Tại hội thảo khoa học Lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Bạch Mai – chặng đường 54 năm phát triển và định hướng cho tương lai, ngày 19/6, TS.BS Nghiêm Trung Dũng, Giám đốc Trung tâm Thận – Tiết niệu và Lọc máu, cho biết đơn vị ghi nhận ngày càng nhiều bệnh nhân trẻ mắc bệnh thận mạn, trong đó lối sống hiện đại là một yếu tố đáng lo ngại.
“Ăn nhiều thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn mặn, ít vận động, thức khuya và sinh hoạt thiếu điều độ làm gia tăng béo phì, rối loạn chuyển hóa từ sớm, kéo theo nguy cơ tổn thương thận”, ông Dũng nói.
Tại Việt Nam, bệnh cầu thận và các bệnh lý chuyển hóa như đái tháo đường, thừa cân, béo phì là hai nguyên nhân hàng đầu dẫn đến suy thận giai đoạn cuối. Cùng với sự gia tăng của béo phì và tiểu đường ở người trẻ, bệnh suy thận cũng có xu hướng xuất hiện ở độ tuổi ngày càng thấp hơn.
Một trong những thách thức lớn nhất của bệnh thận mạn là diễn biến âm thầm trong thời gian dài. Nhiều trường hợp chỉ phát hiện bệnh khi chức năng thận đã suy giảm nghiêm trọng. Theo TS Dũng, các dấu hiệu sớm thường rất dễ bị bỏ qua, như nước tiểu có bọt kéo dài, tiểu ra máu, thay đổi lượng nước tiểu hoặc tiểu đêm nhiều lần. Khi xuất hiện phù, tăng huyết áp khó kiểm soát, suy tim, thiếu máu, buồn nôn hoặc nôn, bệnh thường đã ở giai đoạn nặng.
Tại hội thảo, PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nhìn nhận bệnh thận mạn đang trở thành gánh nặng y tế ngày càng lớn khi phần lớn người bệnh không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Hiện bệnh viện quản lý khoảng 300 bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Trước đây, số lượng bệnh nhân từng lên tới gần 700 người. Việc chuyển giao kỹ thuật lọc máu cho các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện đã góp phần giảm tải đáng kể cho bệnh viện tuyến cuối.
Theo PGS Cơ, các phương pháp điều trị thay thế thận, đặc biệt là lọc máu, đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong điều trị suy thận giai đoạn cuối ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Mục tiêu của lọc máu không chỉ là để loại bỏ các chất độc hại tích tụ trong cơ thể, duy trì cân bằng nội môi, kéo dài sự sống mà còn phải quan tâm tới vấn đề chất lượng cuộc sống ở người bệnh.
Hiện, bệnh viện triển khai đầy đủ các phương pháp điều trị thay thế thận hiện đại như ghép thận, lọc máu HDF Online, lọc máu hấp phụ, lọc máu bằng quả lọc hiệu năng cao và lọc màng bụng tự động. Nhờ tiến bộ y học, nhiều bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối vẫn duy trì cuộc sống ổn định sau 25-30 năm lọc máu chu kỳ.
“Trước đây, suy thận giai đoạn cuối được xem là bản án nặng nề. Hiện nay, với các kỹ thuật điều trị hiện đại, người bệnh có thể kéo dài tuổi thọ và duy trì chất lượng sống tốt hơn”, TS Dũng nói.
Các chuyên gia khuyến cáo mỗi người nên khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần mỗi năm. Những xét nghiệm đơn giản như xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra chức năng thận có thể giúp phát hiện sớm tổn thương thận trước khi bệnh tiến triển nặng. Đặc biệt, những người mắc đái tháo đường, tăng huyết áp, thừa cân béo phì hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh thận cần được tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh từ giai đoạn sớm.
Để phòng bệnh, cần hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và đồ ăn nhiều muối, duy trì cân nặng hợp lý, tập thể dục thường xuyên, kiểm soát tốt huyết áp và đường huyết, đồng thời tránh tự ý sử dụng thuốc kéo dài khi chưa có chỉ định của bác sĩ.
Theo thiếu tá - bác sĩ Nguyễn Thanh Bình, Khoa Tim mạch, Bệnh viện Quân y 175 (TP.HCM), khi cơ thể bị nóng và mất nước, lượng nước trong máu giảm làm đường huyết bị “cô đặc” hơn nên chỉ số đường máu tăng lên. Ngoài ra, stress nhiệt cũng kích thích cơ thể tiết các hormone như cortisol và adrenaline. Đây là các hormone làm tăng đường huyết tự nhiên.
“Một số bệnh nhân mùa nóng còn ngủ kém, ăn uống thất thường, ít vận động ngoài trời, dùng nhiều nước ngọt, trà sữa hoặc trái cây lạnh. Những yếu tố này đều khiến đường huyết dao động mạnh hơn”, bác sĩ Thanh Bình cho hay.
Theo bác sĩ Thanh Bình, thời tiết nắng nóng, nếu không được bổ sung nước thường xuyên, cơ thể dễ mất nước; lúc này, thể tích máu giảm nhưng lượng đường trong máu không giảm tương ứng, làm nồng độ đường huyết tăng cao hơn. Ngược lại, khi đường huyết tăng, cơ thể sẽ tiểu nhiều để đào thải bớt đường ra ngoài, từ đó làm tình trạng mất nước càng nghiêm trọng hơn.
Đây là một “vòng xoắn” nguy hiểm: Mất nước làm tăng đường huyết, còn đường huyết tăng lại khiến cơ thể mất nước nhiều hơn. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, người bệnh có thể gặp các biến chứng nặng như tăng áp lực thẩm thấu máu hoặc nhiễm toan ceton, đặc biệt ở người lớn tuổi.
Bác sĩ Bình cho biết, cần chú ý và phân biệt các dấu hiệu cho thấy người bệnh đang tăng đường huyết do mất nước chứ không hẳn do chế độ ăn uống, gồm:
Ở người lớn tuổi, dấu hiệu mất nước đôi khi kín đáo hơn, chỉ biểu hiện bằng mệt, lừ đừ hoặc lú lẫn nhẹ.
Từ đó, bác sĩ Bình khuyên người bệnh tiểu đường nên uống nước đều trong ngày, không đợi khát; ưu tiên nước lọc, hạn chế nước ngọt, trà sữa, nước tăng lực; nếu đổ mồ hôi nhiều có thể bổ sung điện giải nhưng cần tránh loại quá nhiều đường.
Ngoài ra, mọi người cần theo dõi đường huyết thường xuyên hơn trong các đợt nắng nóng; bảo quản insulin đúng nhiệt độ, tránh để ngoài trời nóng vì thuốc có thể giảm hiệu quả và chú ý không tập thể dục ngoài trời vào giờ nắng gắt.
“Người bệnh nên đi khám sớm nếu xuất hiện các dấu hiệu như đường huyết tăng cao kéo dài dù chế độ ăn không thay đổi, khát nước và tiểu nhiều liên tục, cơ thể mệt lả, buồn nôn, sụt cân nhanh, khó thở hoặc có biểu hiện lơ mơ, lú lẫn. Đặc biệt, ở người lớn tuổi hoặc có sẵn bệnh tim mạch, tình trạng mất nước kèm tăng đường huyết có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc suy thận cấp nếu không được xử trí kịp thời”, bác sĩ Thanh Bình lưu ý.
Các chuyên gia cho biết, caffeine trong thực phẩm và caffeine dùng pha trộn ma túy hoàn toàn khác nhau về bản chất, liều lượng và mức độ nguy hiểm. Nếu được dùng đúng cách và đúng lượng, caffeine mang lại nhiều lợi ích.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Cấp cứu, Hồi sức tích cực và chống độc - Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), caffeine là một chất thuộc nhóm methylxanthin, có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, tạo sự tỉnh táo và tăng hoạt động trí óc, kích thích trung tâm hô hấp, tăng tần số thở, thở sâu và giãn phế quản.
Trong y học, caffeine được sử dụng làm thuốc để khôi phục sự tỉnh táo khi mệt mỏi hoặc buồn ngủ, là thành phần phổ biến trong một số thuốc giảm đau hoặc được dùng để giảm cân...
Trong ngành chế biến thực phẩm, caffeine được sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp để sản xuất các loại đồ uống (cà phê, nước tăng lực, nước ngọt, ca cao, sô cô la...) nhằm cải thiện sự tỉnh táo, độ tập trung.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) không xếp caffeine vào nhóm chất gây nghiện, nhưng lạm dụng có thể gây phụ thuộc tâm lý với các biểu hiện như nhức đầu, run rẩy, hồi hộp, khó tập trung hoặc cáu gắt.
Theo bác sĩ Đức Thành, có 2 loại caffeine chủ yếu:
Caffeine tự nhiên: Có trong trà, cà phê và đi kèm nhiều hợp chất sinh học như polyphenol, tannin, chất chống oxy hóa. Hàm lượng thường thấp (khoảng 1,2 - 2,2%), cơ thể dễ dung nạp và đào thải.
Caffeine công nghiệp: Là caffeine tổng hợp dạng bột tinh khiết gần như tuyệt đối (99%). Vì ở dạng bột đậm đặc không tạp chất, việc hấp thụ trực tiếp qua hít, nuốt (khi phối trộn vào ma túy) đẩy hàm lượng chất này vào máu cực kỳ nhanh, vọt lên ngưỡng nguy hiểm.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Trần Thanh Sang, Trưởng khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM) cho biết thêm, trong thực tế hồi sức - chống độc vẫn ghi nhận nhiều trường hợp dùng quá nhiều caffeine từ nước tăng lực, viên caffeine hoặc sản phẩm giảm cân. Người bệnh có thể bị run tay, hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ, lo âu hoặc buồn nôn; nặng hơn có thể rối loạn nhịp tim, co giật hay rối loạn ý thức.
Tuy nhiên, ngộ độc caffeine đơn thuần thường vẫn kiểm soát được nếu phát hiện sớm. Ngược lại, khi caffeine bị pha trộn với methamphetamine hoặc các chất kích thích khác, mức độ nguy hiểm tăng cao do tác động cộng hưởng lên tim mạch, não bộ và tâm thần.
Bác sĩ Đức Thành khuyên, để dùng cà phê, trà và nước tăng lực an toàn, người trưởng thành nên giữ tổng lượng caffeine dưới 400 mg/ngày; ưu tiên cà phê đen, hạn chế thêm đường, sữa đặc hoặc kem béo. Người nhạy cảm với caffeine, mắc bệnh tim mạch hoặc tăng huyết áp chỉ nên dùng 1 - 2 tách trà/cà phê loãng mỗi ngày.
Trà xanh và trà đen chứa ít caffeine hơn cà phê, giàu chất chống oxy hóa nhưng không nên uống quá đặc hoặc dùng vào buổi tối để tránh mất ngủ.
Trứng là thực phẩm giàu dinh dưỡng, phổ biến trong bữa ăn hằng ngày. Tuy nhiên, câu hỏi nên ăn lòng trắng hay trứng nguyên quả vẫn khiến nhiều người băn khoăn. Theo các phân tích dinh dưỡng tổng hợp từ nhiều nghiên cứu, cả hai đều có giá trị riêng và lựa chọn phù hợp phụ thuộc vào mục tiêu sức khỏe cũng như chế độ ăn của từng người.
Khác biệt ở cholesterol và chất béo
Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa hai phần của quả trứng nằm ở lòng đỏ. Lòng trắng gần như không chứa chất béo và hoàn toàn không có cholesterol, trong khi một quả trứng nguyên chứa khoảng 200 mg cholesterol cùng hơn 5 g chất béo.
Lòng trắng chỉ cung cấp khoảng 18 calo, trong khi một quả trứng nguyên dao động khoảng 38-72 calo tùy kích cỡ. Nhờ đó, lòng trắng thường được lựa chọn trong các chế độ ăn kiểm soát năng lượng hoặc giảm mỡ.
Tuy vậy, các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng chất béo trong lòng đỏ không hoàn toàn bất lợi. Một phần là chất béo không bão hòa đơn và đa, có vai trò hỗ trợ sức khỏe tim mạch khi sử dụng hợp lý.
Cả hai đều là nguồn protein chất lượng cao
Dù khác nhau về thành phần chất béo, cả lòng trắng và trứng nguyên quả đều là nguồn protein hoàn chỉnh, chứa đầy đủ các acid amin thiết yếu.
Theo Verywell Health, một quả trứng nguyên cung cấp khoảng 6,2 g protein, trong khi lòng trắng thấp hơn (3,62 g). Nếu so sánh tương đương, cần khoảng hai lòng trắng để đạt lượng protein của một quả trứng nguyên. Nhờ đó, cả hai đều phù hợp với người tập luyện thể thao hoặc cần duy trì khối cơ.
Trứng nguyên quả giàu vi chất hơn
Nếu chỉ xét protein và calo, lòng trắng trứng có lợi thế hơn; song trứng nguyên quả lại vượt trội về vi chất. Lòng đỏ chứa vitamin A, D, B12, folate, selen, đặc biệt là choline - dưỡng chất quan trọng cho não bộ và hệ thần kinh. Đây cũng là một trong số ít thực phẩm tự nhiên giàu vitamin D. Trong khi đó, lòng trắng hầu như không chứa các vi chất này, khiến trứng nguyên quả có giá trị dinh dưỡng toàn diện hơn.
Ăn cả quả trứng hỗ trợ tăng cơ tốt hơn
Theo Health, sau tập luyện kháng lực, ăn trứng nguyên quả giúp duy trì tổng hợp protein cơ bắp tốt hơn so với chỉ ăn lòng trắng. Điều này được cho là nhờ sự kết hợp giữa protein và các dưỡng chất trong lòng đỏ, giúp tăng hiệu quả phục hồi cơ.
Khi nào nên chọn lòng trắng và nguyên quả?
Với người đang giảm cân, kiểm soát cân nặng hoặc cần hạn chế cholesterol, lòng trắng trứng là lựa chọn phù hợp nhờ ít calo, gần như không có chất béo và không chứa cholesterol.
Ngược lại, với người khỏe mạnh, không mắc bệnh tim mạch hay rối loạn lipid máu, trứng nguyên quả mang lại lợi ích dinh dưỡng toàn diện hơn. Nhóm này có thể ăn khoảng một quả trứng mỗi ngày trong chế độ ăn cân bằng, thay vì loại bỏ hoàn toàn lòng đỏ.