Vài tuần gần đây, có những lúc người dân Iran đi ngủ trong tiếng nổ của bom đạn hoặc những bản tin về các đợt giao tranh với Mỹ. Nhưng đến sáng, họ lại nhận được tin rằng các cuộc tấn công đã tạm lắng xuống và hai bên “sắp đạt thỏa thuận” trong tiến trình đàm phán.
Mọi thứ trong ngày 11/6 diễn ra như vậy, khi cục diện xung đột thay đổi chóng mặt chỉ trong vài giờ. Ban đầu, Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa sẽ giáng đòn tấn công “rất mạnh” vào Iran trong đêm và nêu phương án chiếm đảo Kharg, đầu mối xuất khẩu dầu mỏ của nước này.
Nhưng chỉ vài giờ sau, ông bất ngờ hủy kế hoạch không kích với lý do các cuộc đàm phán hòa bình đã đạt tiến triển. Theo ông, các chi tiết của thỏa thuận đã được Mỹ và đồng minh trong khu vực, trong đó có Israel, chấp thuận.
Khi người dân Iran chưa kịp vui mừng với thông tin này thì phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Iran Esmail Baghaei nói với hãng thông tấn quốc gia IRNA rằng thông tin về việc thỏa thuận với Mỹ đang hoàn tất “chỉ là suy đoán”, đồng thời cho biết Tehran vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng về bất kỳ thỏa thuận nào.
Ông Baghaei cho biết Qatar và Pakistan đang “hoạt động tích cực với tư cách là bên trung gian”, nhưng thêm rằng các hành động của Mỹ đang ảnh hưởng đến tiến trình ngoại giao.
“Ngay từ đầu, chúng tôi đã rõ ràng về lập trường đàm phán của mình và phần lớn nội dung dự thảo thỏa thuận đã được hoàn thiện. Tuy nhiên, phía Mỹ liên tục thay đổi lập trường của họ”, ông nói.
Đối với nhiều dân thường Iran, những thay đổi liên tục giữa sợ hãi và nhẹ nhõm, lo âu rồi hy vọng đã bào mòn cảm xúc của họ. Nhiều người chỉ mong chiến tranh kết thúc nhanh chóng dù bằng cách nào.
“Đêm xuống thì họ đánh, sáng họ lại dừng, mọi thứ thật nực cười. Hoặc là đánh hoặc là chấm dứt đi. Chúng tôi đã quá mệt mỏi với tình cảnh này rồi”, Vahid, cư dân 37 tuổi ở Tehran, nói.
Trước sức ép liên tục từ Mỹ, giới lãnh đạo Iran vẫn giữ lập trường rất cứng rắn. Vali Nasr, nhà sử học người Iran kiêm giáo sư về nghiên cứu Trung Đông tại Đại học Johns Hopkins, cho biết trong khi các lãnh đạo trước đây của Tehran tỏ ra kiềm chế hơn, “ban lãnh đạo mới lại tin rằng sự nhẫn nhịn là lý do khiến Iran rơi vào vòng chiến sự”.
Reza, một giám đốc công ty 48 tuổi, cho hay ông và vợ đã quyết định đi lánh nạn ở phía bắc đất nước và chờ làn sóng căng thẳng mới nhất này thực sự qua đi. Ông lo ngại Mỹ có thể tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự như Tổng thống Trump từng nhiều lần đe dọa.
“Công việc trì trệ, các doanh nghiệp bị tê liệt vì giá cả biến động, cảm giác như cuộc sống của chúng tôi đang bị tạm dừng vậy”, Reza nói.
Bên cạnh những lo ngại về an toàn trong trường hợp hai bên nối lại xung đột toàn diện, nhiều người Iran cũng sợ nếu tình trạng lấp lửng hiện tại kéo dài, nền kinh tế vốn kiệt quệ của nước này sẽ sụp đổ. Họ nói khi lệnh phong tỏa đường biển đối với các cảng biển của Iran tiếp diễn, cuộc sống sẽ còn khó khăn hơn nữa.
Trong bài đăng thông báo hủy kế hoạch không kích, ông Trump tuyên bố lệnh phong tỏa cảng biển Iran vẫn “tiếp tục có hiệu lực” cho đến khi hai bên đạt được thỏa thuận.
Mahasti, cư dân 65 tuổi ở Tehran làm việc trong ngành y tế, cho biết điều đó cũng tồi tệ chẳng kém gì bom rơi, bởi vì gián đoạn thương mại và việc cắt giảm nguồn thu từ dầu mỏ của Iran đang từng bước bào mòn cuộc sống của người dân.
“Cuộc sống của chúng tôi càng ngày càng khó khăn hơn. Không phải chiến tranh, thì cũng là lệnh trừng phạt hoặc phong tỏa. Lúc nào cũng có vấn đề gì đó”, bà nói.
Trong bài phát biểu tại lễ tưởng niệm cố lãnh tụ tối cao Ali Khamenei mới đây, Tổng thống Masoud Pezeshkian thừa nhận không thể tiếp diễn tình trạng hiện tại.
“Chúng ta phải thoát khỏi tình trạng không chiến tranh, không hòa bình này. Chiến tranh chắc chắn không mang lại lợi ích cho đất nước”, ông nói, tuy nhiên thêm rằng những cuộc tấn công của đối thủ không thể khiến Iran đầu hàng.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Baghaei tái khẳng định lập trường cứng rắn của Iran về xung đột, khẳng định nước này “không thỏa hiệp đối với những gì họ đã xác định là lằn ranh đỏ của mình”.
Bình luận về những hành động và tuyên bố gần đây của Mỹ, Kimberly Halkett, nhà phân tích của Al Jazeera, cho rằng ông Trump có vẻ như đang sử dụng áp lực quân sự và ngôn từ cứng rắn nhằm cố gắng ép Iran hướng tới một thỏa thuận.
“Điều có thể thấy rõ là Tổng thống Mỹ tiếp tục sử dụng các bài đăng trên Truth Social để kết hợp những lời đe dọa công khai với điều mà ông tin rằng vẫn có thể đạt được, đó là ngoại giao bằng sức ép quân sự”, Halkett nói.
Abas Aslani, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Trung Đông, nhận định chính quyền ông Trump “muốn leo thang nhằm tạo lợi thế trên bàn đàm phán để buộc Tehran chấp nhận những nhượng bộ mà họ từng khước từ”.
Trong khi đó, Tehran lại quan tâm đến việc “khôi phục khả năng răn đe” để chống lại các cuộc tấn công tiếp theo nhắm vào đất nước.
“Đối với Iran, điều này cũng rất quan trọng vì phản ứng trước đó đối với các cuộc tấn công của Mỹ là chưa đủ để đảm bảo rằng họ sẽ không ném bom Iran một lần nữa. Đó là lý do họ có thể đang leo thang để buộc đối phương phải hạ nhiệt tình hình”, Aslani nói.
Rạng sáng qua (8.5), Đài CBS dẫn lời Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran vẫn có hiệu lực. Sau đó, ông cũng cho biết thỏa thuận giữa hai nước "có thể không diễn ra" nhưng "cũng có thể diễn ra bất cứ lúc nào".
Trả lời báo chí ngày 7.5 (theo giờ Mỹ), Tổng thống Trump tuyên bố Iran đưa ra xuất mà trong đó "về cơ bản nói rằng họ sẽ không có vũ khí hạt nhân, họ sẽ trao cho chúng tôi bụi hạt nhân và nhiều thứ khác mà chúng tôi muốn". CNN dẫn lời ông Trump khẳng định Iran đồng ý với điều đó. Nhưng theo truyền thông Iran, Tehran vẫn chưa hoàn tất phản hồi đối với đề xuất của Mỹ.
Dù "lệnh ngừng bắn vẫn có hiệu lực", Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) ngày 8.5 (theo giờ VN) cho biết quân đội nước này đã tập kích một số cơ sở quân sự của Iran. Theo CENTCOM, các cơ sở bị tập kích đã tiến hành một loạt các cuộc tấn công bằng tên lửa, máy bay không người lái (UAV) và tàu nhỏ nhằm vào các tàu chiến Mỹ là 3 tàu khu trục lớp Arleigh Burke (gồm USS Truxtun, USS Rafael Peralta và USS Mason) đang di chuyển qua eo biển Hormuz vào ngày 7.5. Viết trên mạng xã hội Truth Social về vụ việc này, ông Trump nêu: "3 tàu khu trục đẳng cấp thế giới của Mỹ vừa di chuyển, rất thành công, ra khỏi eo biển Hormuz, dưới hỏa lực. Không có thiệt hại nào đối với 3 tàu khu trục, nhưng thiệt hại lớn đối với những kẻ tấn công là Iran".
Ngược lại, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) lên tiếng tố cáo Mỹ đã vi phạm thỏa thuận ngừng bắn. IRGC cáo buộc quân đội Mỹ đã tấn công 1 tàu chở dầu của Iran gần cảng Jask, nên phía Iran đã đáp trả và "gây thiệt hại đáng kể" cho Mỹ, khiến 3 tàu khu trục của nước này "nhanh chóng rời khỏi eo biển Hormuz".
Khi xung đột bùng phát trở lại, phía UAE thông báo đã phải kích hoạt hệ thống phòng không để đánh chặn các đòn tấn công từ Iran.
Thực tế tại eo biển Hormuz, tuy Mỹ đang tạm ngưng Dự án Tự do nhưng dường như cũng sẵn sàng nối lại chiến dịch này nhằm tìm cách mở cửa eo biển Hormuz.
Trong phân tích gửi đến Thanh Niên hôm qua, chuyên gia tình báo quân sự Mỹ Carl O.Schuster (đang giảng dạy về quan hệ quốc tế, lịch sử ở ĐH Hawaii - Thái Bình Dương) đã giải mã cách thức tác chiến của Dự án Tự do.
Theo đó, các tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Mỹ hiện có khả năng giám sát và hỗ trợ trên không hiện đại hơn nhiều so với cuối thập niên 1980. CENTCOM cũng chiếm ưu thế trên không ở vịnh Ba Tư và vùng biển gần bờ Iran. Máy bay không người lái (UAV) vũ trang lẫn không vũ trang của Mỹ có thể giám sát các điểm phóng UAV, tàu tấn công nhanh và tên lửa của Iran. Kèm theo, máy bay cường kích A-10 và các khí tài trên không khác của Mỹ có thể được điều động để tấn công phủ đầu các nhóm tác chiến di động của Iran.
Tác chiến trực tiếp, các khu trục hạm lớp Arleigh Burke có thể đối phó với tàu tấn công nhanh, tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình của Iran. Kết hợp thêm, để đối phó với UAV và tàu tấn công tốc độ cao, Nhóm Tác chiến đổ bộ (ARG) của Mỹ đang đóng ở vùng biển này có mang theo máy bay trực thăng vũ trang và chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình F-35 đủ sức đánh chặn. Tuy nhiên, theo chuyên gia Schuster, quân đội Mỹ có thể cần phải đưa một số lính thủy đánh bộ trang bị tên lửa Stinger và vũ khí chống UAV lên một số tàu để tạo lớp phòng thủ cuối cùng.
Các tàu chiến và máy bay trực thăng có thể rà phá thủy lôi trong vùng nước nông của vịnh Ba Tư. Về vấn đề này, Mỹ cần chủ động phát hiện và đánh chìm các tàu rải thủy lôi của Iran và xác định các bãi thủy lôi tiềm năng kịp thời để phá hủy hoặc tránh.
Với năng lực tác chiến như vậy, Washington có thể thiết lập một "vành đai an toàn" để tàu thuyền di chuyển. Một vành đai như thế, theo cựu đại tá Schuster, gồm các thành phần sau: Các đơn vị rà phá thủy lôi để đảm bảo khu vực không có thủy lôi và tàu ngầm mini; Triển khai một vài tàu khu trục lớp Arleigh Burke tuần tra cùng lúc để bảo vệ vành đai khỏi các cuộc tấn công từ trên không, tên lửa, máy bay không người lái và tàu ngầm mini; Tiến hành giám sát liên tục bằng UAV đối với tất cả các địa điểm mà Iran có thể phóng tên lửa, UAV hoặc triển khai tàu tấn công nhanh; Triển khai máy bay trinh sát và cảnh báo sớm để giám sát 24/7 toàn bộ khu vực; Các máy bay cường kích A-10, trực thăng tấn công và các máy bay tấn công khác tuần tra dọc theo "vành đai an toàn", sẵn sàng tấn công vào đối phương.
Chuyên gia cho rằng "vành đai an toàn" có vẻ mang tính phòng thủ, nhưng thực chất tích hợp năng lực tấn công phản kích, được bảo vệ 24/7 để ngăn chặn việc Iran rải thủy lôi, bố trí tàu ngầm mini hoặc tập kết các đơn vị tấn công khác.
Dù tin rằng lực lượng Mỹ đủ sức đảm trách hoạt động trên, chuyên gia Schuster cũng thừa nhận: "Bảo vệ hoạt động vận chuyển hàng hải chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng. Các mối đe dọa luôn nắm thế chủ động và việc ngăn chặn chúng chiếm ưu thế đòi hỏi sự phối hợp giữa giám sát liên tục; thông tin liên lạc tốc độ cao, luồng chỉ huy và dữ liệu, và các quy tắc giao chiến đảm bảo phản ứng nhanh chóng trước các mối đe dọa trước khi chúng hành động".
"Iran nắm quyền kiểm soát hoàn toàn đối với vịnh Ba Tư, cũng như vùng biển ngoài khơi Oman và eo biển Hormuz. Nhờ ưu thế và sức mạnh vượt trội, chúng tôi không cần rải thủy lôi ở vịnh Ba Tư và sẽ sử dụng mọi biện pháp có thể nhằm đảm bảo an ninh khi cần thiết", phát ngôn viên quân đội Iran Ebrahim Zolfaghari hôm 23/3 tuyên bố, thể hiện sự tự tin về ưu thế của nước này trong cuộc xung đột với Mỹ và Israel.
Ông Benoit Faucon còn nhấn mạnh lực lượng vũ trang Iran và các đối tác khu vực "có thể bảo vệ vịnh Ba Tư trước mối đe dọa từ Mỹ - Israel". "Các cường quốc bên ngoài không có quyền can thiệp", ông nói.
Theo Benoit Faucon, bình luận viên về Trung Đông của WSJ, những tuyên bố như vậy cho thấy Iran từng tin họ đã chiếm ưu thế bằng cách đóng cửa eo biển Hormuz và làm đình trệ huyết mạch hàng hải nắm giữ 20% nguồn cung dầu khí toàn cầu.
Trong khi đó, xuất khẩu dầu của Iran phần lớn không bị ảnh hưởng bởi xung đột, tàu chở dầu của nước này vẫn có thể đi lại tự do qua eo biển Hormuz. Kết quả là xuất khẩu dầu của Iran đạt trung bình khoảng 1,85 triệu thùng mỗi ngày trong tháng 3, vượt mức 1,7 triệu thùng của những tháng trước đó.
Tuy nhiên, sáu tuần sau khi xung đột nổ ra, ưu thế đó chấm dứt khi Mỹ đáp trả bằng cách phong tỏa mọi cảng biển của Iran.
Biện pháp này đã bóp nghẹt hoạt động của đội tàu xuất khẩu dầu Iran, vốn là nguồn doanh thu quan trọng của nước này. Giờ đây, đội tàu chở dầu của Iran không thể xuyên thủng hàng rào tàu chiến Mỹ, những lực lượng đã truy đuổi chúng đến tận Ấn Độ Dương.
"Tại Hormuz, Iran đã có thể tạo ra cuộc khủng hoảng niềm tin thị trường. Nhưng gây gián đoạn không có nghĩa là kiểm soát. Với lệnh phong tỏa của Mỹ, Iran đang hứng chịu hậu quả", David Des Roches, cựu giám đốc về chính sách vùng Vịnh tại Bộ Quốc phòng Mỹ, nói.
Khi cảng biển bị phong tỏa khiến hoạt động xuất nhập khẩu đình trệ, Iran đang nỗ lực khắc phục tình hình bằng cách chở một phần dầu qua đường sắt tới Trung Quốc, trong khi nhập khẩu thực phẩm bằng đường bộ từ vùng Caucasus và Pakistan. Tuy nhiên, Hiệp hội Vận tải Iran hôm 30/4 cho biết chỉ 40% kim ngạch thương mại của nước này có thể chuyển hướng khỏi các cảng bị phong tỏa.
Lầu Năm Góc cho hay kể từ khi lệnh phong tỏa cảng biển bắt đầu ngày 13/4, quân đội Mỹ đã buộc hơn 40 tàu vận chuyển dầu và các mặt hàng khác phải chuyển hướng khi cố gắng vượt qua vòng vây của Mỹ. 31 tàu chở dầu chứa 53 triệu thùng dầu của Iran đang bị mắc kẹt tại vùng Vịnh với giá trị ít nhất là 4,8 tỷ USD. Hai con tàu đã bị phía Mỹ bắt giữ.
Chìa khóa trong chiến dịch gây áp lực của Mỹ là đẩy Iran đến tình cảnh không còn chỗ trữ dầu, dẫn đến việc phải đóng cửa các giếng khai thác, theo Marc Caputo, nhà bình luận của Axios. Kịch bản này có thể xảy ra trong vài tuần tới.
"Họ có lẽ chỉ còn cách thời điểm hết chỗ chứa khoảng vài tuần hoặc có thể là một tháng", Gregory Brew, chuyên gia phân tích tại Eurasia Group, chia sẻ với Axios.
Saeid Golkar, nhà nghiên cứu về Iran tại Đại học Tennessee ở Chattanooga, cho rằng giới lãnh đạo Iran hiện có hai lựa chọn. Họ có thể kiềm chế hành động và thúc đẩy đàm phán một thỏa thuận có lợi với Tổng thống Donald Trump, người mà họ cho là đang nóng lòng muốn thoát khỏi cuộc chiến hỗn loạn này càng sớm càng tốt.
Lựa chọn thứ hai là Iran nối lại cuộc chiến để đẩy giá dầu tăng vọt và tăng áp lực lên ông Trump.
Lãnh tụ Tối cao Iran Mojtaba Khamenei ngày 30/4 đưa ra lời đe dọa mới, nói rằng "những thế lực nước ngoài có hành động thù địch chỉ có đường nằm dưới đáy biển". Ông Mojtaba vẫn chưa xuất hiện trước công chúng kể từ khi kế vị cha mình, Ali Khamenei, người đã thiệt mạng ngày 28/2 trong đợt tập kích ban đầu của Israel.
Hai ngày sau, tướng Mohammad Jafar Asadi, phó chỉ huy Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya của quân đội Iran, cảnh báo xung đột với Mỹ rất có thể sẽ tái bùng phát sau thời gian ngừng bắn, khi hai bên vẫn chưa tìm được tiếng nói chung.
Điều này cho thấy giới lãnh đạo Iran dường như ngày càng nghiêng về phương án có hành động quyết liệt với Mỹ, khi nỗ lực đàm phán để Washington dỡ lệnh phong tỏa không mang lại kết quả, theo Golkar.
"Lệnh phong tỏa ngày càng được Tehran nhìn nhận không phải là sự thay thế cho chiến tranh, mà là biểu hiện khác của chiến tranh. Do đó, các nhà hoạch định chính sách Iran có thể sớm cho rằng việc tái bùng phát xung đột sẽ ít tốn kém hơn so với tiếp tục chịu đựng lệnh phong tỏa kéo dài", Hamidreza Azizi, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện SWP ở Đức, nhận định.
Giới chức Iran cho biết Tehran có thể tung ra chiến thuật mới và sử dụng các loại vũ khí chưa từng dùng, từ tàu ngầm đến cá heo mang thiết bị nổ, để tấn công tàu chiến Mỹ nếu chiến sự tái diễn. Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đe dọa sẽ cắt cáp viễn thông ở eo biển Hormuz, điều có thể gây gián đoạn Internet toàn cầu.
Cuối tuần qua, Tehran đã chuyển cho các bên trung gian khu vực đề nghị ngừng tấn công ở eo biển để đổi lấy việc chấm dứt chiến tranh hoàn toàn, gỡ bỏ lệnh phong tỏa và hoãn các cuộc đàm phán hạt nhân. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ dường như không hài lòng với đề xuất này.
Ông Trump đầu tuần này chỉ đạo các trợ lý chuẩn bị cho lệnh phong tỏa kéo dài. "Lệnh phong tỏa này thật hiệu quả và gần như hoàn toàn không có lỗ hổng", ông nói.
Iran đặt cược rằng Mỹ sẽ phải nhượng bộ trước để hạ nhiệt giá xăng dầu. Ngược lại, giới chức Mỹ tin rằng Iran sẽ phải xuống nước do khủng hoảng kinh tế ngày càng trầm trọng.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi gần đây tuyên bố Tehran sẽ tìm cách "vô hiệu hóa các hạn chế". Tuy nhiên, Miad Maleki, một cựu chuyên gia về trừng phạt tại Bộ Tài chính Mỹ và hiện là nghiên cứu viên cao cấp tại tổ chức Quỹ Phòng vệ Dân chủ (FDD) ở Washington, nhận định nếu tình hình này càng kéo dài, hệ lụy với Iran sẽ càng lớn.
"Họ đã chịu lệnh trừng phạt và bị cô lập trong suốt 47 năm qua. Những giếng dầu đó không được bảo trì tốt, máy móc của họ cũng vậy", ông nói, thêm rằng một khi đã đóng lại, các giếng dầu sẽ không thể dễ dàng "phục hồi ngay lập tức chỉ sau vài tháng".
Dù vậy, Chánh án Tòa án Tối cao Iran Gholamhossein Mohseni Ejei hôm 1/5 cho biết Tehran "chưa bao giờ né tránh đàm phán", nhưng sẽ không chấp nhận "bị áp đặt" các điều khoản hòa bình.
Ông Schröder không phù hợp để đại diện cho châu Âu trong bất kỳ cuộc đàm phán hòa bình nào nhằm chấm dứt chiến sự Nga - Ukraine, đại diện cấp cao phụ trách chính sách đối ngoại của EU, Kaja Kallas cho biết hôm 11/5.
Tổng thống Nga Vladimir Putin cuối tuần qua đã đề xuất rằng ông Schröder, người giữ chức Thủ tướng Đức từ năm 1998 đến 2005, có thể đại diện cho các nước châu Âu trong các cuộc đàm phán hòa bình. Trước đây, ông Schröder từng nắm vai trò trong một số công ty năng lượng quốc doanh của Nga.
“Thứ nhất, nếu chúng ta trao cho Nga quyền chỉ định một nhà đàm phán thay mặt chúng ta thì điều đó sẽ không khôn ngoan chút nào”, bà Kallas phát biểu khi tới dự cuộc họp các ngoại trưởng tại Brussels.
Ngoài ra, bà cho rằng ông Schröder từng là một nhà vận động hành lang cấp cao cho các công ty quốc doanh của Nga và đó là lý do ông Putin muốn ông ấy là trung gian đàm phán.
Cho đến nay, Mỹ đóng vai trò trung gian chính trong các cuộc đàm phán Nga - Ukraine, trong khi châu Âu phần lớn đứng ngoài cuộc, dù một số lãnh đạo đã kêu gọi châu Âu đóng vai trò tích cực hơn.
Cuối tuần qua, Ngoại trưởng Đức Johann Wadephul cho biết châu Âu nên tham gia đàm phán, với đại diện là các quan chức từ nhóm cường quốc E3 gồm Đức, Pháp và Anh.
Khi được hỏi trong điều kiện nào EU có thể chấp nhận tham gia đàm phán trực tiếp với ông Putin, bà Kallas nói rằng Moscow cần phải có các động thái nhượng bộ.
Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius đã tới Kiev hôm 11/5 để thảo luận về việc sản xuất vũ khí chung và mở rộng hợp tác quốc phòng. Các cuộc thảo luận dự kiến tập trung vào các dự án UAV mới, các liên doanh quốc phòng Đức - Ukraine và hỗ trợ cho lĩnh vực công nghệ quân sự của Ukraine thông qua nền tảng Brave One.
Theo bà Kallas, các ngoại trưởng EU dự kiến sẽ tiếp tục thảo luận vấn đề trên tại cuộc họp vào cuối tháng 5 khi khối này xây dựng cách tiếp cận trước bất kỳ cuộc đàm phán tiềm năng nào với Moscow.
Trước đó, Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa cho biết EU nhìn thấy “tiềm năng” cho các cuộc đàm phán trong tương lai với ông Putin. Ông nói thêm rằng khối này đang chuẩn bị cho khả năng đàm phán và nhận được sự ủng hộ của Tổng thống Volodymyr Zelensky.
Ngày 9/5, ông Costa nói EU sẽ chỉ trao đổi với ông Putin vào “thời điểm thích hợp”.
“Sẽ có lúc EU cần nói chuyện với Nga vì đây là vấn đề mang tính sống còn đối với châu Âu. Nhưng hiện tại chưa phải lúc", ông giải thích.
Trong khi đó, ngày 11/5, Tổng thống Zelensky cho biết ông Putin “đã tuyên bố sẵn sàng cho các cuộc đàm phán thực sự”.
“Giờ đây chính ông Putin nói rằng cuối cùng ông ấy đã sẵn sàng cho các cuộc gặp thực sự. Chúng tôi đã thúc đẩy ông ấy một chút, và chúng tôi đã chuẩn bị cho các cuộc gặp từ lâu, vì vậy chúng tôi cần tìm ra một hình thức phù hợp. Chúng tôi cần chấm dứt cuộc chiến này và bảo đảm an ninh một cách đáng tin cậy”, ông Zelensky nói.