, 2018 và mới nhất là 2026 cho thấy vẫn có một bộ phận nhỏ nhà giáo vi phạm pháp luật. Đặc biệt, vụ việc tại điểm thi Trường THPT chuyên Tuyên Quang được Thủ tướng Chính phủ đánh giá là đặc biệt nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tính công bằng, uy tín của kỳ thi và ngành giáo dục.
Đằng sau mỗi sai phạm đều có dấu hiệu buông lỏng trách nhiệm, thiếu bản lĩnh hoặc sự tiếp tay của những người tham gia tổ chức kỳ thi. Đề thi không tự lộ, bài thi không tự sửa, điểm số không tự thay đổi; mọi vi phạm đều bắt nguồn từ con người.
Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở đạo đức cá nhân mà còn ở cách thiết kế hệ thống tổ chức kỳ thi. Một nền quản trị hiện đại phải xây dựng cơ chế kiểm soát đủ chặt chẽ để nhà giáo không thể vi phạm, qua đó bảo đảm sự công bằng và liêm chính của kỳ thi.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT cùng lúc thực hiện nhiều mục tiêu: xét tốt nghiệp, cung cấp dữ liệu tuyển sinh ĐH và phản ánh chất lượng giáo dục của từng địa phương. Khi địa phương vừa tổ chức thi, vừa chịu áp lực về tỷ lệ tốt nghiệp và chất lượng giáo dục, nguy cơ xung đột lợi ích cần được nhận diện và kiểm soát.
Theo Bộ GD-ĐT, năm 2025, xét điểm thi tốt nghiệp THPT là phương thức tuyển sinh chủ đạo, chiếm hơn 50% số TS trúng tuyển; xét học bạ hơn 29%, xét tuyển kết hợp trên 15%, thi riêng hơn 5% và tuyển thẳng chỉ 0,32%. Điều đó cho thấy kết quả thi vẫn giữ vai trò quyết định trong tuyển sinh ĐH, đòi hỏi quy trình khảo thí phải được giám sát chặt chẽ, khách quan và minh bạch.
Vì vậy, cần mở rộng vai trò của các trường ĐH trong các khâu coi thi, chấm thi, thanh tra và giám sát. Đây không chỉ là trách nhiệm của đơn vị sử dụng kết quả thi mà còn tạo cơ chế giám sát chéo, góp phần hạn chế tiêu cực.
Việc tổ chức điểm thi cần theo mô hình liên trường để giảm nguy cơ TS trao đổi bài, hạn chế tình trạng giám thị nể nang vì coi thi con em của người quen biết hoặc đồng nghiệp. Mỗi điểm thi chỉ có một người của trường sở tại làm nhiệm vụ. Cán bộ coi thi cần được điều động bằng phần mềm lựa chọn ngẫu nhiên, công bố sát thời điểm làm nhiệm vụ và chịu giám sát nhiều cấp.
Mỗi kỳ thi tạo ra một kho dữ liệu khổng lồ. Riêng kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 có hơn 1,2 triệu TS với hàng chục triệu dữ liệu về bài làm, phổ điểm, phòng thi, điểm thi và kết quả của từng địa phương. Tuy nhiên, nguồn dữ liệu này vẫn chưa được khai thác hiệu quả để phục vụ quản trị.
Sau khi chấm thi, cơ quan quản lý cần ứng dụng các thuật toán khảo thí hiện đại để đối sánh kết quả giữa các phòng thi, điểm thi, trường học và địa phương. Không chỉ phân tích điểm trung bình mà còn đánh giá độ lệch chuẩn, tỷ lệ điểm cao, số điểm tuyệt đối, mức biến động qua các năm và mối tương quan với kết quả học tập.
Kỳ thi năm 2026 là ví dụ điển hình khi điểm trung bình môn toán tăng từ 4,78 lên 5,65, còn số điểm 10 tăng từ 513 lên 4.028. Những biến động này cần được lý giải về chuyên môn và được hệ thống phân tích dữ liệu tự động rà soát để phát hiện dấu hiệu bất thường. Nếu một điểm thi hoặc trường học có kết quả vượt xa xu hướng chung, hay xuất hiện nhiều bài làm tương đồng bất thường, hệ thống phải tự động cảnh báo để kiểm tra trước khi công bố điểm.
Giám sát không chỉ là nhiệm vụ của thanh tra. Hơn một triệu TS tham gia kỳ thi mỗi năm chính là lực lượng giám sát đông đảo và hiệu quả nhất nếu được tạo điều kiện.
Mỗi điểm thi cần công khai đường dây nóng, mã QR hoặc cổng phản ánh trực tuyến để TS có thể gửi phản ánh những thông tin nghi ngờ tiêu cực. Các phản ánh phải được tiếp nhận, xử lý ngay trong thời gian diễn ra kỳ thi, đồng thời bảo mật danh tính người cung cấp thông tin để tránh tâm lý e ngại.
Tuy nhiên, phòng ngừa vi phạm, gian lận học đường phải bắt đầu từ các trường sư phạm. Do đó, sinh viên sư phạm cần được học về trách nhiệm pháp lý trong hoạt động nghề nghiệp thông qua các tình huống có thật. Mỗi vụ việc gian lận đã được kết luận có thể trở thành một “bài học tình huống” để sinh viên nghiên cứu, tranh luận và đề xuất phương án xử lý. Một giáo viên được chuẩn bị tốt sẽ biết cách từ chối những yêu cầu trái pháp luật, trái quy chế, nhận diện sớm nguy cơ và bảo vệ chính mình trước những sức ép trong công việc.
Sau mỗi vụ gian lận thi cử, ngành giáo dục thường tập trung xử lý trách nhiệm cá nhân nhưng chưa khai thác đầy đủ giá trị của các vụ việc trong đào tạo và phòng ngừa.
Muốn nhà giáo không vi phạm pháp luật liên quan đến thi cử, không thể chỉ trông chờ vào lời kêu gọi đạo đức nghề nghiệp mà cần xây dựng hệ thống quản trị hiện đại, trong đó quyền lực được kiểm soát, dữ liệu được khai thác để phát hiện rủi ro, xã hội tham gia giám sát và đội ngũ nhà giáo được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật.
Khi mỗi vụ việc trở thành bài học, mỗi dữ liệu là một tín hiệu cảnh báo và mỗi giáo viên hiểu rõ trách nhiệm pháp lý của mình, kỳ thi sẽ minh bạch hơn, góp phần bảo vệ quyền lợi TS và gìn giữ danh dự nghề giáo.
Trước ý kiến cho rằng có sự tương đồng giữa một số câu hỏi logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm nay của ĐH Quốc gia TP.HCM với câu hỏi của các bài thi quốc tế, chiều qua (29.5), ĐH này cho biết đã tiến hành rà soát, thẩm định và đánh giá các câu hỏi phần logic trong đề thi, thành lập Hội đồng rà soát câu hỏi thi...
Từ đó hội đồng rà soát nhận định: "Sự tương đồng về dạng thức logic không phải là căn cứ để kết luận một câu hỏi được dịch hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của bài thi khác. Thực tế, trong nhiều kỳ thi chuẩn hóa quốc tế, các câu hỏi cùng dạng logic có thể có cấu trúc suy luận tương tự nhưng khác nhau về ngữ cảnh, dữ kiện và cách triển khai nội dung".
Trên cơ sở đó, ĐH Quốc gia TP.HCM khẳng định chưa ghi nhận căn cứ cho thấy các câu hỏi phần logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm 2026 là bản dịch nguyên dạng hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của các bài thi nước ngoài.
Tuy nhiên, vụ việc này lại đặt ra một câu hỏi rộng hơn và có ý nghĩa lâu dài hơn đối với lĩnh vực khảo thí: đâu là ranh giới giữa học hỏi và sao chép trong quá trình xây dựng đề thi?
Trước hết cần nhìn nhận rằng khảo thí là một lĩnh vực khoa học mang tính quốc tế rất cao. Những nguyên lý về đo lường, đánh giá năng lực và thiết kế câu hỏi được hình thành, kiểm chứng và phát triển thông qua cộng đồng học thuật toàn cầu.
Vì vậy, việc những người làm khảo thí ở Việt Nam nghiên cứu các kỳ thi như SAT, LSAT hay PISA là điều hoàn toàn bình thường. Trên thực tế, nếu không học hỏi từ những thành tựu đã được kiểm chứng của thế giới thì mới là điều đáng lo ngại.
Các lý thuyết khảo thí thường khá trừu tượng. Muốn hiểu thế nào là một câu hỏi đánh giá tư duy tốt, người ta không chỉ đọc sách lý thuyết mà còn phải nghiên cứu những đề thi đã vận hành thành công trong thực tế. Chính vì vậy, các đề thi quốc tế từ lâu đã trở thành nguồn học liệu quan trọng đối với những người làm nghề.
Nói cách khác, tham khảo các đề thi quốc tế không phải là vấn đề. Vấn đề nằm ở cách thức tham khảo.
Trong những kỳ thi như LSAT (kỳ thi chuẩn hóa đầu vào các trường luật tại Mỹ và Canada, nổi tiếng với các câu hỏi tư duy logic phức tạp), mỗi câu hỏi thường được xây dựng rất công phu. Có thể hình dung phần logic cốt lõi của câu hỏi như một "bộ xương", còn tên nhân vật, bối cảnh hay câu chuyện bên ngoài chỉ là phần "da thịt" bên ngoài.
Nếu một câu hỏi được sao chép nguyên vẹn cả bộ xương lẫn lớp da thịt bên ngoài (có thể đã cho thay đổi quần áo bên ngoài một chút) thì vấn đề đã rõ ràng. Nhưng trong thực tế, phần lớn tranh luận lại nằm ở vùng trung gian phức tạp hơn. Người biên soạn có thể học hỏi cấu trúc tư duy phía sau rồi phát triển thành những phiên bản mới với dữ liệu và bối cảnh khác.
Chính ở khoảng giữa này mà ranh giới giữa học hỏi và sao chép trở nên khó xác định hơn. Đó cũng là lý do những tranh luận như hiện nay không thể chỉ được giải quyết bằng cảm giác "giống" hay "không giống".
Trong khoa học cũng như trong giáo dục, hầu như không có ai làm việc hoàn toàn từ con số không. Chúng ta đều học hỏi từ những người đi trước. Điều quan trọng không phải là ý tưởng ban đầu xuất phát từ đâu, mà là người sử dụng ý tưởng đó đã đóng góp thêm điều gì, đã phát triển nó đến mức nào và đã tạo ra giá trị mới ra sao.
Chính vì vậy, khi đánh giá một câu hỏi có phải là sao chép hay không, giới chuyên môn thường không chỉ nhìn vào sự giống nhau bề mặt mà còn xem xét mức độ chuyển hóa, mức độ sáng tạo và vai trò của câu hỏi đó trong toàn bộ hệ thống đánh giá.
Trong thực tế giáo dục, một chuyên gia giỏi thường đồng thời đảm nhận nhiều vai trò khác nhau. Họ là giảng viên, hiểu rõ các nguyên lý đánh giá và biết thế nào là một câu hỏi tốt. Họ cũng có thể tham gia hoạt động luyện thi. Trong vai trò này, họ nghiên cứu những dạng câu hỏi đã được chứng minh là hiệu quả, phân tích cấu trúc của chúng rồi tạo ra nhiều câu hỏi tương tự để người học luyện tập. Đó là công việc hoàn toàn chính đáng.
Nhưng đôi khi chính những người này lại được mời tham gia xây dựng ngân hàng đề cho một kỳ thi chính thức. Và lúc đó vai trò nghề nghiệp của họ đã thay đổi.
Họ vẫn cần học hỏi từ các tổ chức khảo thí lớn trên thế giới, nhưng điều cần học là nguyên lý, phương pháp và triết lý đánh giá. Điều mà một cơ quan khảo thí cần xây dựng về lâu dài là một ngân hàng câu hỏi đủ độc lập để trở thành chuẩn mực của chính mình.
Sự khác biệt nằm ở chỗ: nếu thành công của một trung tâm luyện thi được đo bằng khả năng giúp học sinh nhận diện và dự đoán các dạng câu hỏi có thể xuất hiện trong kỳ thi, thì thành công của một cơ quan khảo thí lại nằm ở khả năng bảo đảm rằng đề thi của mình không thể bị dự đoán trước.
Lý do rất đơn giản. Nếu đề thi trở nên quá dễ đoán, lợi thế sẽ ngày càng nghiêng về những thí sinh có điều kiện tham gia các khóa luyện thi chuyên biệt. Khi đó, kết quả thi có nguy cơ phản ánh mức độ luyện tập nhiều hơn là năng lực thực sự của người học.
Đây mới là điểm đáng suy nghĩ nhất trong toàn bộ cuộc tranh luận hiện nay.
Tất nhiên, đây chỉ là một giả thuyết để suy nghĩ chứ không phải một kết luận về vụ việc đang được nhắc đến. Tuy nhiên, với tư cách một người từng tham gia công việc liên quan đến khảo thí, tôi cho rằng đôi khi những tranh luận như thế này có thể xuất phát từ sự mờ nhạt giữa các vai trò nghề nghiệp.
Một thực hành hoàn toàn hợp lý trong môi trường dạy học hoặc luyện thi chưa chắc đã còn phù hợp khi được đưa vào môi trường khảo thí chính thức. Người biên soạn hoàn toàn có thể không có bất kỳ ý định sao chép nào. Họ chỉ đang mang theo những thói quen nghề nghiệp vốn phù hợp ở vai trò giảng dạy hoặc luyện thi sang một vai trò khác đòi hỏi những chuẩn mực cao hơn về tính độc lập của câu hỏi và ngân hàng đề.
Nếu không có những quy định đủ rõ ràng về nguồn tham khảo, mức độ chuyển thể được phép và trách nhiệm của người viết câu hỏi, những sự nhầm lẫn như vậy hoàn toàn có thể xảy ra.
Vấn đề tranh luận hiện nay là cơ hội để các đơn vị khảo thí nhìn lại quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi của mình. Những quy định rõ ràng hơn về việc tham khảo các nguồn quốc tế, về tiêu chuẩn đối với người biên soạn câu hỏi, về cơ chế phản biện chuyên môn và về tính độc lập của ngân hàng đề có thể giúp tránh những tranh luận tương tự trong tương lai.
Khảo thí suy cho cùng là câu chuyện của niềm tin công chúng. Một kỳ thi lớn không được đánh giá bằng việc có hay không có tranh cãi, mà bằng cách những người có thẩm quyền ứng xử trước những tranh cãi ấy. Sự minh bạch, tinh thần cầu thị, những quy trình giám sát chặt chẽ và khả năng tự điều chỉnh khi cần thiết mới là nền tảng tạo nên uy tín lâu dài của một tổ chức khảo thí.
Nếu nhìn theo hướng đó, vụ việc hiện nay không chỉ là một tranh cãi về vài câu hỏi cụ thể. Nó cũng là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực nghề nghiệp, củng cố niềm tin xã hội và bảo đảm rằng mọi thí sinh đều được đánh giá trong một môi trường công bằng và đáng tin cậy.
Ghi nhận tại các điểm thi, đa số thí sinh nhận xét đề thi tiếng Anh thi lớp 10 năm nay có độ khó vừa phải, bám sát nội dung ôn tập và không có quá nhiều câu hỏi gây bất ngờ.
Nguyệt Anh, học sinh Trường THCS Đống Đa, cho biết đề thi tương đối dễ và tương đương các đề thi thử mà em đã làm trong quá trình ôn tập. Các dạng câu hỏi khá quen thuộc nên em làm bài thuận lợi. "Nếu không có sai sót gì thì em nghĩ mình có thể được 10 điểm", Nguyệt Anh nói.
Chung nhận định, Thái Hòa, học sinh Trường THCS Lam Sơn, đánh giá đề thi năm nay không quá khó và nằm trong khả năng của phần lớn học sinh đã ôn tập kỹ. Theo em, độ khó của đề tương đương với các đề thi thử trước kỳ thi, thậm chí dễ hơn. Đề có nhiều câu hỏi quen thuộc nên em làm xong bài trong khoảng 30 phút.
"Đề thi tiếng Anh năm nay khá vừa sức, không có nhiều bẫy đánh đố như tụi em lo lắng. Phần ngữ pháp khá căn bản, phần đọc hiểu cũng không có quá nhiều từ vựng mới. Em làm xong còn dư khoảng 15 phút để dò lại bài và tự tin mình được khoảng 8,5 đến 9 điểm", em Hoàng Anh, Trường THCS Ngô Tất Tố chia sẻ.
Lê Mai Anh (điểm thi THPT Phú Nhuận) nhận xét đề thi có độ phân hóa nằm ở phần từ vựng và một số câu cuối của bài đọc: "Những bạn học lực trung bình khá hoàn toàn có thể lấy điểm 6, 7 một cách dễ dàng. Riêng những câu hỏi mang tính phân hóa để lấy điểm 9, 10 thì yêu cầu tụi em phải nắm thật chắc ngữ cảnh và có vốn từ vựng mở rộng một chút".
Tại điểm thi Trường THCS Phan Tây Hồ (phường An Hội Đông), nhiều sĩ tử đánh giá đề thi vừa sức. Phạm Vân Khánh (Trường THCS An Nhơn) cười tươi vì hoàn thành bài thi khá tốt.
Nữ sinh cho biết dạng đề đã được ôn tập nhiều ở trường, và bám sát đề tham khảo: "Em thấy đề khá vừa vặn với mình và có tính phân hóa. Em chỉ mất 60 phút hoàn thành. Phần đúng/sai và bài đục lỗ nhiều đánh đố với em nhất".
Tương tự, Lâm Thị Hoàng Hoa (Trường THCS Phan) đánh giá đề thi dễ, vừa sức với mình. Hoa chỉ mất 50 phút hoàn thành bài thi. Phần "làm khó" em là wordform (cấu tạo từ). Hoa tự đánh giá mình có thể đạt 7,75-8 điểm.
Tại điểm thi Trường THCS Nguyễn Trãi, nhiều thí sinh cho rằng đề thi năm nay tương đối vừa sức, bám sát kiến thức đã được ôn tập. "Đề có 40 câu hỏi với độ khó ở mức phù hợp, nằm trong khả năng làm bài của học sinh", em Cẩm Ly, học sinh Trường THCS Tân Sơn, nói.
Trong khi đó, em Gia Minh, học sinh Trường THCS Phạm Văn Chiêu, chia sẻ: "Ban đầu em nghĩ đề sẽ khó hơn, nhưng khi làm bài em thấy khá dễ. Nếu nhận diện được dạng đề thì sẽ làm bài thuận lợi". Theo Minh, đề thi năm nay có phần dễ hơn so với một số đề của các năm trước nhờ cấu trúc quen thuộc và ít câu hỏi đánh đố.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ), nhiều thí sinh vui mừng vì làm được bài. Với nụ cười tươi, nhiều em tự tin đạt điểm 9-10 môn tiếng Anh.
Rời điểm thi tại Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, em Trần Minh Trí - học sinh Trường THCS Nguyễn Gia Thiều (phường Phước Thắng, TP.HCM) hớn hở chạy đến chia vui cùng mẹ đang đứng đợi trước cổng trường.
Trí cho biết đề thi môn tiếng Anh năm nay cơ bản giống với đề thi các năm trước, chỉ có phần đọc hơi khó tí. Tuy nhiên, nam sinh tự tin có thể đạt điểm 9, thậm chí điểm 10.
Từng lo lắng sau khi sáp nhập về TP.HCM đề thi sẽ khó hơn, em Nguyễn Lê An Nhiên (lớp 9/1, Trường THCS Nguyễn Thái Bình, phường Rạch Dừa) bất ngờ khi đề thi chiều nay dễ hơn dự kiến. "Em làm bài trong khoảng 30 phút là xong, thời gian còn lại rà soát lại bài nhiều lần để đảm bảo không sai sót", An Nhiên chia sẻ.
Tương tự, nhiều thí sinh tại điểm thi Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn đánh giá đề thi môn tiếng Anh khá vừa sức, dễ đạt điểm trung bình khá. Những em chuyên có thể đạt điểm 9-10 môn thi này.
Nhiều thí sinh tại các điểm thi khu vực Bình Dương (cũ) cũng cho biết đề khá vừa sức. Em Trần Doãn Anh Phúc (điểm thi tại phường Thủ Dầu Một, TP.HCM) nói cả hai môn ngữ văn và tiếng Anh trong ngày thi đầu tiên đều phù hợp năng lực, em làm bài khá tốt.
Theo thông báo này, có 79 trường THPT tuyển bổ sung lớp 10 với chỉ tiêu cụ thể từng trường như sau:
Sở GD-ĐT TP.HCM công bố thông tin tuyển bổ sung lớp 10 các trường THPT công lập năm học 2026 - 2027 theo từng loại hình cụ thể như sau:
Trường THCS có giảng dạy tiếng Nhật (ngoại ngữ 1) chịu trách nhiệm rà soát, lập danh sách học sinh thuộc đối tượng và đủ điều kiện xét tuyển bổ sung, gửi về Phòng Quản lý chất lượng - Sở GD-ĐT theo đúng hướng dẫn.
Sở GD-ĐT căn cứ danh sách học sinh đủ điều kiện do các trường gửi về, thực hiện xét tuyển theo điểm bài thi môn tiếng Nhật, xét từ cao xuống thấp đến khi đủ chỉ tiêu lớp tiếng Nhật còn thiếu tại Trường THPT Marie Curie.
Học sinh đã tham gia kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 - 2027 tại TP.HCM.
Học sinh đã trúng tuyển theo các loại hình nguyện vọng khác vào trường THPT có giảng dạy chương trình tiếng Anh tích hợp (theo Đề án 5695) và có nguyện vọng chuyển sang học chương trình tiếng Anh tích hợp (theo Đề án 5695) ngay tại trường này.
Căn cứ số lượng học sinh thuộc đối tượng và đủ điều kiện quy định, Sở GD-ĐT xét kết quả khảo sát từ cao xuống thấp đến khi đủ chỉ tiêu còn thiếu.
Đối tượng: Học sinh đã tham gia kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 - 2027 tại TP.HCM.
Điều kiện: Học sinh không trúng tuyển bất kỳ nguyện vọng, loại hình nào vào các trường THPT công lập và có tổng điểm 3 môn thi (toán, ngữ văn, ngoại ngữ) cộng điểm ưu tiên, điểm khuyến khích (nếu có) lớn hơn hoặc bằng điểm chuẩn trúng tuyển nguyện vọng 1 của trường THPT công lập muốn đăng ký tuyển sinh bổ sung.
Lưu ý, mỗi học sinh chỉ được đăng ký tuyển sinh bổ sung vào một trường THPT công lập chưa tuyển sinh đủ chỉ tiêu được giao và không được thay đổi nguyện vọng trường đã đăng ký sau khi đã nộp hồ sơ đăng ký tuyển sinh bổ sung.
Học sinh có nguyện vọng tuyển sinh bổ sung nộp hồ sơ trực tiếp tại trường có tuyển bổ sung. Hồ sơ gồm phiếu báo điểm kết quả thi tuyển sinh lớp 10 có đóng dấu treo của trường THCS nơi học sinh đăng ký dự thi.