Bài tập Toán gắn yếu tố thực tế là nỗi sợ lớn nhất của Hoài Anh, học sinh lớp 12 ở Hà Nội. Nữ sinh kể với dạng trả lời trắc nghiệm đúng, sai, em thường chỉ mất 5 phút cho cả bài bốn ý, nếu đề gồm các đại lượng thuần Toán học. Song, khi đề thay bằng chất liệu thực tế như tính diện tích, thể tích vật thể, nữ sinh mất gấp 2-3 lần thời gian, cũng hay sai hơn.
Hoài Anh lấy ví dụ với một bài hình học không gian. Nếu đề cho khối trụ có số đo bán kính r, chiều cao h và yêu cầu tính thể tích V, em có thể áp dụng ngay công thức V = pi r^2h. Nhưng nếu đề chuyển thành “thiết kế vỏ lon nước ngọt hình trụ sao cho tốn ít nhôm nhất nhưng vẫn đựng được thể tích V”, nữ sinh không biết đó chính là tính diện tích nhỏ nhất chứa được thể tích V.
“Em khổ sở, đến mức chỉ nhìn thấy một bài nhiều chữ đã lo lắng, ái ngại. Dạng này khiến em khó đạt 8”, Hoài Anh nói.
Không đến mức sợ, nhưng với Nhật Lâm, sinh viên năm thứ nhất ngành Kinh doanh số và Trí tuệ nhân tạo của trường Đại học Kinh tế – Luật, TP HCM, những bài “Toán thực tế” ở phổ thông lại là những thứ quên nhanh nhất. Lý do là em không gặp những bể nước, mảnh vườn, nhà kho… như được học.
Nam sinh lấy ví dụ, dạng bài tính tiền điện thường có bản chất là phép tính nhân, khi cho giá tiền một số điện, rồi nhân với số tiêu thụ. Nhưng khi tính tiền trọ giúp mẹ, Lâm biết được rằng tiền điện thực tế sẽ có nhiều bậc giá, tùy lượng điện đã dùng.
Rồi với chứng chỉ quỹ, khi đầu tư thật, Lâm thấy những cái được học không giúp ích được trong việc hình dung rủi ro và tính toán lãi thực tế. Lý do là giá chứng chỉ sẽ biến động theo ngày, ngoài tiền mua còn cần phí giao dịch, phí lưu giữ, thuế…, trong khi bài học về cơ bản chỉ dạy tính lãi bằng cách nhân tiền gốc với lãi suất.
“Mình cảm giác nhiều bài chỉ đang lấy chuyện ngoài đời để bọc một bài Toán có sẵn, chứ không phải dạy cách giải quyết vấn đề thật”, Lâm nói.
Nhiều năm qua, các chuyên gia nhìn nhận chương trình Toán ở phổ thông còn bất cập vì thiếu liên kết với đời sống. Dù vậy, dạy Toán gắn với thực tế hiện lại khiến nhiều em áp lực, nhanh quên sau khi rời trường học, theo cô Thảo, giáo viên ở một trường THPT tại Hà Nội.
Nhiều năm đứng lớp, cô thấy đa số học sinh lúng túng với dạng này. Các em thường hỏi chúng để làm gì, ngoài đời dùng ở đâu, nhưng nhiều lúc cô “cũng khó lấy ví dụ” hoặc không đủ thời gian để dạy cặn kẽ.
Việc dạy và học Toán thực tế bất cập còn bởi hai lý do chính. Một là những bài Toán chỉ “khoác một vỏ bọc thực tế”, thay vì thực sự có ý nghĩa ứng dụng, theo GS Tôn Thân, nguyên Trưởng phòng Toán – Tin, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
Ông lấy ví dụ về các đại lượng tỷ lệ thuận, nghịch, dạng bài phổ biến là cho một công trình với x người làm, dự kiến hoàn thành trong y ngày, coi năng suất mỗi người là như nhau. Về lý thuyết, số người tăng gấp đôi thì số ngày giảm đi một nửa. Nhưng ông đặt vấn đề “tăng x gấp 100 lần thì y tiệm cận 0” là vô lý, dù về mặt Toán học vẫn giải ra đáp số.
“Bài này chỉ thuần Toán học chứ không phải thực tế, không có chuyện năng suất mỗi người như nhau và thời gian về 0”, ông nói.
Năm ngoái, đề thi Toán học giỏi quốc gia bị nhiều giáo viên chê vì gượng ép yếu tố thực tế, khi cho bài về các vệ tinh khám phá không gian, đề yêu cầu thí sinh tính khoảng cách giữa hai điểm trong trục tọa độ. Dựa vào dữ kiện được cho, nhiều giáo viên chứng minh được rằng vệ tinh sẽ đâm vào Trái Đất.
“Toán thực tế phải xuất phát từ cuộc sống thật, chứ không phải lấy nội dung Toán học rồi tô vẽ để thành thực tế”, ông Thân nói.
Lý do thứ hai là áp lực thi cử, theo thầy Lâm Vũ Công Chính, giáo viên Toán trường THPT Nguyễn Du, TP HCM.
Thầy Chính thấy rằng hệ thống giáo dục hiện vẫn phụ thuộc lớn vào các kỳ thi để phân loại học sinh, từ chuyển cấp tới xét tuyển đại học, khiến giáo viên và học sinh buộc phải chạy theo đề thi. Giáo viên không chỉ dạy đúng, hay, đủ mà còn làm sao để học sinh thi đỗ. Vì thế, thi cái gì thì thầy trò học cái đó.
“Đề thi không phải để đánh giá, mà là đánh đố học sinh để phân loại”, thầy nói.
Khi đó, giáo viên khó có điều kiện dạy học sinh cách ứng dụng Toán trong đời sống. Thay vào đó, việc học thường xoay quanh nhận dạng dạng bài, luyện mẹo và tối ưu tốc độ làm bài để đạt điểm cao.
Theo các nhà giáo, muốn học sinh bớt sợ và thấy được ý nghĩa của môn Toán, việcthay đổi cần đồng bộ từ cách ra đề, đào tạo giáo viên tới mục tiêu của các kỳ thi.
GS Tôn Thân cho rằng để có những bài Toán thực tế chất lượng, giáo viên, người ra đề cần nắm chắc dạng này. Do đó, ông quan điểm cần có đột phá ở khâu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cách xây dựng học liệu. Các chuyên đề tập huấn cũng nên chú trọng vào Toán gắn với đời sống thật, để giáo viên hiểu đúng bản chất, từ đó ra đề mới “hay và hợp lý”.
Theo thầy Chính, việc đổi mới sẽ khó đạt hiệu quả nếu thi cử vẫn đặt nặng mục tiêu phân loại. Điều cần thay đổi không phải là cắt giảm lý thuyết, mà là cách dạy và cách tổ chức thi để học sinh có cơ hội hiểu, ứng dụng Toán thay vì chỉ luyện kỹ thuật làm bài.
“Có đổi mới chương trình đến đâu mà các kỳ thi không đổi thì kết quả vẫn vậy”, thầy nói.
Với Hoài Anh, kỳ thi tốt nghiệp chỉ còn cách một tháng, mà điểm phần Toán vẫn “trồi sụt”, nữ sinh chỉ muốn được dạy cách “dịch đề” để nhanh chóng bóc tách, xem bài Toán thực tế có bản chất là dạng nào.
Hoài Anh cũng mong được học thêm những bài Toán gắn với tình huống gần gũi như chia hóa đơn, tính điện nước.
“Ít nhất em còn hình dung được chuyện đó xảy ra trong cuộc sống. Chứ mấy bài về bể nước có vòi chảy vào, chảy ra, em chưa bao giờ thấy cái bể nào như vậy ngoài đời”, nữ sinh nói.
Bài thi đánh giá của Bộ Công an năm 2026 gồm ba phần: tự luận bắt buộc, trắc nghiệm bắt buộc và trắc nghiệm tự chọn. Thí sinh làm bài trong 180 phút với hình thức thi viết.
Tổng điểm của bài thi là 100 điểm. Trong đó, phần tự luận (bắt buộc) là 25 điểm và phần trắc nghiệm là 75 điểm.
Lĩnh vực kiến thức, phần tự luận bắt buộc: phần thi gồm 1 câu hỏi văn nghị luận xã hội, tổng điểm tối đa là 25 điểm.
Phần trắc nghiệm, tổng số gồm 80 câu hỏi, tổng điểm tối đa là 75 điểm. Trong đó, 70% kiến thức lớp 12, 30% kiến thức lớp 10, lớp 11. Câu hỏi ở mức độ biết, thông hiểu chiếm 30% câu hỏi, mức độ vận dụng chiếm 50% câu hỏi, mức độ vận dụng cao chiếm 20% câu hỏi.
Phần trắc nghiệm bắt buộc, môn toán học có 35 câu hỏi, tổng điểm tối đa là 35 điểm; môn lịch sử có 10 câu hỏi, tổng điểm tối đa là 10 điểm; môn ngoại ngữ (ngôn ngữ Anh) có 20 câu hỏi, tổng điểm tối đa là 15 điểm.
Phần trắc nghiệm tự chọn gồm 15 câu hỏi, tổng điểm tối đa là 15 điểm. Thí sinh lựa chọn một trong các môn học sau: vật lý (CA1), hóa học (CA2), sinh học (CA3), địa lý (CA4).
Kỳ thi đánh giá của Bộ Công an sẽ diễn ra vào ngày 20 và 21-6. Trong đó, ngày 20-6, thí sinh làm thủ tục dự thi và ngày 21-6, thí sinh làm bài thi chính thức.
Đề thi tham khảo mã đề CA4 phần thi trắc nghiệm toán học như sau:
Bộ GD-ĐT cần chủ động xây dựng lộ trình chuyển đổi này ngay từ bây giờ. Một hệ thống tuyển sinh nhân văn hơn, công bằng hơn và phù hợp hơn với mục tiêu phát triển năng lực người học sẽ là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của giáo dục VN trong tương lai.
Tại buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 4.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có nói "kỳ thi lớp 10 nhưng căng thẳng hơn cả thi đại học, tại sao lại tạo tâm lý bất an như vậy, không những nặng nề cho học sinh (HS), phụ huynh mà còn gây khó khăn cho thầy, cô". Đây là thực trạng bức xúc và là mệnh lệnh cao nhất của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 khép lại cũng là thời điểm kết thúc gần 2 tháng diễn ra các kỳ thi tuyển sinh quan trọng nhất trong năm, từ tuyển sinh lớp 10 đến thi tốt nghiệp THPT lấy kết quả xét tuyển ĐH.
Thi cử vốn chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Với nhiều HS, kỳ thi không đơn thuần là cuộc kiểm tra kiến thức. Nó là điểm kết của 9 năm hoặc 12 năm học tập miệt mài, của những ngày học chính khóa nối tiếp học thêm, của những lịch trình kín đặc từ sáng đến tối. Trong nhận thức của không ít gia đình, thành bại của một chặng đường học tập dường như được đặt cả vào vài ngày thi ngắn ngủi.
Chính vì vậy, áp lực mùa thi không chỉ đến từ đề thi hay điểm số. Đằng sau mỗi thí sinh còn là kỳ vọng của cha mẹ, sự so sánh từ xã hội, nỗi lo về tương lai và đôi khi là cảm giác không được phép thất bại. Khi thành tích học tập trở thành thước đo gần như duy nhất để đánh giá năng lực và triển vọng của người trẻ, áp lực tâm lý là điều khó tránh khỏi.
Không ít gia đình còn phải gồng gánh những khoản chi phí đáng kể cho việc học thêm, ôn luyện và luyện thi kéo dài nhiều năm. Áp lực vì thế không dừng lại ở cổng trường thi mà lan rộng đến từng nhà. Không khí cả năm trong các nhà trường là lo "thi và thi".
Một nền giáo dục không thể chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng HS đỗ vào các trường danh tiếng. Giá trị của giáo dục còn nằm ở việc giúp người học phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần và nhân cách. Khi mỗi mùa thi vẫn còn để lại quá nhiều nước mắt, lo âu và kiệt sức, đó là lúc xã hội cần tiếp tục đặt câu hỏi: liệu áp lực mà HS đang gánh chịu có thực sự tương xứng với những gì các em nhận được hay không?
Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt trọng tâm vào phát triển phẩm chất và năng lực người học. Vì vậy, công tác đánh giá cũng phải thay đổi tương ứng. Hiện nay, trên lớp đã kết hợp giữa đánh giá tổng kết thông qua điểm số và đánh giá quá trình thông qua nhận xét, sản phẩm học tập, hoạt động trải nghiệm.
Tuy nhiên, khi tuyển sinh, chúng ta vẫn đặt quá nhiều trọng trách vào kỳ thi duy nhất. Điều này khiến kết quả học tập nhiều năm của HS bị thu hẹp vào vài bài thi diễn ra trong một thời gian ngắn.
Nếu đánh giá hàng ngày ở hiện trường giáo dục đã chuyển sang coi trọng quá trình, thì tuyển sinh cũng cần chuyển đổi theo hướng tương tự. Việc kết hợp xét tuyển với thi tuyển không chỉ phản ánh đầy đủ hơn năng lực của người học mà còn góp phần giảm áp lực tâm lý, giảm học thêm và tạo động lực học tập thực chất. Vì vậy, Bộ GD-ĐT cần xây dựng lộ trình chuyển đổi từ mô hình tuyển sinh nặng về thi tuyển sang mô hình kết hợp giữa xét tuyển và thi tuyển, phù hợp với xu thế giáo dục hiện đại.
Tuy nhiên, đây không phải là sự thay đổi có thể thực hiện ngay lập tức. Muốn thành công, cần xây dựng một "hệ sinh thái chuyển đổi thi" với lộ trình rõ ràng và các giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất, thay đổi nhận thức và phương thức quản trị giáo dục. Mọi cải cách đều bắt đầu từ nhận thức. Bộ GD-ĐT cần tạo sự đồng thuận trong nhà trường và xã hội về việc giảm phụ thuộc vào các kỳ thi tuyển sinh. Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới quản trị nhà trường, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá HS. Việc đánh giá cũng cần tập trung nhiều hơn vào sự tiến bộ thường xuyên của người học thay vì chỉ chú trọng một kỳ thi quy mô lớn.
Khi chất lượng đánh giá quá trình được bảo đảm, xét tuyển sẽ trở thành công cụ đáng tin cậy, tạo tiền đề cho đổi mới tuyển sinh.
Thứ hai, đầu tư cơ sở vật chất và mở rộng cơ hội học tập sau phổ thông. Một trong những nguyên nhân tạo ra áp lực thi cử là tình trạng cung không đáp ứng đủ cầu. Khi số lượng chỗ học hạn chế, kỳ thi trở thành cuộc cạnh tranh khốc liệt. Vì vậy, cần tiếp tục đầu tư xây dựng trường lớp, mở rộng mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, nâng cấp hạ tầng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục. Đặc biệt, cần thay đổi tư duy xã hội về giáo dục nghề nghiệp, coi đây là một lựa chọn có giá trị ngang với giáo dục phổ thông và đại học. Khi mọi HS đều có cơ hội tiếp tục học tập theo năng lực và nguyện vọng của mình, áp lực phải vượt qua một kỳ thi để giành suất học sẽ giảm đáng kể.
Thứ ba, tăng cường hướng nghiệp từ sớm. Ở nhiều nền giáo dục tiên tiến, hướng nghiệp được triển khai xuyên suốt quá trình học tập. Từ bậc tiểu học, HS được làm quen với các ngành nghề thông qua trải nghiệm thực tế. Đến THCS, các em khám phá sở thích, năng lực và giá trị cá nhân. Khi bước vào THPT, HS đã có định hướng tương đối rõ ràng về con đường học tập và nghề nghiệp tương lai.
Ngược lại, tại VN, nhiều HS đến cuối cấp vẫn chưa xác định được hướng đi cho bản thân. Điều này khiến kỳ thi tuyển sinh trở thành cuộc cạnh tranh mang tính may rủi hơn là sự lựa chọn phù hợp với năng lực.
Do đó, Bộ GD-ĐT cần xem hướng nghiệp là một trụ cột của cải cách giáo dục, góp phần làm giảm áp lực thi cử và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ tư, xây dựng hệ thống dữ liệu học tập đáng tin cậy. Xét tuyển chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dữ liệu học tập được quản lý minh bạch, chính xác và lâu dài. Cần xây dựng hệ thống hồ sơ học tập điện tử thống nhất, lưu giữ đầy đủ kết quả học tập, quá trình rèn luyện và các sản phẩm năng lực của HS. Dữ liệu này cần được quản lý liên thông giữa nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục các cấp. Khi có một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, các cơ sở giáo dục có thể sử dụng kết quả học tập nhiều năm làm căn cứ tuyển sinh thay vì phụ thuộc quá mức vào kỳ thi duy nhất.
Giảm áp lực thi cử không đồng nghĩa với hạ thấp chất lượng giáo dục. Ngược lại, đó là bước đi cần thiết để xây dựng một nền giáo dục hiện đại, coi trọng năng lực thực chất của người học.
Bùi Trần Quang Khải, 22 tuổi, sinh viên năm cuối ngành Công nghệ thông tin, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP HCM, dự kiến bảo vệ đồ án tốt nghiệp vào tháng 8.
Tháng trước, Khải nhận thông báo trúng tuyển chương trình tiến sĩ của Đại học Duke - ngôi trường top 7 trên bảng xếp hạng đại học Mỹ, theo US News. Chương trình kéo dài 5 năm với học bổng toàn phần cùng hỗ trợ sinh hoạt phí gần 44.000 USD mỗi năm.
"Quá trình làm hồ sơ quá gấp gáp nên việc trúng tuyển Duke là một bất ngờ dù đây là nguyện vọng 1 trong lòng mình", Khải nói.
Vốn định tiếp nối truyền thống gia đình làm việc trong ngành Hóa nhưng dịch Covid-19 đã thay đổi hoàn toàn định hướng nghề nghiệp của Khải.
Theo nam sinh, phần lớn công việc ngành Hóa đòi hỏi làm trực tiếp ở phòng thí nghiệm (lab). Nếu có đại dịch hay giãn cách xã hội, công việc sẽ bị đình trệ. Trong khi ngành Công nghệ thông tin có tính linh hoạt cao hơn, cho phép làm việc từ xa và kết nối với môi trường quốc tế chỉ thông qua chiếc laptop. Vì vậy, Khải rẽ hướng từ lớp 11.
Nam sinh tự bổ sung kiến thức môn Tin bằng các tài liệu, khóa học trên mạng. Khải nói khó nhất là thay đổi tư duy giữa hai môn học. Ở môn Tin, cùng một bài toán nhưng thay đổi cách triển khai thuật toán tạo ra hiệu quả và tốc độ khác biệt rõ rệt. Điều này đòi hỏi tư duy và cách nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, phối hợp với khả năng sáng tạo để tìm ra phương pháp tối ưu hơn.
Đỗ vào ngành Công nghệ thông tin của trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Khải chịu khó thực hành code để rèn luyện tư duy và kỹ năng giải quyết vấn đề. Cuối năm thứ hai, nam sinh cùng nhóm bạn đọc thêm nhiều bài báo khoa học chuyên ngành. Với mỗi bài nghiên cứu, Khải đều thử lập trình nhằm hiểu sâu hơn về phương pháp và cách triển khai.
Trong giai đoạn này, Khải cũng tìm đọc các hướng nghiên cứu mới về AI trên thế giới, từ đó hứng thú du học.
"Khi được tiếp cận với kiến thức và xu hướng mới nhanh hơn, mình sẽ có nhiều cơ hội tạo ra được những kết quả tốt hơn, có giá trị hơn", Khải nhìn nhận. Nam sinh bắt đầu tìm hiểu viết bài báo khoa học, tìm kiếm và liên hệ chuyên gia ở các đại học Mỹ để tham gia các dự án nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm.
Từ giữa tháng 10 năm ngoái, nam sinh bắt tay làm hồ sơ ứng tuyển học bổng tiến sĩ ở Mỹ. Thời điểm này khá gấp gáp vì Khải phải chuẩn bị nhiều bộ hồ sơ, trong khi hạn chót của các trường đa phần rơi vào đầu tháng 12. Khải liên tục kết nối, xin lịch phỏng vấn trước với một số giáo sư để kịp tiến độ.
"Phải chuẩn bị nhiều thứ nên thời gian viết bài luận cá nhân không còn nhiều. Ngay cả với Đại học Duke, lúc mình nộp hồ sơ cũng là những giờ cuối trước khi hệ thống đóng đơn", Khải kể.
Hồ sơ của Khải nổi bật với 9 bài báo khoa học, một số đăng tại các hội nghị chuyên ngành uy tín cùng nhiều dự án hợp tác với sinh viên, giáo sư Đại học Carnegie Mellon, Northwestern, North Carolina A&T State và Y khoa Đài Bắc. Cùng đó, nam sinh đạt điểm trung bình (GPA) 3.86/4 và IELTS 7.5.
Với Đại học Duke, Khải trải qua 5 lượt phỏng vấn ở 3 vòng. Chàng trai đánh giá vòng phỏng vấn thứ hai căng thẳng và có tính chất quyết định cao nhất. Ba sinh viên ngành AI của trường, mỗi người phỏng vấn sâu Khải 30 phút, sau đó là các giáo sư.
Quá trình này, nam sinh thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, hứng thú với hướng nghiên cứu của ngành học. Khải nhìn nhận điều này đã tạo ấn tượng tốt với hội đồng tuyển sinh.
Theo Khải tìm hiểu, Duke có thế mạnh trong lĩnh vực STEM và Y khoa với bệnh viện, phòng nghiên cứu lớn, được xếp trong nhóm tốt nhất ở Mỹ. Đây là lợi thế khi hướng nghiên cứu chính của nam sinh là ứng dụng AI trong y tế.
Giảng viên hướng dẫn đồ án tốt nghiệp cho Khải ở khoa Công nghệ thông tin đánh giá điểm khác biệt, vượt trội của học trò là chủ động kết nối, gầy dựng mối quan hệ hợp tác nghiên cứu với các nhóm, giáo sư ở một số đại học hàng đầu ở Mỹ.
"Không phải sinh viên nào cũng làm được như vậy. Khải không thể hiện bản thân nhiều trên lớp học nhưng kết quả các bài kiểm tra đều rất tốt, biết rõ mình muốn gì", thầy nói.