Các chuyên gia cho biết, caffeine trong thực phẩm và caffeine dùng pha trộn ma túy hoàn toàn khác nhau về bản chất, liều lượng và mức độ nguy hiểm. Nếu được dùng đúng cách và đúng lượng, caffeine mang lại nhiều lợi ích.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Cấp cứu, Hồi sức tích cực và chống độc – Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), caffeine là một chất thuộc nhóm methylxanthin, có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, tạo sự tỉnh táo và tăng hoạt động trí óc, kích thích trung tâm hô hấp, tăng tần số thở, thở sâu và giãn phế quản.
Trong y học, caffeine được sử dụng làm thuốc để khôi phục sự tỉnh táo khi mệt mỏi hoặc buồn ngủ, là thành phần phổ biến trong một số thuốc giảm đau hoặc được dùng để giảm cân…
Trong ngành chế biến thực phẩm, caffeine được sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp để sản xuất các loại đồ uống (cà phê, nước tăng lực, nước ngọt, ca cao, sô cô la…) nhằm cải thiện sự tỉnh táo, độ tập trung.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) không xếp caffeine vào nhóm chất gây nghiện, nhưng lạm dụng có thể gây phụ thuộc tâm lý với các biểu hiện như nhức đầu, run rẩy, hồi hộp, khó tập trung hoặc cáu gắt.
Theo bác sĩ Đức Thành, có 2 loại caffeine chủ yếu:
Caffeine tự nhiên: Có trong trà, cà phê và đi kèm nhiều hợp chất sinh học như polyphenol, tannin, chất chống oxy hóa. Hàm lượng thường thấp (khoảng 1,2 – 2,2%), cơ thể dễ dung nạp và đào thải.
Caffeine công nghiệp: Là caffeine tổng hợp dạng bột tinh khiết gần như tuyệt đối (99%). Vì ở dạng bột đậm đặc không tạp chất, việc hấp thụ trực tiếp qua hít, nuốt (khi phối trộn vào ma túy) đẩy hàm lượng chất này vào máu cực kỳ nhanh, vọt lên ngưỡng nguy hiểm.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Trần Thanh Sang, Trưởng khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM) cho biết thêm, trong thực tế hồi sức – chống độc vẫn ghi nhận nhiều trường hợp dùng quá nhiều caffeine từ nước tăng lực, viên caffeine hoặc sản phẩm giảm cân. Người bệnh có thể bị run tay, hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ, lo âu hoặc buồn nôn; nặng hơn có thể rối loạn nhịp tim, co giật hay rối loạn ý thức.
Tuy nhiên, ngộ độc caffeine đơn thuần thường vẫn kiểm soát được nếu phát hiện sớm. Ngược lại, khi caffeine bị pha trộn với methamphetamine hoặc các chất kích thích khác, mức độ nguy hiểm tăng cao do tác động cộng hưởng lên tim mạch, não bộ và tâm thần.
Bác sĩ Đức Thành khuyên, để dùng cà phê, trà và nước tăng lực an toàn, người trưởng thành nên giữ tổng lượng caffeine dưới 400 mg/ngày; ưu tiên cà phê đen, hạn chế thêm đường, sữa đặc hoặc kem béo. Người nhạy cảm với caffeine, mắc bệnh tim mạch hoặc tăng huyết áp chỉ nên dùng 1 – 2 tách trà/cà phê loãng mỗi ngày.
Trà xanh và trà đen chứa ít caffeine hơn cà phê, giàu chất chống oxy hóa nhưng không nên uống quá đặc hoặc dùng vào buổi tối để tránh mất ngủ.
Nên hạn chế tối đa nước tăng lực chứa nhiều caffeine và đường, Người khỏe mạnh cũng không nên uống quá 1 lon/ngày và không được dùng để thay nước lọc.
Sữa chua giàu dinh dưỡng, bổ sung nhiều lợi khuẩn có lợi giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột, ức chế vi khuẩn có hại (như vi khuẩn HP - nguyên nhân phổ biến gây viêm loét dạ dày). Axit lactic trong sữa chua sau khi được chuyển hóa sẽ giúp kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh và hỗ trợ làm lành các vết loét nhẹ. Sữa chua giúp giảm các triệu chứng đầy hơi, khó tiêu, giúp dạ dày không phải co bóp quá sức để xử lý thức ăn.
Ngoài ra, lượng acid trong sữa chua không đáng kể so với lượng acid trong dịch vị dạ dày, không gây hại dạ dày như lời đồn. Món ăn này có tác dụng điều hòa nhu động ruột, giảm thiểu sự tích tụ khí hoặc thức ăn, giúp ngăn ngừa chứng táo bón, cải thiện quá trình tiêu hóa.
Tuy nhiên, người bị đau dạ dày không nên ăn sữa chua lúc đói, nên ăn sữa chua sau bữa chính khoảng một đến hai tiếng. Lúc này, nồng độ axit trong dạ dày đã được pha loãng bởi thức ăn, tạo môi trường lý tưởng để lợi khuẩn sống sót và phát huy tác dụng.
Không nên ăn sữa chua quá lạnh ngay khi vừa lấy từ tủ lạnh ra. Nên để ở nhiệt độ phòng khoảng 10-15 phút trước khi ăn để tránh gây co thắt dạ dày.
Ưu tiên sữa chua trắng, ít đường hoặc không đường. Hạn chế các loại sữa chua có quá nhiều hương liệu hoặc phẩm màu hóa học. Không nên ăn sữa chua cùng với các loại thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, thịt xông khói vì chúng có thể gây rối loạn tiêu hóa. Chỉ nên ăn khoảng một đến hai hộp mỗi ngày.
Các chuyên gia cho biết cà phê đen nguyên chất chứa nhiều hợp chất có lợi cho sức khỏe gan và thậm chí có thể giúp bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh gan mạn tính, từ giảm viêm đến giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ, theo Hindustan Times (Ấn Độ).
Theo bác sĩ Saurabh Sethi, chuyên gia tiêu hóa và gan mật tại California, từng được đào tạo tại Viện Khoa học Y khoa Toàn Ấn Độ (AIIMS), Đại học Harvard và Đại học Stanford (Mỹ), cà phê đen là một trong những thức uống có khả năng bảo vệ gan tốt nhất mà con người biết đến.
Những người uống cà phê thường xuyên có nguy cơ bị xơ gan và các biến chứng liên quan đến gan thấp hơn. Thói quen này còn cải thiện chỉ số men gan ở những người có nguy cơ.
Bác sĩ Sethi cho biết: Nhiều nghiên cứu lớn cho thấy người uống cà phê thường xuyên có nguy cơ xơ gan thấp hơn tới 44%. Thêm vào đó, uống cà phê đều đặn còn liên quan đến việc giảm ALT và AST - 2 chỉ số được theo dõi trong các xét nghiệm để đánh giá tình trạng tổn thương hoặc viêm gan.
Gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) đang ngày càng phổ biến trên toàn thế giới. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy cà phê có thể đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ gan và góp phần ngăn ngừa tình trạng này.
Bên cạnh đó, cà phê cũng chứa nhiều chất chống oxy hóa mạnh, có thể giúp giảm viêm trong gan. Đặc biệt, axit chlorogenic trong cà phê còn giúp giảm stress oxy hóa - cơ chế chính gây tổn thương gan mạn tính.
Theo bác sĩ Sethi, 2 - 3 tách cà phê mỗi ngày là “ngưỡng lý tưởng” để tối đa hóa lợi ích bảo vệ gan. Một phân tích tổng hợp lớn trên hơn 400.000 người cho thấy mức tiêu thụ này mang lại hiệu quả bảo vệ gan cao nhất.
Lợi ích bảo vệ gan của cà phê chủ yếu đến từ các polyphenol chứ không phải caffeine. Vì vậy, cà phê không caffeine (decaf) vẫn có thể mang lại lợi ích tương tự. Theo bác sĩ Sethi, ngay cả người uống cà phê decaf cũng ghi nhận sự cải thiện men gan tương tự trong các nghiên cứu so sánh trực tiếp.
Ngày 27/4, BS.CKI Lý Phạm Hoàng Vinh, Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nhi đồng 1, cho biết bệnh nhi được tuyến dưới chuyển đến sau hai ngày ho nhiều, nghi ngờ có dị vật đường thở. Gia đình không xác định được bé đã hít sặc vật gì và từ thời điểm nào.
Kết quả X-quang ghi nhận dị vật cản quang nằm ở phế quản gốc phải, kèm theo biến chứng xẹp phổi phải không hoàn toàn và tràn khí trung thất. Nhận định tình trạng phức tạp, bác sĩ Vinh cùng kíp gây mê lập tức nội soi đường thở cấp cứu.
Dị vật được xác định là một bóng đèn LED nằm sâu trong phế quản. Theo bác sĩ Vinh, việc gắp dị vật đặc biệt khó khăn do đường thở trẻ 9 tháng tuổi rất nhỏ. Phần đuôi bóng đèn phình to, sắc nhọn, dễ mắc kẹt khi kéo qua thanh quản, có thể gây rách niêm mạc hoặc kẹt giữa hai dây thanh.
Quá trình can thiệp, bác sĩ phải xoay chỉnh dị vật từng chút một, lựa hướng tối ưu để đưa phần đầu đèn ra trước nhằm hạn chế tổn thương. Với dị vật sắc nhọn, nguy cơ tràn khí màng phổi trong lúc gắp là hiện hữu, do đó kíp Ngoại Lồng ngực được huy động sẵn sàng để xử trí nếu xảy ra biến chứng.
Sau nhiều thao tác tỉ mỉ, bóng đèn LED mắc kẹt đã được lấy ra an toàn. Sau can thiệp, đường thở của bé thông thoáng, không ghi nhận tổn thương đáng kể hay biến chứng tràn khí. Tình trạng hô hấp cải thiện, bé giảm ho và đang được theo dõi, dự kiến sớm xuất viện.
Theo bác sĩ Vinh, dị vật đường thở ở trẻ nhỏ luôn là cấp cứu nguy hiểm, đặc biệt với các vật có hình dạng bất thường như bóng đèn LED. Không chỉ gây tắc nghẽn, những dị vật này còn có thể làm trầy xước, thủng đường thở hoặc dẫn đến biến chứng nặng nếu xử trí không đúng cách. Thực tế, bệnh viện đã tiếp nhận nhiều trường hợp trẻ sặc bóng đèn ở nhiều độ tuổi khác nhau.
Trường hợp này cũng cho thấy trẻ có thể hít dị vật mà không được phát hiện. Bác sĩ khuyến cáo phụ huynh không để trẻ ngậm các vật nhỏ như bóng đèn LED, pin, linh kiện. Cần quan sát trẻ trong sinh hoạt hằng ngày và cất gọn các vật dụng nhỏ, sắc nhọn.
Khi nghi ngờ trẻ hít sặc dị vật, cần sơ cứu đúng cách bằng thủ thuật Heimlich và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế để được can thiệp kịp thời.