Hội thảo chuyên đề “Đưa AI vào thực tiễn: Chuyển hóa từ ý tưởng thành giá trị” đã thu hút sự tham gia của các lãnh đạo doanh nghiệp và chuyên gia công nghệ nhằm chia sẻ góc nhìn thực tiễn về việc thúc đẩy ứng dụng AI trong kinh doanh và thu hẹp “khoảng cách giá trị” đang gia tăng giữa đầu tư và tác động kinh doanh.
Bên cạnh đó, hội thảo có sự hiện diện của các Tổng lãnh sự Malaysia, Indonesia, Singapore và Thái Lan. Phía đồng tổ chức còn có Phòng Thương mại Singapore tại Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), INCHAM, Hiệp hội Doanh nghiệp Hồng Kông tại Việt Nam và Phòng Thương mại Indonesia tại Việt Nam.
Phát biểu khai mạc, Tổng lãnh sự Malaysia tại TP.HCM Firdauz Othman nhận định: “Khoảng cách ngày càng lớn giữa tham vọng về AI và kết quả kinh doanh thực tế vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải vượt ra khỏi cách tiếp cận chỉ tập trung vào công nghệ, hướng tới một phương thức có cấu trúc hơn và lấy giá trị làm trọng tâm, đồng thời củng cố nền tảng dữ liệu, quản trị, nhân tài và mô hình vận hành để khai mở những kết quả thiết thực”.
Ở tầm hợp tác khu vực, khi mà Malaysia và Việt Nam cùng đặt trọng tâm vào quá trình chuyển đổi số, ông Othman cho rằng những nội dung trao đổi tại hội thảo mang lại những góc nhìn thiết thực, giúp các tổ chức tại Việt Nam tự tin hơn trên hành trình ứng dụng AI và khai mở tối đa tiềm năng mà công nghệ này mang lại.
Tại hội thảo, ông Vishy Narayanan, Lãnh đạo khu vực châu Á – Thái Bình Dương về chuyển đổi số và AI của PwC, đã đưa ra góc nhìn khu vực về xu hướng ứng dụng AI, đồng thời nhấn mạnh sự chênh lệch ngày càng rõ giữa mức độ triển khai AI trên diện rộng và các kết quả kinh doanh có thể đo lường.
Ông chỉ ra trong bối cảnh các doanh nghiệp trên toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang gia tăng đầu tư vào AI, không ít doanh nghiệp vẫn đang chững lại ở giai đoạn thử nghiệm.
Theo kết quả từ Khảo sát CEO Toàn cầu thường niên lần thứ 29 – Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của PwC, 39% lãnh đạo doanh nghiệp ghi nhận AI đã tạo ra doanh thu bổ sung và 26% cho biết đã góp phần tối ưu chi phí, nhưng khoảng 50% vẫn chưa quan sát được tác động tài chính đáng kể.
Nghiên cứu AI Performance của PwC tiếp tục cho thấy sự phân hóa này: chỉ 20% doanh nghiệp tạo ra gần 74% giá trị kinh tế từ AI, trong khi phần lớn còn lại vẫn mắc kẹt ở giai đoạn thử nghiệm hoặc triển khai ban đầu.
Một khoảng cách rõ rệt về hiệu quả đang dần hình thành, khi chỉ một nhóm nhỏ doanh nghiệp có thể chuyển hóa AI thành tăng trưởng doanh thu và tối ưu chi phí, trong khi phần lớn vẫn gặp khó khăn trong việc hiện thực hóa lợi ích.
“Trên toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chúng tôi đang chứng kiến một động lực rất lớn xoay quanh AI. Tuy nhiên, động lực này không tự động chuyển hóa thành giá trị. Thách thức hiện nay là làm thế nào để chuyển hóa đà tăng trưởng đó thành các kết quả kinh doanh có thể đo lường, thay vì chỉ dừng lại ở mức độ hoạt động hay thử nghiệm”, ông Vishy nhấn mạnh
Phiên thảo luận tiếp tục với chủ đề “Từ thí điểm đến lợi nhuận – Điều gì thực sự đang cản trở doanh nghiệp mở rộng quy mô AI?”, đưa câu chuyện đến gần hơn với thực tiễn tại Việt Nam, cũng như mở ra cơ hội ở giai đoạn then chốt trong hành trình chuyển đổi số.
Các diễn giả tập trung làm rõ nguyên nhân khiến nhiều sáng kiến AI gặp khó khăn sau giai đoạn thí điểm, cũng như những yếu tố tiên quyết để hiện thực hóa các kết quả kinh doanh.
Một điểm đáng chú ý là các rào cản trong việc mở rộng AI ngày càng mang tính tổ chức, thay vì chỉ giới hạn ở công nghệ. Những hạn chế về chất lượng dữ liệu, khả năng tích hợp và mức độ sẵn sàng của hạ tầng dữ liệu, cùng với khoảng trống về năng lực và mức độ sẵn sàng của nguồn nhân lực, đang trở thành tác nhân chính làm chậm quá trình triển khai.
Bên cạnh đó, việc đưa AI vào hoạt động thường ngày của doanh nghiệp vẫn là một bài toán phức tạp, đòi hỏi sự điều chỉnh đồng bộ không chỉ về hệ thống mà còn ở quy trình và phương thức làm việc.
Phiên thảo luận cũng nêu bật vai trò mang tính quyết định của các nhà lãnh đạo trong việc định hình kết quả triển khai. Và sự cam kết từ đội ngũ lãnh đạo trong việc dẫn dắt và duy trì đà triển khai được xem là yếu tố then chốt, tạo nền tảng để mở rộng việc ứng dụng AI một cách hiệu quả và bền vững.
Bên cạnh những thách thức trong triển khai, yếu tố quản trị và niềm tin đang ngày càng nổi lên như một trụ cột then chốt, định hình tốc độ và quỹ đạo ứng dụng AI. Thay vì chỉ được nhìn nhận như một cơ chế kiểm soát, quản trị đang được xác định là nền tảng giúp doanh nghiệp mở rộng AI một cách hiệu quả và có trách nhiệm.
Các diễn giả nhấn mạnh việc tích hợp AI có trách nhiệm ngay từ giai đoạn đầu, cùng với việc thiết lập cơ chế về sử dụng dữ liệu, trách nhiệm giải trình và quản lý rủi ro, sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao mức độ minh bạch và giảm thiểu bất định trong quá trình triển khai.
"Tôi không cho rằng tất cả đều sai, vẫn có những điều đã diễn ra đúng", Phó tổng thống JD Vance trả lời phỏng vấn Fox News ngày 13/4, đề cập cuộc đàm phán cấp cao giữa Mỹ và Iran tại Islamabad, Pakistan, cuối tuần trước. "Chúng tôi đạt được nhiều tiến triển, làm rõ thêm nhiều vấn đề".
Theo ông Vance, phía Mỹ nêu rõ những điều khoản nào là bắt buộc để Tổng thống Donald Trump cảm thấy đây là một thỏa thuận tốt, như Mỹ kiểm soát lượng uranium đã làm giàu của Iran và thiết lập cơ chế để xác thực Tehran không phát triển vũ khí hạt nhân trong tương lai. Washington cũng liệt kê các điều khoản có thể nhượng bộ hay linh hoạt.
"Chúng tôi có những cuộc trao đổi khá tích cực. Tôi nghĩ đây có thể là lần đầu tiên trong lịch sử mà Mỹ và Iran gặp nhau ở cấp độ cao như vậy", ông Vance tiếp tục, thêm rằng phái đoàn Mỹ rời bàn đàm phán sau khi xác định rằng các đại diện từ Iran không có đủ thẩm quyền để chốt một thỏa thuận.
"Họ phải quay về Tehran, xin ý kiến từ Lãnh tụ Tối cao hoặc ai đó khác, để thực sự được phê chuẩn các điều khoản", ông Vance nói. "Các cuộc đàm phán có tiếp diễn hay có đạt được thỏa thuận hay không tùy thuộc vào Iran, vì chúng tôi đã đưa ra rất nhiều đề xuất".
Ông Vance nhấn mạnh rằng Tổng thống Trump sẵn sàng hướng tới một mối quan hệ bình thường hơn với Iran, nếu các điều kiện then chốt được đáp ứng.
Mỹ và Iran ngày 11/4 có cuộc đàm phán tại Islamabad kéo dài khoảng 21 giờ. Dẫn đầu phía Mỹ là Phó tổng thống Vance, còn trưởng phái đoàn đàm phán của Iran là Chủ tịch Quốc hội Mohammad Baqer Qalibaf. Hai bên cuối cùng không đạt được đồng thuận về các vấn đề then chốt, trong đó có quyền kiểm soát eo biển Hormuz và việc Iran có được tiếp tục làm giàu uranium hay không.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi nói các bên "chỉ còn cách Bản ghi nhớ Islamabad trong gang tấc" thì vấp phải những yêu cầu quá mức và sự thay đổi điều kiện đàm phán từ phái đoàn Mỹ.
Reuters dẫn các nguồn thạo tin cho biết cuộc đàm phán Mỹ - Iran ở Pakistan không có đột phá, nhưng nỗ lực đối thoại vẫn được duy trì.
Tổng thống Trump ngày 13/4 cho biết phía Iran "đã gọi điện sáng nay" cho ông và "bày tỏ mong muốn đạt một thỏa thuận". Tehran chưa bình luận về thông tin này.
Bốn tàu chở dầu treo cờ Iran đã đi qua eo biển Hormuz vào ngày 1/6, đánh dấu lần đầu tiên kể từ ngày 15/4 và sau khi Mỹ phong tỏa các cảng của Tehran, theo công ty theo dõi hàng hải Kpler.
Trong dữ liệu công bố ngày 4/6, Kpler ghi nhận sự di chuyển của các tàu Hilda I, Amber, Silvia 1 và Happiness I, chở tổng cộng 7 triệu thùng dầu.
Tất cả số dầu này được bốc lên tàu vào giữa tháng 4 tại đảo Kharg, cảng xuất khẩu dầu mỏ chính của Iran, nơi thông thường xử lý khoảng 90% lượng dầu thô xuất khẩu của phía Tehran.
Các tàu đã đi qua eo biển Hormuz vào ngày 1/6 trong tình trạng tắt thiết bị phát đáp AIS. Kpler chủ yếu dựa vào hình ảnh vệ tinh để theo dõi các tàu vận chuyển nguyên liệu thô.
Bốn tàu chở dầu này thường vận chuyển dầu thô Iran tới các khu vực khác, nơi hàng hóa được chuyển từ tàu này sang tàu khác trên biển trước khi được đưa tới khách hàng cuối cùng. Theo Reuters, đây được xem là phương thức nhằm né tránh các lệnh trừng phạt quốc tế.
Ban đầu, 4 tàu chở dầu trên vẫn tiếp tục hoạt động bất chấp xung đột với Israel và Mỹ, nhưng đã ngừng hoạt động kể từ ngày 13/4, khi Washington áp đặt lệnh phong tỏa các cảng của Iran nhằm đáp trả việc Tehran siết kiểm soát eo biển Hormuz.
Theo Kpler, 3 tàu chở dầu khác có liên hệ với Iran đã từng phá vỡ lệnh phong tỏa vào ngày 15/4. Kể từ đó đến nay, không có tàu nào khác thực hiện điều tương tự.
Quân đội Mỹ thường xuyên thông báo các hành động nhằm vào những tàu chở dầu cố gắng vi phạm lệnh phong tỏa.
Ngày 2/6, Mỹ tuyên bố đã vô hiệu hóa một tàu chở dầu bằng cách bắn vào khoang động cơ để ngăn con tàu tiếp cận đảo Kharg. Đây là chiếc tàu thứ 6 bị lực lượng quân sự Mỹ làm hư hại trong khuôn khổ chiến dịch phong tỏa.
Trước đó, đã có những đồn đoán về áp lực mà Iran phải đối mặt khi Mỹ siết chặt phong tỏa. Phần lớn dầu của Iran mắc kẹt trong vịnh Ba Tư do mệnh lệnh này, buộc Tehran phải bơm lượng dầu tồn đọng vào các bể chứa đang nhanh chóng đầy lên cũng như lên một đội tàu neo đậu gần đó.
Các quan chức Mỹ đã đặt cược rằng khi Iran cạn kiệt nơi lưu trữ dầu, nước này sẽ phải đối mặt với việc đóng cửa các mỏ dầu với chi phí cao và rủi ro lớn, buộc Tehran phải nhượng bộ trong đàm phán về chương trình hạt nhân cũng như cuộc đối đầu rộng lớn hơn.
Cuối tháng 4, Tổng thống Donald Trump cho biết Iran chỉ còn khoảng 3 ngày trước khi các đường ống dẫn dầu có nguy cơ phát nổ do tắc nghẽn. Vào giữa tháng 5, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent nói rằng kho chứa dầu của Iran đã đầy và Tehran sẽ phải ngừng sản xuất dầu.
Tuy nhiên, những ước tính này cho tới nay chưa thành hiện thực, cho thấy Iran vẫn đang tìm được cách để thích ứng với áp lực ngày càng gia tăng từ Mỹ, nhằm thể hiện sự cứng rắn chiến lược trong các cuộc đàm phán với Washington.
"Kể từ bây giờ, người nước ngoài đang tạm trú tại Mỹ và muốn có thẻ xanh phải trở về nước mình để nộp đơn, trừ những trường hợp đặc biệt", ông Zach Kahler, phát ngôn viên Cơ quan Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS), cho biết ngày 22.5.
Theo ông Kahler, chính sách này nhằm bảo đảm hệ thống nhập cư Mỹ vận hành "đúng như luật định", thay vì tạo điều kiện cho các kẽ hở.
Quy trình cấp thẻ xanh đã không thay đổi trong hơn 60 năm, và động thái này đã đánh dấu bước đi quan trọng mới nhất của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump về chính sách nhập cư, theo The Guardian.
Trong bản ghi nhớ chính sách, USCIS yêu cầu các viên chức xét duyệt hồ sơ xem xét từng trường hợp cụ thể, cân nhắc toàn bộ bằng chứng và hoàn cảnh liên quan để quyết định liệu người nộp đơn có đủ điều kiện được điều chỉnh tình trạng cư trú tại Mỹ hay không.
Trước đây, người nước ngoài muốn xin thẻ xanh thường có 2 lựa chọn: nộp hồ sơ tại lãnh sự quán Mỹ ở nước ngoài, hoặc xin "điều chỉnh tình trạng cư trú" khi đang ở Mỹ. Chính sách mới có thể khiến nhiều người đang ở Mỹ bằng thị thực tạm thời phải rời khỏi nước này trong thời gian hồ sơ được xử lý, theo Reuters.
Quy định nhìn chung áp dụng với người nước ngoài vào Mỹ bằng thị thực tạm thời không định cư, gồm sinh viên, lao động có thị thực H-1B hoặc L và khách du lịch. Theo các chuyên gia luật nhập cư, thay đổi này có thể ảnh hưởng đến hàng trăm nghìn người mỗi năm, trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Trump đang tăng cường siết chính sách nhập cư.
Mỹ cấp khoảng 1 triệu thẻ xanh mỗi năm, trong đó khoảng một nửa dành cho thân nhân ở nước ngoài được công dân Mỹ bảo lãnh. Các hồ sơ dạng này thường được xử lý bên ngoài lãnh thổ Mỹ.
Các nhóm hỗ trợ người nhập cư, chuyên gia chính sách và luật sư di trú đã chỉ trích động thái này, cho rằng chính sách mới có thể làm xáo trộn cuộc sống của nhiều gia đình, buộc người xin thẻ xanh phải rời bỏ công việc, nhà cửa và người thân trong thời gian chưa xác định.
Tổ chức HIAS, chuyên hỗ trợ người tị nạn và người nhập cư, cảnh báo thay đổi này có thể ảnh hưởng đến cả những nhóm dễ tổn thương như nạn nhân buôn người hoặc trẻ em bị bạo hành và bị bỏ rơi, nếu họ buộc phải quay lại những quốc gia từng rời bỏ để hoàn tất thủ tục thường trú tại Mỹ.
Hiện chưa rõ các hồ sơ xin thẻ xanh đang chờ xử lý tại Mỹ sẽ bị ảnh hưởng ra sao.