Theo ghi nhận, đến sáng 18/6, đã có 19 tỉnh thành công bố điểm thi và 10 tỉnh công bố điểm chuẩn lớp 10 năm 2026.
Gần đây nhất, Lạng Sơn đã công bố điểm chuẩn vào lớp 10 công lập không chuyên năm học 2026-2027. Bảng điểm cho thấy sự phân hóa khá rõ giữa các trường.
Dẫn đầu toàn tỉnh là THPT Việt Bắc với mức điểm chuẩn nguyện vọng (NV) 1 lên tới 21,75 điểm – cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung.
Xếp sau là THPT Hoàng Văn Thụ với 16 điểm ở NV1 nhưng tăng mạnh lên 20,5 điểm ở NV2.
Nhóm các trường có mức điểm từ 12-14 điểm như THPT Cao Lộc, Hữu Lũng, Bình Gia, Lương Văn Tri và Chi Lăng chiếm tỷ lệ lớn.
Trong khi đó, nhiều trường vùng xa như THPT Tú Đoạn (8,5 điểm), Na Dương (9,25 điểm) hay Đồng Bành (9,5 điểm) có mức chuẩn thấp hơn, cho thấy áp lực cạnh tranh nhẹ hơn.
Đáng chú ý, khoảng cách giữa trường cao nhất và thấp nhất lên tới 13,25 điểm, thể hiện sự chênh lệch rõ về chất lượng đầu vào và sức hút giữa các địa bàn.
Như vậy, đến nay đã có 19 tỉnh đã công bố điểm thi: Nghệ An, Hà Tĩnh, Lai Châu, Hưng Yên, Ninh Bình, Điện Biên, Quảng Trị, Đồng Tháp, Khánh Hoà, Đắk Lắk, Đà Nẵng, Đồng Nai, Lào Cai, Lạng Sơn, Huế, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ngãi.
Các tỉnh đã công bố điểm chuẩn: Lai Châu, Hưng Yên, Ninh Bình, Đồng Nai, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Huế, Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Lạng Sơn.
Bạn đọc theo dõi cách tra cứu điểm thi lớp 10 của 34 tỉnh thành TẠI ĐÂY.
Tin Gốc: Dân Trí

Bài tập Toán gắn yếu tố thực tế là nỗi sợ lớn nhất của Hoài Anh, học sinh lớp 12 ở Hà Nội. Nữ sinh kể với dạng trả lời trắc nghiệm đúng, sai, em thường chỉ mất 5 phút cho cả bài bốn ý, nếu đề gồm các đại lượng thuần Toán học. Song, khi đề thay bằng chất liệu thực tế như tính diện tích, thể tích vật thể, nữ sinh mất gấp 2-3 lần thời gian, cũng hay sai hơn.
Hoài Anh lấy ví dụ với một bài hình học không gian. Nếu đề cho khối trụ có số đo bán kính r, chiều cao h và yêu cầu tính thể tích V, em có thể áp dụng ngay công thức V = pi r^2h. Nhưng nếu đề chuyển thành "thiết kế vỏ lon nước ngọt hình trụ sao cho tốn ít nhôm nhất nhưng vẫn đựng được thể tích V", nữ sinh không biết đó chính là tính diện tích nhỏ nhất chứa được thể tích V.
"Em khổ sở, đến mức chỉ nhìn thấy một bài nhiều chữ đã lo lắng, ái ngại. Dạng này khiến em khó đạt 8", Hoài Anh nói.
Không đến mức sợ, nhưng với Nhật Lâm, sinh viên năm thứ nhất ngành Kinh doanh số và Trí tuệ nhân tạo của trường Đại học Kinh tế - Luật, TP HCM, những bài "Toán thực tế" ở phổ thông lại là những thứ quên nhanh nhất. Lý do là em không gặp những bể nước, mảnh vườn, nhà kho... như được học.
Nam sinh lấy ví dụ, dạng bài tính tiền điện thường có bản chất là phép tính nhân, khi cho giá tiền một số điện, rồi nhân với số tiêu thụ. Nhưng khi tính tiền trọ giúp mẹ, Lâm biết được rằng tiền điện thực tế sẽ có nhiều bậc giá, tùy lượng điện đã dùng.
Rồi với chứng chỉ quỹ, khi đầu tư thật, Lâm thấy những cái được học không giúp ích được trong việc hình dung rủi ro và tính toán lãi thực tế. Lý do là giá chứng chỉ sẽ biến động theo ngày, ngoài tiền mua còn cần phí giao dịch, phí lưu giữ, thuế..., trong khi bài học về cơ bản chỉ dạy tính lãi bằng cách nhân tiền gốc với lãi suất.
"Mình cảm giác nhiều bài chỉ đang lấy chuyện ngoài đời để bọc một bài Toán có sẵn, chứ không phải dạy cách giải quyết vấn đề thật", Lâm nói.
Nhiều năm qua, các chuyên gia nhìn nhận chương trình Toán ở phổ thông còn bất cập vì thiếu liên kết với đời sống. Dù vậy, dạy Toán gắn với thực tế hiện lại khiến nhiều em áp lực, nhanh quên sau khi rời trường học, theo cô Thảo, giáo viên ở một trường THPT tại Hà Nội.
Nhiều năm đứng lớp, cô thấy đa số học sinh lúng túng với dạng này. Các em thường hỏi chúng để làm gì, ngoài đời dùng ở đâu, nhưng nhiều lúc cô "cũng khó lấy ví dụ" hoặc không đủ thời gian để dạy cặn kẽ.
Việc dạy và học Toán thực tế bất cập còn bởi hai lý do chính. Một là những bài Toán chỉ "khoác một vỏ bọc thực tế", thay vì thực sự có ý nghĩa ứng dụng, theo GS Tôn Thân, nguyên Trưởng phòng Toán - Tin, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
Ông lấy ví dụ về các đại lượng tỷ lệ thuận, nghịch, dạng bài phổ biến là cho một công trình với x người làm, dự kiến hoàn thành trong y ngày, coi năng suất mỗi người là như nhau. Về lý thuyết, số người tăng gấp đôi thì số ngày giảm đi một nửa. Nhưng ông đặt vấn đề "tăng x gấp 100 lần thì y tiệm cận 0" là vô lý, dù về mặt Toán học vẫn giải ra đáp số.
"Bài này chỉ thuần Toán học chứ không phải thực tế, không có chuyện năng suất mỗi người như nhau và thời gian về 0", ông nói.
Năm ngoái, đề thi Toán học giỏi quốc gia bị nhiều giáo viên chê vì gượng ép yếu tố thực tế, khi cho bài về các vệ tinh khám phá không gian, đề yêu cầu thí sinh tính khoảng cách giữa hai điểm trong trục tọa độ. Dựa vào dữ kiện được cho, nhiều giáo viên chứng minh được rằng vệ tinh sẽ đâm vào Trái Đất.
"Toán thực tế phải xuất phát từ cuộc sống thật, chứ không phải lấy nội dung Toán học rồi tô vẽ để thành thực tế", ông Thân nói.
Lý do thứ hai là áp lực thi cử, theo thầy Lâm Vũ Công Chính, giáo viên Toán trường THPT Nguyễn Du, TP HCM.
Thầy Chính thấy rằng hệ thống giáo dục hiện vẫn phụ thuộc lớn vào các kỳ thi để phân loại học sinh, từ chuyển cấp tới xét tuyển đại học, khiến giáo viên và học sinh buộc phải chạy theo đề thi. Giáo viên không chỉ dạy đúng, hay, đủ mà còn làm sao để học sinh thi đỗ. Vì thế, thi cái gì thì thầy trò học cái đó.
"Đề thi không phải để đánh giá, mà là đánh đố học sinh để phân loại", thầy nói.
Khi đó, giáo viên khó có điều kiện dạy học sinh cách ứng dụng Toán trong đời sống. Thay vào đó, việc học thường xoay quanh nhận dạng dạng bài, luyện mẹo và tối ưu tốc độ làm bài để đạt điểm cao.
Theo các nhà giáo, muốn học sinh bớt sợ và thấy được ý nghĩa của môn Toán, việc thay đổi cần đồng bộ từ cách ra đề, đào tạo giáo viên tới mục tiêu của các kỳ thi.
GS Tôn Thân cho rằng để có những bài Toán thực tế chất lượng, giáo viên, người ra đề cần nắm chắc dạng này. Do đó, ông quan điểm cần có đột phá ở khâu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cách xây dựng học liệu. Các chuyên đề tập huấn cũng nên chú trọng vào Toán gắn với đời sống thật, để giáo viên hiểu đúng bản chất, từ đó ra đề mới "hay và hợp lý".
Theo thầy Chính, việc đổi mới sẽ khó đạt hiệu quả nếu thi cử vẫn đặt nặng mục tiêu phân loại. Điều cần thay đổi không phải là cắt giảm lý thuyết, mà là cách dạy và cách tổ chức thi để học sinh có cơ hội hiểu, ứng dụng Toán thay vì chỉ luyện kỹ thuật làm bài.
"Có đổi mới chương trình đến đâu mà các kỳ thi không đổi thì kết quả vẫn vậy", thầy nói.
Với Hoài Anh, kỳ thi tốt nghiệp chỉ còn cách một tháng, mà điểm phần Toán vẫn "trồi sụt", nữ sinh chỉ muốn được dạy cách "dịch đề" để nhanh chóng bóc tách, xem bài Toán thực tế có bản chất là dạng nào.
Hoài Anh cũng mong được học thêm những bài Toán gắn với tình huống gần gũi như chia hóa đơn, tính điện nước.
"Ít nhất em còn hình dung được chuyện đó xảy ra trong cuộc sống. Chứ mấy bài về bể nước có vòi chảy vào, chảy ra, em chưa bao giờ thấy cái bể nào như vậy ngoài đời", nữ sinh nói.
*Tên một số học sinh, giáo viên được thay đổi
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày 18/6, Thái Nguyên và Lạng Sơn đã chính thức công bố điểm thi và điểm chuẩn vào lớp 10 năm học 2026-2027.
Chi tiết điểm chuẩn lớp 10 Thái Nguyên như sau:
Dẫn đầu toàn tỉnh là Trường THPT Lương Ngọc Quyến với mức điểm chuẩn 25 điểm. Xếp sau là THPT Chu Văn An với 23,75 điểm và THPT Thái Nguyên với 22 điểm.
Nhóm trường có điểm chuẩn từ 20 điểm trở lên còn có THPT Gang Thép (21,5 điểm), THPT Dương Tự Minh (20,5 điểm) và THPT Lê Hồng Phong (20,25 điểm).
Trong khi đó, nhiều trường khu vực huyện đạt mức điểm chuẩn dao động từ 14 đến 18 điểm. Đáng chú ý, có nhiều trường có điểm chuẩn dưới 10 điểm. Thấp nhất là Trường THCS và THPT Yên Hân với 8 điểm.
Một số trường khác như THPT Võ Nhai, THCS và THPT Bình Trung lấy 8,5 điểm; THPT Bộc Bố lấy 8,75 điểm; THCS và THPT Nà Phặc, THCS và THPT Quảng Khê cùng lấy 9,5 điểm.
Mức chênh lệch giữa trường có điểm chuẩn cao nhất và thấp nhất lên tới 17 điểm.
Tại một số trường có điểm chuẩn thấp, thí sinh có tổng điểm xét tuyển từ 8 đến 10 điểm vẫn đủ điều kiện trúng tuyển. Trong khi đó, để giành suất vào các trường THPT tốp đầu của tỉnh, thí sinh phải đạt trung bình từ 8 điểm mỗi môn trở lên.
20 tỉnh đã công bố điểm thi: Nghệ An, Hà Tĩnh, Lai Châu, Hưng Yên, Ninh Bình, Điện Biên, Quảng Trị, Đồng Tháp, Khánh Hoà, Đắk Lắk, Đà Nẵng, Đồng Nai, Lào Cai, Lạng Sơn, Huế, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Thái Nguyên.
11 tỉnh đã công bố điểm chuẩn: Lai Châu, Hưng Yên, Ninh Bình, Đồng Nai, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Huế, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên.
Bạn đọc theo dõi cách tra cứu điểm thi lớp 10 của 34 tỉnh thành TẠI ĐÂY.
Bảng điểm chuẩn Lạng Sơn cũng cho thấy sự phân hóa khá rõ giữa các trường.
Dẫn đầu toàn tỉnh là THPT Việt Bắc với mức điểm chuẩn nguyện vọng (NV) 1 lên tới 21,75 điểm - cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung.
Xếp sau là THPT Hoàng Văn Thụ với 16 điểm ở NV1 nhưng tăng mạnh lên 20,5 điểm ở NV2.
Nhóm các trường có mức điểm từ 12-14 điểm như THPT Cao Lộc, Hữu Lũng, Bình Gia, Lương Văn Tri và Chi Lăng chiếm tỷ lệ lớn.
Trong khi đó, nhiều trường vùng xa như THPT Tú Đoạn (8,5 điểm), Na Dương (9,25 điểm) hay Đồng Bành (9,5 điểm) có mức chuẩn thấp hơn, cho thấy áp lực cạnh tranh nhẹ hơn.
Đáng chú ý, khoảng cách giữa trường cao nhất và thấp nhất lên tới 13,25 điểm, thể hiện sự chênh lệch rõ về chất lượng đầu vào và sức hút giữa các địa bàn.
Chiều 16/6, Hải Phòng và Quảng Ngãi đã chính thức công bố điểm thi vào lớp 10 năm học 2026-2027.
Thí sinh Hải Phòng có thể tra cứu điểm thi tại địa chỉ: https://tracuudiemthi.haiphong.gov.vn/
Ngoài ra, thí sinh và người nhà có thể sử dụng Ứng dụng Smart Hải Phòng để tra cứu điểm thi kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 một cách nhanh chóng, thuận tiện và chính xác.
Thí sinh Quảng Ngãi có thể tra cứu tại địa chỉ: https://tsdc-tracuu.tsdc.edu.vn/tra-cuu-diem-thi
Sau khi công bố điểm thi, Sở GD&ĐT Quảng Ngãi cũng công bố dự kiến điểm chuẩn vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027. Xem chi tiết TẠI ĐÂY.
Tối 15/6, các trường THPT tại Bắc Ninh đã đăng tải thông tin về điểm chuẩn tuyển sinh năm 2026. Theo đó, mức điểm chuẩn có độ dao động lớn giữa các trường. Trong đó, ở khối không chuyên, THPT Hàn Thuyên khẳng định vị thế dẫn đầu toàn tỉnh với mức điểm chuẩn nguyện vọng 1 (NV1) là 22,76 điểm.
Bám sát ngay sau đó là THPT Lý Thái Tổ với 21 điểm và THPT Thái Thuận với 20,5 điểm.
Tuy nhiên, ở chiều hướng ngược lại, điểm chuẩn NV1 thấp nhất tỉnh năm nay thuộc về Trường THPT Ngô Sĩ Liên với chỉ 9,38 điểm, cách biệt tới 13,38 điểm so với trường dẫn đầu.
Bên cạnh đó, nhóm các trường có điểm chuẩn dao động từ 11 đến dưới 14 điểm như THPT Sơn Động số 2 và số 3 (11,13 điểm), THPT Lương Tài số 2 (12,25 điểm), hay THPT Cẩm Lý (12,88 điểm) cũng chiếm một tỉ lệ nhất định.
Như vậy, đến hết ngày 15/6, theo thống kê sơ bộ, có các tỉnh đã công bố điểm chuẩn: Lai Châu, Hưng Yên, Ninh Bình, Đồng Nai, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Huế, Bắc Ninh.
17 tỉnh đã công bố điểm thi. Theo kế hoạch, một số tỉnh thành sắp công bố điểm thi lớp 10 tiếp theo là: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Nội, TPHCM, Quảng Ngãi.
Tính đến sáng 15/6, đã có 17 tỉnh thành công bố điểm thi lớp 10 năm 2026.
Bắc Ninh là tỉnh mới nhất công bố kết quả kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027.
Thí sinh có thể tra cứu điểm thi lớp 10 bằng 3 cách:
Cách 1: Truy cập địa chỉ https://diemthi10.bacninh.edu.vn/. Sau đó nhập số báo danh và mã xác nhận để tra cứu.
Cách 2: Truy cập cổng thông tin điện tử của Sở GD&ĐT Bắc Ninh tại địa chỉ: https://bacninh.edu.vn/diemthi10. Sau đó, nhập số báo danh để xem kết quả.
Cách 3: Cài đặt ứng dụng di động iBacninh trên App Store đối với hệ điều hành iOs hoặc CH Play đối với hệ điều hành Android. Sau khi cài đặt, thí sinh vào mục “Tra cứu điểm thi vào lớp 10” để thực hiện tra cứu.
Từ ngày 15 đến 22/6, Sở GD&ĐT Bắc Ninh nhận đơn phúc khảo.
Chậm nhất đến ngày 6/7, công bố kết quả phúc khảo. Học sinh nhập học từ 15 đến 20/7.
Trước đó, chiều 14/6, Phú Thọ công bố kết quả thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027.
Thí sinh tra cứu tại địa chỉ: https://ts10.phutho.edu.vn/Home/TraCuuDiem
Năm nay, Phú Thọ có hơn 57.000 thí sinh dự thi vào lớp 10. Đây là kỳ thi có quy mô lớn nhất từ trước đến nay của tỉnh Phú Thọ sau khi thực hiện sáp nhập 3 tỉnh là Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình nên công tác tổ chức có nhiều thay đổi về quy mô, phương thức quản lý và tuyển sinh.
Toàn tỉnh đã thành lập 107 hội đồng coi thi, trong đó có 10 hội đồng có từ 2 điểm thi. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh là gần 46.700 học sinh, đạt tỷ lệ gần 74%; riêng các trường THPT công lập tuyển sinh trên 40.500 học sinh, chiếm hơn 64%.
Cùng ngày, Sở GD&ĐT TP Huế đã mở hệ thống tra cứu kết quả kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027.
Thí sinh có thể xem điểm thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 TP Huế trực tuyến bằng số báo danh trên cổng tra cứu của Sở GD&ĐT tại địa chỉ: http://tracuudiem.thuathienhue.edu.v
Đồng thời với điểm thi, Sở GD&ĐT TP Huế cũng công bố điểm chuẩn năm nay.
Theo đó, Trường THPT chuyên Quốc Học - Huế, điểm chuẩn các lớp chuyên tiếp tục duy trì ở mức cao. Trong đó, lớp chuyên Anh có điểm chuẩn cao nhất với 37,6 điểm, tiếp đến là chuyên tin học 36,95 điểm, chuyên Pháp 36,48 điểm, chuyên văn 35,8 điểm và chuyên sinh 35,7 điểm. Các lớp chuyên còn lại có điểm chuẩn từ 29,95 đến 34,25 điểm.
Đối với các trường THPT công lập, Trường THPT Hai Bà Trưng tiếp tục dẫn đầu với điểm chuẩn lớp tiếng Anh đạt 32,25 điểm; tiếp theo là Trường THPT Nguyễn Huệ lớp tiếng Anh 30 điểm và Trường THPT Nguyễn Trường Tộ lớp tiếng Anh 28,25 điểm.
Theo Sở GD&ĐT TP Huế, nhìn chung, điểm chuẩn năm học 2026-2027 phản ánh sự phân hóa phù hợp giữa các khu vực và điều kiện tuyển sinh của từng địa phương, đồng thời cho thấy mức độ cạnh tranh cao tại các trường THPT có truyền thống chất lượng giáo dục tốt, đặc biệt là các trường ở khu vực trung tâm thành phố.
Ngay sau khi có kết quả, Sở GD&ĐT đã chỉ đạo các trường THPT công lập khẩn trương thông báo kết quả tuyển sinh, hướng dẫn học sinh trúng tuyển hoàn thành các thủ tục xác nhận nhập học theo đúng thời gian quy định.
Trong thời hạn 7 ngày, tính từ ngày công bố kết quả tuyển sinh, thí sinh có nguyện vọng phúc khảo, nộp đơn theo mẫu tại trường THPT đã đăng ký dự tuyển nguyện vọng 1 (riêng thí sinh chỉ dự tuyển vào trường chuyên, nộp đơn tại trường chuyên). Đơn phúc khảo phải do thí sinh hoặc cha mẹ (hoặc người giám hộ hợp pháp) trực tiếp nộp. Điểm sau phúc khảo là kết quả cuối cùng.
Ngày 10/6, Lạng Sơn công bố kết quả thi tuyển sinh lớp 10 và điểm chuẩn Trường THPT chuyên Chu Văn An năm học 2026-2027.
Trường THPT chuyên Chu Văn An, Lạng Sơn tuyển sinh 12 lớp chuyên với 420 học sinh. Một số lớp chuyên có điểm chuẩn cao gồm: Ngữ văn 40,25 điểm; hóa học 39,35 điểm; toán 37,75 điểm; tiếng Anh 37,5 điểm; các lớp chuyên khác được xét tuyển theo nguồn tuyển và chỉ tiêu đã được phê duyệt.
Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn cũng hướng dẫn các nhà trường thông báo rộng rãi kết quả thi, đồng thời triển khai công tác tiếp nhận hồ sơ nhập học và phúc khảo bài thi theo quy định, bảo đảm quyền lợi của thí sinh.
Ngày 9/6, tỉnh Lào Cai công bố điểm thi và điểm chuẩn tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027.
Thí sinh và phụ huynh có thể tra cứu điểm thi vào lớp 10 Lào Cai năm 2026 sớm nhất và chính xác qua đường link: https://laocai.tsdc.vnedu.vn/
Ngày 8/6, 3 tỉnh là Khánh Hòa, Đồng Nai, Đắk Lắk công bố điểm thi lớp 10 năm 2026.
Từ 8h, các thí sinh Khánh Hoà có thể tra cứu điểm thi trên website của sở tại địa chỉ http://diemthi.ts10.khanhhoa.edu.vn/
Sau khi công bố điểm thi, sở sẽ nhận đơn phúc khảo từ ngày 14 đến 19/6. Sau đó, Hội đồng chấm phúc khảo sẽ triển khai chấm bài thi. Dự kiến, sở sẽ công bố điểm chuẩn trước ngày 30/6 theo đúng kế hoạch đề ra.
Trong khi đó, Đồng Nai đã công bố điểm chuẩn vào các trường THPT. Chi tiết xem TẠI ĐÂY.
Năm học 2026-2027, tỉnh Đắk Lắk tổ chức hình thức thi tuyển vào lớp 10 các trường chuyên biệt trong các ngày 1-2/6.
Điểm thi vào lớp 10 Đắk Lắk 2026 đã được công bố đến các thí sinh vào ngày 8/6.
Ngày 6/6, Sở GD&ĐT Quảng Trị và Đồng Tháp công bố điểm thi lớp 10 năm 2026.
Thí sinh Đồng Tháp tra cứu điểm thi tại: http://tc.dongthap.edu.vn
Tại Quảng Trị, để tạo thuận lợi cho phụ huynh và học sinh trong việc nắm bắt kết quả thi, Sở GD&ĐT khuyến khích sử dụng ứng dụng công dân số tỉnh Quảng Trị (QUANGTRI-S) để tra cứu điểm thi nhanh chóng, thuận tiện và chính xác.
Bên cạnh đó, thí sinh cũng có thể truy cập trực tiếp vào hệ thống tuyển sinh trực tuyến tại địa chỉ https://tuyensinh.quangtri.edu.vn để xem kết quả.
Trước đó, các tỉnh trên cả nước bắt đầu công bố điểm thi lớp 10 năm 2026. Đó là các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Lai Châu, Hưng Yên, Ninh Bình, Điện Biên, Quảng Trị.
Cùng với công bố điểm thi, Hưng Yên, Ninh Bình công bố điểm chuẩn và chỉ tiêu tuyển bổ sung.
Theo đó, tại Hưng Yên, điểm chuẩn cao nhất vào Trường THPT Nguyễn Đức Cảnh, lấy 24,5 điểm; thấp nhất là Trường THCS và THPT Hoàng Hoa Thám lấy 13,6 điểm. Ngoài ra, mỗi trường tuyển bổ sung 31-67 chỉ tiêu.
Không khí tuyển sinh lớp 10 năm nay mang nhiều dấu ấn đặc biệt khi diễn ra trong bối cảnh nhiều địa phương hoàn tất quá trình sắp xếp, điều chỉnh đơn vị hành chính.
Sự thay đổi về quy mô dân số học đường, mạng lưới trường lớp và cách tổ chức tuyển sinh đang tạo nên những bức tranh mới của giáo dục phổ thông ở nhiều tỉnh, thành.
Tin Gốc: Dân Trí

Năm nay, không ít trường đào tạo ngành y dược xét tuyển cả các tổ hợp mới. Tuy nhiên, ngành y khoa của nhiều trường vẫn giữ tổ hợp xét tuyển truyền thống. Chẳng hạn, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm nay bổ sung nhiều tổ hợp mới cho nhiều ngành, như: B08 (toán - tiếng Anh - sinh), D07 (toán - hóa - tiếng Anh), A00 (toán - lý - hóa), A01 (toán - lý - tiếng Anh), D01 (toán - văn - tiếng Anh). Bên cạnh đó, một số ngành vẫn duy trì sử dụng một tổ hợp truyền thống B00 (toán - hóa - sinh) gồm: y khoa, răng - hàm - mặt, kỹ thuật xét nghiệm y học.
Năm nay, Trường ĐH Y Dược TP.HCM vẫn chỉ sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2026 để xét tuyển. Tuy nhiên, so với năm trước, trường mở rộng tổ hợp môn xét tuyển hơn. Hầu hết các ngành đều sử dụng từ 2 - 3 tổ hợp khác nhau. Riêng với 2 ngành y khoa và răng - hàm - mặt, trường chỉ sử dụng tổ hợp B00 để xét tuyển. Trường ĐH Y Hà Nội cũng chỉ dùng B00 xét tuyển ngành y khoa, răng - hàm - mặt. Ngoài 2 ngành trên, Trường ĐH Y Dược Cần Thơ dùng tổ hợp B00 cho cả ngành y học cổ truyền.
Trong khi đó, ngoài tổ hợp B00 một số trường sử dụng tổ hợp khác cho các ngành y. Chẳng hạn, Trường ĐH Khoa học sức khỏe (ĐH Quốc gia TP.HCM) xét thêm tổ hợp A02 (toán - lý - sinh) cho các ngành: y khoa, răng - hàm - mặt, y học cổ truyền và điều dưỡng. Trường Y - Dược (ĐH Phenikaa) sử dụng tới 6 tổ hợp môn với ngành y khoa và răng - hàm - mặt. Ngoài B00, trường còn sử dụng loạt tổ hợp: A00, B03 (toán - sinh - ngữ văn), B08, C02 (ngữ văn - toán - hóa) và D07.
Trường ĐH Đại Nam sử dụng tới 10 tổ hợp cho ngành y khoa, hầu hết đều bảo đảm sự hiện diện của toán - hóa hoặc toán - sinh như: B00, A00, B01, B03, B08, C02 , D07, D08 (toán - sinh - tiếng Anh), X13 (toán - sinh - giáo dục kinh tế pháp luật)…
Với một số trường chuyên ngành, tổ hợp môn mới chỉ được bổ sung với nhóm ngành cử nhân hoặc các ngành y khác. Ví dụ, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm nay bổ sung tổ hợp B08, A01, D01 với ngành y học cổ truyền; thêm tổ hợp A00, D01 với ngành dược học; B08 với ngành hộ sinh; A00 với ngành kỹ thuật hình ảnh y học; A00 và A01 với ngành kỹ thuật phục hồi chức năng; D07 với ngành khúc xạ nhãn khoa.
Trường ĐH Y Dược TP.HCM năm ngoái chỉ xét tuyển B00 cho ngành y học cổ truyền thì năm nay bổ sung thêm B08 và D07. Nhiều ngành năm ngoái chỉ sử dụng 2 tổ hợp B00 và A00 năm nay bổ sung thêm tổ hợp môn thứ ba là D07, như: dược học, hóa dược, điều dưỡng, điều dưỡng chuyên ngành gây mê hồi sức, hộ sinh, kỹ thuật xét nghiệm y học, kỹ thuật hình ảnh y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, dinh dưỡng. Ngoài ra, 2 ngành bổ sung tổ hợp môn thứ ba là B08 gồm: y tế công cộng và y học dự phòng. Ngành công tác xã hội năm nay điều chỉnh tổ hợp môn, bên cạnh A00 và B00 trường bổ sung D01 và bỏ 2 tổ hợp B03 (toán - sinh - ngữ văn) và B08. D01 cũng được sử dụng xét tuyển ngành mới là tâm lý học bên cạnh A00 và B00.
Ngoài các tổ hợp A00, B00 và D07, Trường ĐH Y Hà Nội còn sử dụng các tổ hợp có môn văn hay địa để xét tuyển năm nay như: D01, D10 (toán - địa - tiếng Anh). Tuy nhiên, tổ hợp này chỉ sử dụng để xét tuyển vào các ngành như: y tế công cộng, tâm lý học, công tác xã hội. Trường ĐH Y tế công cộng cũng sử dụng nhiều tổ hợp có môn văn vào hầu hết các ngành như: B03, C01 (toán - lý - văn), C02 (toán - văn - hóa), D01 (toán - văn - tiếng Anh) và D13 (văn - sinh - tiếng Anh). Trong khi đó, Trường ĐH Y Dược Cần Thơ đưa tổ hợp C00 (văn - sử - địa) vào tuyển sinh các ngành: y tế công cộng và tâm lý học. Đây là trường đào tạo y dược hiếm hoi sử dụng tổ hợp C00 cho ngành đào tạo lĩnh vực khoa học sức khỏe trong năm nay.
Với các trường tư thục, số lượng tổ hợp có môn văn, sử, địa xuất hiện nhiều hơn. Chẳng hạn, ĐH Phenikaa sử dụng các tổ hợp A05 (toán - hóa - sử), A06 (toán - hóa - địa), B01 (toán - sinh - sử), B02 (toán - sinh - địa), B03... để xét tuyển một số ngành như: y học cổ truyền, khoa học y sinh. Riêng ngành điều dưỡng, Trường ĐH Đại Nam quy định tổ hợp môn gồm toán hoặc văn cộng với 2 môn tự chọn. Thí sinh lựa chọn môn 2 và môn 3 trong danh sách gồm: toán, văn, lý, hóa, sinh, ngoại ngữ, địa, sử, giáo dục công dân, giáo dục kinh tế - pháp luật, tin học, công nghệ.
PGS-TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, cho rằng đây là xu hướng rõ nét từ vài năm gần đây. Nhiều trường ĐH cả công lập lẫn tư thục bổ sung tổ hợp mới để tăng cơ hội tuyển sinh trong bối cảnh thí sinh thi khối tự nhiên, đặc biệt hóa và sinh, giảm dần do chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Cách làm này giúp tăng cơ hội cho thí sinh có thế mạnh về toán - tiếng Anh hoặc toán - sinh - văn vẫn có thể vào các ngành như: điều dưỡng, kỹ thuật xét nghiệm, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, y tế công cộng, tâm lý học lâm sàng, công nghệ dược phẩm… Các ngành mang tính ứng dụng, giao tiếp cao (như điều dưỡng, phục hồi chức năng, tâm lý học, y tế công cộng) cần kỹ năng mềm, giao tiếp, ngoại ngữ nên tổ hợp có tiếng Anh (D07, B08, D01) hoặc thậm chí có văn là hợp lý. "Thực tế tuyển sinh năm nay cho thấy nhiều trường vẫn giữ môn cốt lõi là toán - sinh hoặc toán - hóa, chỉ thay môn thứ ba (thêm tiếng Anh, văn, lý…) vẫn đảm bảo nền tảng cơ bản", PGS Dũng nhận định.
Ngược lại, PGS Dũng cho rằng sẽ đáng lo ngại về chất lượng đầu vào với trường hợp thiếu môn hóa - sinh cho những ngành cần nền tảng khoa học tự nhiên mạnh (như dược học, kỹ thuật xét nghiệm y học, điều dưỡng, hộ sinh…). Sinh viên sẽ gặp khó khăn ở các môn chuyên ngành nên nhiều trường vẫn ưu tiên B00 cho các ngành này. "Một số tổ hợp "lạ" có văn - sử - địa hoặc chỉ toán - lý - tiếng Anh mà thiếu môn sinh và hóa chủ yếu dùng cho ngành ít yêu cầu thí nghiệm sâu như: y tế công cộng, tâm lý học... Với những ngành này thì có thể chấp nhận được tổ hợp môn mới vì trọng tâm là kiến thức cộng đồng, hành vi, chính sách chứ không phải đào sâu sinh, hóa", PGS Dũng nói thêm.
Nhận định chung, PGS Dũng cho rằng sẽ phù hợp ở mức độ vừa phải nếu trường phân biệt rõ tổ hợp theo hướng giữ môn cốt lõi với ngành đòi hỏi kiến thức nền tảng, dùng tổ hợp xã hội cho ngành "mềm" hơn. Đây là cách làm linh hoạt, phù hợp xu hướng giáo dục hiện đại và nhu cầu nhân lực đa dạng.
Cùng quan điểm, trưởng phòng đào tạo một trường ĐH công lập tại TP.HCM cho rằng tổ hợp môn xét tuyển có tác động đến kết quả học tập của sinh viên, đặc biệt các ngành đặc thù. Đó là lý do Bộ GD-ĐT ra quy định yêu cầu tổ hợp xét tuyển có ít nhất 3 môn phù hợp với đặc điểm, yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo. Do đó, việc mở rộng tổ hợp môn cần đảm bảo có môn nòng cốt theo yêu cầu ngành học. "Một ngành thuần lĩnh vực khoa học sức khỏe không nên sử dụng tổ hợp C00 (văn - sử - địa), không có sự xuất hiện các môn nòng cốt toán - hóa - sinh", trưởng phòng đào tạo này nêu ý kiến.
Tin Gốc: Thanh Niên

