“Khoảng 70 – 80% trường hợp ung thư phổi tại Việt Nam được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn, làm giảm cơ hội điều trị triệt căn và làm tăng gánh nặng chi phí cho người bệnh, gia đình và hệ thống y tế.
Tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai, khoảng 10% bệnh nhân ung thư phổi phát hiện giai đoạn sớm, khi khối u nhỏ, kích thước 2 – 3 mm, là thời điểm cho phép phẫu thuật lấy u và có thể không phải điều trị hóa chất sau mổ”, PGS-TS, bác sĩ Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Ung bướu và y học hạt nhân, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết tại buổi khám sàng lọc miễn phí ung thư phổi do trung tâm tổ chức ngày 10.5.
Riêng buổi sáng 10.5, trong số 50 người được khám sàng lọc, có 4 người được phát hiện có nốt phổi. 2/4 ca có yếu tố nguy cơ sẽ được chỉ định chẩn đoán chuyên sâu, ứng dụng AI trong đọc kết quả, hỗ trợ bác sĩ đưa ra chẩn đoán.
Bác sĩ Phương chia sẻ, phát hiện sớm ung thư phổi có ý nghĩa rất quan trọng, vì giai đoạn sớm người bệnh có thể được điều trị triệt căn góp phần cải thiện hiệu quả và giảm chi phí điều trị, chăm sóc.
Khi khối u nhỏ, sau phẫu thuật lấy u, nhiều trường hợp không phải điều trị bổ trợ (hóa trị, thuốc đích…).
Với các ca ung thư phổi tiến triển, nhiều ca bệnh đã được kiểm soát lâu dài, vì hiện có các thuốc, phương pháp điều trị mới, và các xét nghiệm chẩn đoán chính xác, giúp bác sĩ đưa ra phác đồ tối ưu.
Nhưng để điều trị tốt nhất và giảm thấp nhất các chi phí, bác sĩ Phương nhấn mạnh vai trò của sàng lọc phát hiện sớm ung thư phổi, đặc biệt ở các nhóm có nguy cơ cao.
Đó là người trên 50 tuổi và có một trong các yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm (từ 20 bao/năm); tiếp xúc với khói bụi, ô nhiễm nghề nghiệp, sống trong môi trường nhiễm xạ; tiền sử gia đình có người thân (thế hệ thứ nhất) mắc ung thư phổi; người mắc bệnh phổi mạn tính (COPD hoặc xơ phổi); hút thuốc lá thụ động.
“Chúng tôi mong muốn duy trì chương trình và lâu dài trong nước có chương trình tầm soát ung thư phổi ở quy mô quốc gia, giúp tăng tỷ lệ người mắc ung thư phổi được phát hiện sớm”, PGS Phương chia sẻ.
Theo Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu, sàng lọc ung thư phổi bằng chụp cắt lớp vi tính liều thấp ở nhóm nguy cơ cao đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ tử vong do ung thư phổi so với chụp X-quang ngực thông thường. Vì vậy, việc chủ động tầm soát ở người có yếu tố nguy cơ là bước quan trọng để chuyển từ “phát hiện khi có triệu chứng” sang “phát hiện khi còn có thể can thiệp hiệu quả”.
Ung thư phổi hiện là một trong những thách thức lớn nhất của y tế toàn cầu. Dữ liệu ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2022 cho biết, thế giới ghi nhận khoảng 2,5 triệu ca mắc mới và 1,8 triệu ca tử vong do ung thư phổi, là nguyên nhân tử vong do ung thư hàng đầu.
Tại Việt Nam, hệ thống y tế ghi nhận khoảng 24.426 ca mắc mới/năm và 22.597 ca tử vong do ung thư phổi (năm 2022). Đây là bệnh đứng thứ hai trong nhóm các ung thư phổ biến nhất và là một trong những nguyên nhân gây tử vong ung thư hàng đầu. Hiện đa số người bệnh được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Chương trình khám sàng lọc miễn phí ung thư phổi được Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai tổ chức trong 3 ngày: 10, 17 và 24.5 cho 240 người bệnh.
Tham gia chương trình, các cá nhân được các chuyên gia ung bướu tư vấn về chăm sóc, theo dõi sức khỏe phổi, đặc biệt khi có yếu tố nguy cơ. Các ca có nốt phổi lành tính sẽ được tư vấn tái khám định kỳ để đánh giá về sự biến đổi.
Nhiều người thường xuyên kiểm tra huyết áp, mỡ máu nhưng lại ít quan tâm đến sức khỏe thận cho đến khi bệnh tiến triển nghiêm trọng. Bác sĩ Harsha Mandadi Varadaraju, chuyên về thận học tại Bệnh viện Amrita (Ấn Độ), cho biết thận là cơ quan làm việc thầm lặng. Mỗi ngày, thận lọc khoảng 180 lít máu, giúp điều hòa huyết áp, cân bằng khoáng chất, đào thải độc tố và hỗ trợ sản xuất hồng cầu. Tuy nhiên, quá trình suy giảm chức năng thận tự nhiên có thể bắt đầu sau tuổi 40 mà nhiều người không nhận ra.
Nguy cơ mắc bệnh thận tăng sau tuổi 40
Các chuyên gia cho biết nguy cơ bệnh thận không tăng đều theo tuổi mà thường tăng đáng kể sau tuổi 40, đặc biệt khi đi kèm các bệnh lý chuyển hóa.
Tiểu đường là nguyên nhân phổ biến dẫn đến suy thận. Bên cạnh đó, tăng huyết áp, béo phì, gan nhiễm mỡ và thói quen lạm dụng thuốc giảm đau - thường gặp hơn khi lớn tuổi - cũng làm tăng áp lực lên thận.
Thói quen tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến, đồ ăn nhiều muối, nước ngọt có đường, thức ăn nhanh hay xu hướng ăn quá nhiều protein cũng khiến nguy cơ bệnh thận gia tăng. Theo bác sĩ Varadaraju, yếu tố nguy hiểm của bệnh thận là tiến triển âm thầm. Nhiều người chỉ phát hiện bệnh khi đã xuất hiện phù, khó thở, mệt mỏi hoặc huyết áp mất kiểm soát - thường ở giai đoạn muộn.
Phát hiện sớm là yếu tố quan trọng
Người trên 40 tuổi nên kiểm tra chức năng thận mỗi năm một lần, đặc biệt nếu có tiểu đường, tăng huyết áp hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh thận. Những xét nghiệm cơ bản như đo creatinine máu, xét nghiệm nước tiểu hay theo dõi huyết áp chỉ mất ít phút nhưng có thể giúp phát hiện sớm tổn thương thận trước khi bệnh tiến triển nặng, theo bác sĩ Varadaraju.
Cách bảo vệ thận sau tuổi 40
Bệnh thận có thể phòng ngừa hoặc làm chậm tiến triển nếu được phát hiện sớm. Việc chủ động kiểm tra sức khỏe từ tuổi trung niên có thể giúp giảm nguy cơ suy thận và cải thiện chất lượng sống khi về già. Duy trì sức khỏe thận không đến từ những chế độ ăn cực đoan hay "siêu thực phẩm", mà phụ thuộc chủ yếu vào thói quen ăn uống duy trì hàng ngày.
Ăn nhiều thực phẩm tươi, ưu tiên bữa ăn nấu tại nhà, uống đủ nước và hạn chế đồ chế biến sẵn, muối, đường là những nguyên tắc quan trọng để bảo vệ chức năng thận. Xu hướng ăn quá nhiều protein với quan niệm "càng nhiều càng tốt" có thể tạo thêm áp lực cho thận, đặc biệt ở người có nguy cơ bệnh thận hoặc mắc bệnh chuyển hóa. Đôi khi, những bữa ăn đơn giản và điều độ lại là lựa chọn tốt nhất cho sức khỏe lâu dài.
Để duy trì chức năng thận khỏe mạnh, chuyên gia thận khuyến nghị bên cạnh kiểm tra sức khỏe định kỳ cần kiểm soát tốt đường huyết và huyết áp, duy trì cân nặng hợp lý, hạn chế lạm dụng thuốc giảm đau.
Dù vậy, điều này không có nghĩa thịt đỏ hoàn toàn có hại hoặc cứ ăn cá càng nhiều là càng tốt. Giá trị dinh dưỡng còn phụ thuộc vào loại thực phẩm, lượng ăn và cách chế biến. Một phần cá hấp sẽ khác rất nhiều so với cá chiên ngập dầu. Tương tự, thịt bò nạc cũng khác với xúc xích hay thịt xông khói, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Nhiều nghiên cứu cho thấy người ăn cá thường xuyên có nguy cơ bệnh tim mạch thấp hơn. Nguyên nhân là vì cá, đặc biệt là cá béo như cá hồi, cá mòi hay cá thu, chứa nhiều a xít béo omega-3. Đây là nhóm chất béo không bão hòa có lợi cho tim và mạch máu.
Một phân tích tổng hợp đăng trên chuyên san Nutrients đã phân tích dữ liệu từ hơn 900.000 người. Kết quả cho thấy ăn cá nhiều hơn có thể làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành và tử vong do tim mạch. Các nhà nghiên cứu cho rằng omega-3 có khả năng giảm chất béo trung tính trong máu, chống viêm, cải thiện chức năng mạch máu và giảm nguy cơ rối loạn nhịp tim.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cứ ăn nhiều cá mà không ăn thịt đỏ. Thịt đỏ như thịt bò, thịt heo hay thịt cừu là nguồn giàu protein, sắt, vitamin B12 và kẽm. Đây đều là những dưỡng chất quan trọng cho máu, cơ bắp và hệ thần kinh.
Tuy nhiên, điều cần lưu ý với thịt đỏ là ăn quá nhiều, đặc biệt là thịt chế biến sẵn như xúc xích, jambon và thịt xông khói, có làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và tử vong sớm. Các loại thịt chế biến sẵn thường chứa nhiều muối, chất bảo quản và chất béo bão hòa hơn thịt tươi.
Dù cá có nhiều lợi ích, hầu hết các hướng dẫn dinh dưỡng hiện nay không yêu cầu phải ăn cá mỗi ngày. Hiệp hội Tim mạch Mỹ thường khuyến nghị nên ăn cá khoảng 2 khẩu phần/tuần, đặc biệt là cá béo. Mỗi khẩu phần khoảng 100 - 120 gram.
Giá trị dinh dưỡng của các loại cá rất khác nhau. Cá béo như cá hồi, cá thu, cá mòi và cá trích thường chứa nhiều omega-3 hơn cá thịt trắng.
Những người có khẩu phần cân đối và ăn đa dạng loại cá hoàn toàn có thể ăn cá mỗi ngày. Tuy nhiên, ăn quá nhiều một số loài cá lớn như cá kiếm hoặc cá ngừ đại dương có thể làm tăng lượng thủy ngân tích lũy trong cơ thể.
Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là ăn nhiều cá mà còn là chọn đúng loại cá và chế biến hợp lý. Các chuyên gia thường khuyên nên ưu tiên cá nhỏ, cá béo và hạn chế các món chiên ngập dầu, theo Eating Well.
Tuy nhiên, mức ảnh hưởng của sa pô chê lên đường huyết không chỉ phụ thuộc vào độ ngọt mà còn liên quan đến số lượng ăn, độ chín và cách kết hợp với các món ăn khác trong bữa ăn, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Sa pô chê chứa khá nhiều đường tự nhiên, chủ yếu là fructose và sucrose. Trái càng chín, lượng đường trong sa pô chê càng tăng, khiến vị ngọt đậm đà hơn. Vì vậy, nếu ăn quá nhiều trong một lần, lượng đường glucose đi vào máu cũng sẽ tăng nhanh hơn.
Tuy nhiên, đường trong trái cây không hoàn toàn giống đường tinh luyện trong nước ngọt hay bánh kẹo. Sa pô chê vẫn chứa chất xơ và nhiều hợp chất thực vật giúp làm chậm phần nào quá trình hấp thu đường.
Một loại trái cây dù có vị ngọt nhưng nếu ăn ít thì mức tăng đường huyết có thể không quá lớn. Ngược lại, ăn quá nhiều trong một lần sẽ khiến tổng lượng đường hấp thu tăng mạnh hơn. Ví dụ, ăn 1 trái sa pô chê nhỏ sẽ khác rất nhiều so với ăn liên tục 3 - 4 trái hoặc uống sinh tố sa pô chê có thêm sữa đặc, đường.
Ngoài ra, sa pô chê có chứa chất xơ. Đây là yếu tố giúp làm chậm quá trình hấp thu đường glucose vào máu. Khi ăn nguyên trái, chất xơ giúp thức ăn được tiêu hóa chậm hơn, từ đó hạn chế tình trạng đường huyết tăng quá nhanh sau ăn.
Sa pô chê càng chín kỹ thì càng ngọt do tinh bột trong trái chuyển dần thành đường đơn. Vì vậy, trái quá mềm và ngọt đậm thường có khả năng làm đường huyết tăng nhanh hơn trái vừa chín tới.
Hiện tượng này cũng gặp ở nhiều loại trái cây khác như chuối, xoài. Với người cần kiểm soát đường huyết, họ nên tránh ăn sa pô chê quá chín hoặc ăn số lượng lớn trong một lần.
Ăn một lượng nhỏ sa pô chê sau bữa chính hoặc ăn cùng thực phẩm giàu protein như sữa chua không đường, trứng, các loại hạt có thể giúp đường hấp thu chậm hơn, Eating Well dẫn lời chuyên gia dinh dưỡng người Mỹ Crystal Orozco.
Một nghiên cứu đăng trên chuyên san Food Science and Technology về các loại trái cây nhiệt đới cho thấy nhiều loại trái cây, trong đó là sa pô chê, có chỉ số đường huyết không quá cao khi ăn ở khẩu phần hợp lý. Điều này cho thấy sa pô chê không nhất thiết gây tăng đường huyết đột ngột như nhiều người lo ngại.