Khởi nguồn từ hội thi năm 1992, hành trình 15 mùa thi được Chủ tịch Hội đồng Đội TP.HCM Trịnh Thị Hiền Trân nói rằng giúp Hội đồng Đội thành phố càng nhận thức rõ sự quan tâm, đầu tư đặc biệt với công tác xây dựng lực lượng phụ trách Đội của thành phố. Bởi không thể phủ nhận chất lượng của đội ngũ phụ trách Đội sẽ quyết định chất lượng công tác Đội và phong trào thiếu nhi tại từng liên đội, câu lạc bộ – đội – nhóm thiếu nhi ở từng trường học, khu phố.
“Điều quý giá nhất khi sân chơi nghiệp vụ, kỹ năng này đã trở thành nơi lưu giữ tuổi trẻ, nhiệt huyết, ký ức và tình yêu nghề mà nhiều anh chị từ những mùa đầu tiên đến nay vẫn gắn bó lâu dài với công tác Đội”, chị Hiền Trân bày tỏ.
Cánh én toàn năng hội thi Olympic Cánh én năm đầu tiên 1992 Lê Châu Hà kể cách đây 34 năm đã may mắn được nhiều anh chị phụ trách Đội đi trước hướng dẫn, động viên để thêm tự tin bước vào hội thi.
Sau khi đoạt giải, anh được Thành Đoàn TP.HCM điều động về công tác tại Ban thanh thiếu nhi trường học và chính môi trường này giúp anh tiếp tục rèn luyện, cống hiến, trưởng thành hơn trong công tác Đội trước khi về khối ấn phẩm Khăn Quàng Đỏ – báo Tuổi Trẻ công tác hiện nay.
“Hội thi đã giúp mình rèn luyện và trưởng thành rất nhiều. Các bạn phụ trách Đội trẻ hôm nay hãy mạnh dạn tham gia vì chúng ta có cơ hội tự rèn luyện, kiểm tra lại kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sẽ giúp mình học hỏi để hoàn thiện hơn trong quá trình làm công tác Đội”, anh Hà chia sẻ.
Nhớ lại kỳ tổ chức đầu tiên, chánh chủ khảo hội thi Nguyễn Hoàng Năng cho rằng sau 15 mùa hội thi đã được xây dựng bài bản, lan tỏa đến nhiều địa phương bằng nhiều hoạt động phong phú. Ông nói bản thân cảm kích trước sự trưởng thành của đội ngũ giáo viên tổng phụ trách Đội thành phố khi không ngừng chủ động nâng cao chuyên môn.
“Nếu như trước đây tham gia chủ yếu mang tính phong trào thì bây giờ các bạn chủ động tham gia để nâng cao chất lượng chuyên môn của mình. Hội thi là dấu mốc đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên tổng phụ trách Đội. Chính những hoạt động ấy góp phần giúp đội ngũ ngày càng vững vàng, tự tin hơn và có thêm điều kiện để phát triển cho phong trào thiếu nhi thành phố”, ông Năng nói.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Gia Đình
Chủ tịch Hà Nội: Không hứa suông các vấn đề mà công nhân, người lao động kiến nghị

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam - dự buổi đối thoại.
Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng cho rằng các ý kiến của công nhân, người lao động thể hiện tinh thần trách nhiệm, tâm huyết không chỉ đối với quyền lợi của bản thân, mà còn với sự phát triển chung của Hà Nội.
Trên cơ sở các ý kiến đề xuất cụ thể, ông Thắng đề nghị lãnh đạo các sở, ban, ngành theo đúng chức năng và nhiệm vụ, phải giải đáp trực tiếp, cụ thể, rõ ràng ngay tại hội trường.
Đối với những vấn đề phức tạp, cần sự phối hợp liên ngành hoặc vượt quá thẩm quyền của TP, các đơn vị phải ghi nhận nghiêm túc, báo cáo chi tiết để xem xét và trả lời bằng văn bản cho người lao động trong thời gian sớm nhất, tuyệt đối không hứa suông, không né tránh.
"Tinh thần là không để các kiến nghị sau đối thoại chỉ dừng lại ở hội trường, mà phải được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ, giải pháp và kết quả thực chất" - Chủ tịch Hà Nội nói.
Người đừng đầu UBND TP Hà Nội cho biết hiện TP xác định phát triển kinh tế phải đi đôi với chăm lo đời sống nhân dân, không đánh đổi an sinh xã hội, môi trường sống và quyền lợi chính đáng của người lao động lấy tăng trưởng đơn thuần.
Các sở, ngành tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng số, kỹ năng ứng dụng công nghệ mới cho người lao động để thích ứng quá trình chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Đồng thời tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Về cải cách thủ tục hành chính, TP sẽ tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu số trong giải quyết các thủ tục về bảo hiểm xã hội, y tế, lao động, việc làm theo hướng giảm thời gian, chi phí và tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp.
Đối với vấn đề nhà ở công nhân, ông Thắng nhấn mạnh Hà Nội sẽ triển khai nghiêm túc chủ trương phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê dành cho người thu nhập thấp và công nhân lao động.
Trong đó, định hướng chuyển mạnh từ phát triển nhà ở để bán sang phát triển cân bằng giữa nhà ở bán, nhà ở thuê và thuê mua. Ưu tiên phát triển quỹ nhà ở cho thuê giá phù hợp dành cho công nhân, lao động trẻ và lao động ngoại tỉnh.
Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn đánh giá cao việc lãnh đạo Hà Nội duy trì thường xuyên hoạt động gặp gỡ, đối thoại với công nhân lao động trong nhiều năm qua.
Ông Tuấn cho rằng hiện các vấn đề được công nhân quan tâm hiện nay như nhà ở, trường học cho con em, an toàn thực phẩm, bảo hiểm xã hội, đào tạo nghề, hay đào tạo lại lao động đều là những vấn đề chung của người lao động tại nhiều địa phương.
Từ thực tiễn đó, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam xác định 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để chăm lo cho đoàn viên, người lao động trong thời gian tới.
Trong đó, sẽ tiếp tục triển khai các dự án nhà ở cho công nhân thuê theo quy định của Luật Nhà ở và Luật Công đoàn.
Cụ thể, hiện Tổng liên đoàn đang triển khai 18 dự án trên cả nước. Tổng liên đoàn cũng đề xuất sử dụng nguồn tài chính công đoàn để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho thuê và mong muốn Hà Nội quan tâm bố trí quỹ đất để triển khai các dự án phục vụ công nhân lao động.
Đối với công nhân bị tai nạn lao động, mắc bệnh hiểm nghèo, Tổng liên đoàn dự kiến dành nguồn kinh phí khoảng 100 tỉ đồng thông qua Quỹ Tấm lòng vàng để hỗ trợ công nhân có hoàn cảnh khó khăn ngay sau Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Gia Đình
Phẫu thuật tạo hình thời đại mới: Chạy đua công nghệ, siết chặt an toàn

Sự kiện do Trường Đại học Gia Định (GDU) phối hợp cùng Hội Phẫu thuật Tạo hình Tp.HCM và Bệnh viện chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt Mỹ Thiện tổ chức, tạo nên một diễn đàn học thuật đa chiều, nơi các vấn đề cốt lõi của nền y học được nhìn nhận một cách hệ thống.
Với 21 bài báo cáo chuyên đề, 7 chủ tọa giàu kinh nghiệm, 13 báo cáo viên trong nước cùng 5 chuyên gia quốc tế đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines,... hội thảo tập trung vào hai trụ cột chính: ứng dụng công nghệ mới trong điều trị và quản lý biến chứng hậu phẫu. Đây là những vấn đề mang tính thời sự, gắn liền với chất lượng điều trị, độ an toàn cho người bệnh.
PGS.TS.BS Lâm Hoài Phương - Phó Hiệu trưởng GDU phát biểu khai mạc hội thảo
Theo đó, các bài báo cáo đã đi sâu phân tích nhiều khía cạnh chuyên môn, từ phẫu thuật khe hở vòm miệng và xử lý biến chứng, phục hồi liệt mặt mãn tính với các ca lâm sàng tại Việt Nam, cho đến ứng dụng công nghệ trong chẩn đoán và phẫu thuật chỉnh hình.
Bên cạnh đó, các chuyên đề về cơ chế ảnh hưởng đến kết quả ghép mỡ tự thân, phẫu thuật chỉnh sửa biến dạng sau chấn thương, cũng như những tiến bộ trong công nghệ 3D và kỹ thuật tái tạo vùng hàm mặt đã góp phần mở rộng góc nhìn khoa học, thực tiễn cho người tham dự.
Một trong những điểm nhấn của hội thảo là các tham luận liên quan đến đổi mới giáo dục nha khoa. Việc ứng dụng hệ thống mô phỏng thực tế ảo kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) trong đào tạo được nhiều chuyên gia đánh giá là xu hướng tất yếu, nhằm nâng cao chuẩn đầu ra - giúp sinh viên, bác sĩ rèn luyện kỹ năng một cách chuẩn xác trước khi tiếp cận điều trị thực tế.
TS. BS Keisuke Imai - Bệnh viện Đa khoa Osaka (Nhật Bản) trình bày bài báo cáo "những lưu ý trong dự phòng và xử trí biến chứng của phẫu thuật khe hở vòm miệng"
Trong những năm qua, GDU được xem là một trong những điểm kết nối tri thức thông qua việc tổ chức nhiều hội thảo khoa học quy mô. Riêng năm 2025, nhà trường đã diễn ra hàng loạt sự kiện nổi bật như: Hội thảo khoa học "Xu hướng mới trong phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ"; Hội thảo khoa học quốc gia "Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Tp.HCM theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW"; Hội thảo khoa học quốc tế "Phẩm cách, sức mạnh tâm lý và sự phát triển toàn diện của sinh viên"; Hội thảo cấp quốc gia về "Hoàn thiện pháp luật trong nền kinh tế số";...
Các hội thảo được tổ chức tại GDU góp phần khẳng định vai trò kết nối học thuật, lan tỏa tri thức và thúc đẩy nghiên cứu khoa học của nhà trường.
Hiện nay, GDU đang đào tạo nhóm ngành sức khỏe gồm Răng - Hàm - Mặt, Điều dưỡng, Kỹ thuật phục hồi chức năng và dự kiến mở thêm ngành Y khoa trong năm 2026, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao của xã hội. Với đội ngũ giảng viên là các Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, bác sĩ CKI, bác sĩ CKII giàu kinh nghiệm, sinh viên sẽ được tiếp cận kiến thức chuyên môn gắn với thực tiễn.
Bên cạnh đó, hệ thống phòng thực hành tiền lâm sàng được đầu tư đồng bộ với các ghế máy nha khoa ứng dụng công nghệ hiện đại, cho phép sinh viên thao tác trên hệ thống mô phỏng tiên tiến, đánh giá chính xác từng chi tiết và hoàn thiện kỹ năng trước khi điều trị thực tế.
Sinh viên nhóm ngành sức khỏe tại GDU được sử dụng các máy móc, trang thiết bị hiện đại trong suốt quá trình học tập.
Đáng chú ý, GDU đẩy mạnh phương pháp đào tạo theo hướng sáng tạo, gắn với ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Sinh viên được học thông qua các tình huống thực tế như báo cáo ca bệnh, bình bệnh án và xử lý kịch bản lâm sàng, qua đó rèn luyện tư duy phản biện, khả năng ra quyết định. Đồng thời, hệ thống đánh giá học tập và thực hành lâm sàng cũng được tích hợp AI, góp phần tối ưu hóa quá trình đào tạo, nâng cao độ chính xác trong đánh giá năng lực người học.
Song song, nhà trường cũng tăng cường đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành, mở rộng hợp tác quốc tế, tổ chức thực hành tại các bệnh viện và cơ sở y tế đạt chuẩn như: Bệnh viện Thành phố Thủ Đức, Bệnh viện 1A, Bệnh viện Phục hồi Chức năng quận 8,... Đặc biệt, chương trình đào tạo được chuẩn hóa theo tiêu chí đánh giá năng lực hành nghề của Hội đồng Y khoa quốc gia.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Gia Đình
Với sinh viên khuyết tật ở trường đại học, giáo dục theo kiểu cảm thông là không đủ

Giáo dục hòa nhập cho đến nay vẫn thường bị hiểu khá đơn giản là đưa sinh viên khuyết tật vào học chung trường, chung lớp với sinh viên không có khuyết tật. Nhưng việc được chấp nhận vào học không đồng nghĩa với được hòa nhập.
Một sinh viên có thể hiện diện trong lớp học, nhưng vẫn bị loại trừ khỏi những cơ hội học tập.
Trong gần 5 năm làm công việc hỗ trợ sinh viên khuyết tật tại một trường đại học quốc tế, tôi đã đồng hành cùng nhiều sinh viên với những dạng khuyết tật và tình trạng sức khỏe rất khác nhau. Mỗi bạn là một câu chuyện riêng, với những khó khăn rất riêng trong học tập và sinh hoạt, và với những nhu cầu hỗ trợ cũng rất riêng.
Tôi vẫn nhớ một bạn sinh viên khiếm thị bối rối trong lớp khi giảng viên bất ngờ yêu cầu tất cả sinh viên phải liên tục di chuyển từ bàn này sang bàn khác và trả lời những câu hỏi trắc nghiệm chỉ trong 30 giây - khoảng thời gian quá ngắn để người hỗ trợ kịp đọc đáp án cho bạn lựa chọn.
Tôi nhớ một sinh viên sử dụng xe lăn học rất giỏi nhưng chưa từng một lần được tham gia ngày hội thể thao cùng bạn bè, chỉ vì tất cả các hoạt động đều mặc định đòi hỏi thể lực và không ai nghĩ tới việc thiết kế để em có thể tham gia.
Tôi cũng nhớ những sinh viên rối loạn phổ tự kỷ, hoặc có rối loạn ngôn ngữ, hoảng hốt mỗi khi nhìn thấy yêu cầu phải thuyết trình trước lớp. Những tình huống ấy cho thấy rào cản không chỉ nằm ở cơ thể hay tình trạng sức khỏe của người học, mà còn nằm ở cách môi trường học tập được thiết kế.
Cũng cần nói rõ rằng đây không chỉ là vấn đề của riêng sinh viên khuyết tật. Giáo dục hòa nhập thực chất cần nhìn thấy sự giao thoa giữa khuyết tật với những yếu tố khác như giới, điều kiện kinh tế, nơi sinh sống và cơ hội tiếp cận dịch vụ.
Khi cơ hội giáo dục bị hạn chế, cơ hội việc làm cũng bị thu hẹp theo.
Năm 2023, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật chỉ là 23,9%, thấp hơn rất nhiều so với mức 77,4% ở người không khuyết tật; khoảng cách này đặc biệt lớn ở nhóm tuổi 18-40.
Nói cách khác, khuyết tật là một trong những "phép thử" rõ ràng nhất để nhìn ra liệu một hệ thống giáo dục có thực sự sẵn sàng cho sự đa dạng, hay vẫn đang âm thầm ưu tiên một nhóm người học "kiểu mẫu" và bỏ lại phía sau những người khác.
Các cơ sở giáo dục hiện nay thường coi việc tạo cơ hội học tập công bằng cho sinh viên khuyết tật chủ yếu là những điều chỉnh đơn lẻ cho từng cá nhân khi có yêu cầu.
Những điều chỉnh này dĩ nhiên rất cần thiết: thêm thời gian làm bài cho sinh viên có khó khăn về vận động; cung cấp tài liệu điện tử cho sinh viên khiếm thị; cho phép trình bày theo hình thức phù hợp hơn với sinh viên có khó khăn về giao tiếp.
Nhiều sinh viên sẽ không thể học tập hoặc hoàn thành chương trình nếu không có những hỗ trợ đó. Nhưng nếu hòa nhập chỉ phụ thuộc vào việc sinh viên phải tự giải trình, tự chứng minh và lặp đi lặp lại khó khăn của mình với từng môn học, từng giảng viên, thì gánh nặng vẫn đang được đặt nhiều hơn lên vai người học mà không có những cân nhắc chủ động từ phía hệ thống.
Trong bối cảnh Việt Nam, không phải sinh viên nào cũng dễ dàng có giấy tờ xác nhận "loại khuyết tật", đặc biệt với những tình trạng như khuyết tật học tập, rối loạn phát triển thần kinh hay các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Bên cạnh đó là những định kiến rất quen thuộc: rằng người xin hỗ trợ là "yếu đuổi", là "không đủ cố gắng", là "không đủ năng lực", thậm chí là đang đòi hỏi sự ưu ái quá mức. Chính những rào cản đó khiến nhiều sinh viên chọn im lặng, tự xoay xở một mình, cho đến khi các em kiệt sức hoặc bị bỏ lại phía sau.
Khi một hệ thống được thiết kế mà phụ thuộc quá nhiều vào các điều chỉnh cho từng cá nhân, thì sẽ luôn có rất nhiều sinh viên không bao giờ đi được đến bước nhận hỗ trợ. Đó là lý do vì sao giáo dục hòa nhập cần vượt lên trên những câu chuyện về sự cảm thông và những hỗ trợ mang tính "chữa cháy".
Điều chúng ta cần nói đến nhiều hơn là việc chủ động thiết kế hoạt động dạy học để thúc đẩy hòa nhập công bằng ngay từ đầu.
Giảng viên cần chuẩn bị tài liệu ở các định dạng tiếp cận hơn; sử dụng nhiều cách truyền đạt khác nhau thay vì chỉ dựa vào một hình thức duy nhất; thiết kế các hoạt động học tập linh hoạt để sinh viên có thể tham gia bằng nhiều cách; và xây dựng các hình thức đánh giá hơn để người học thể hiện được năng lực thực sự của mình.
Khi một lớp học được thiết kế theo hướng đó, không chỉ sinh viên khuyết tật được hưởng lợi. Sinh viên có lo âu, trầm cảm, rối loạn phổ tự kỷ hay giảm chú ý, bệnh lý mãn tính, hay đơn giản là có những cách học khác với số đông, cũng có thêm cơ hội để học tốt hơn. Hòa nhập không phải là sự ưu tiên dành cho một nhóm nhỏ; đó là cách làm giáo dục tốt hơn cho tất cả mọi người.
Nhưng để làm được điều đó, không thể chỉ trông chờ vào thiện chí của một vài giảng viên hay nỗ lực của một phòng ban chuyên trách.
Giảng viên và cán bộ nhân viên cũng cần được hỗ trợ một cách thực chất: được tập huấn, được cung cấp tài liệu, được tạo điều kiện về thời gian và cơ chế để linh hoạt hơn trong giảng dạy và đánh giá.
Sẽ là không đủ nếu chúng ta chỉ nói với giảng viên rằng họ cần phải "tạo điều kiện cho sinh viên nhiều hơn" mà không đi kèm với những hỗ trợ tương xứng.
Hòa nhập không nên là gánh nặng riêng của sinh viên khuyết tật, cũng không nên trở thành phần việc "làm thêm" của giảng viên. Đó phải là trách nhiệm chung của cả một cơ sở giáo dục.
Khi ngày càng nhiều sinh viên có cơ hội bước vào giảng đường đại học, sự đa dạng trong lớp học cũng sẽ ngày càng trở thành một thực tế hiển nhiên. Và khi đó, hòa nhập không thể tiếp tục được xem là sự ban ơn cho một nhóm thiểu số. Nó cần được nhìn nhận đúng như bản chất: một thước đo quan trọng của chất lượng giáo dục và của mức độ tiến bộ của một xã hội.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

