Một năm sau khi Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị xác lập kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”, khu vực doanh nghiệp tư nhân đang cho thấy nhiều chuyển động mới. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh, niềm tin kinh doanh dần cải thiện, nhiều địa phương chủ động hơn trong cải cách và hỗ trợ doanh nghiệp.
Theo nhìn nhận của TS. Đậu Anh Tuấn – Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), năm 2025 là một năm rất đặc biệt khi diễn ra đồng thời nhiều thay đổi lớn, trong đó có việc tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy hành chính địa phương và việc ban hành Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị.
“Lần đầu tiên vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được xác lập, được khẳng định. Chưa bao giờ khu vực kinh tế tư nhân có cơ hội, có dư địa và có lực đẩy như hiện nay”, ông Tuấn nói.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, đây cũng là giai đoạn các địa phương đặt ra mục tiêu tăng trưởng rất cao và đang có nhiều thay đổi trong điều hành, phát triển kinh tế. Điểm đáng chú ý nhất sau một năm không chỉ nằm ở các chính sách cụ thể, mà ở sự thay đổi trong tư duy phát triển. Nếu trước đây khu vực tư nhân chủ yếu được nhìn dưới góc độ “hỗ trợ”, thì nay nhiều địa phương đã bắt đầu xem doanh nghiệp tư nhân là lực lượng trung tâm của tăng trưởng kinh tế địa phương.
TS. Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh, Việt Nam hiện đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động. Riêng năm 2025, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt khoảng 297.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp tư nhân hiện “đông về số lượng nhưng nhỏ về quy mô”.
Theo số liệu được ông Tuấn dẫn lại, gần 80% doanh nghiệp tư nhân hiện dưới 50 lao động; khoảng 70% có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. Tỉ lệ doanh nghiệp dưới 10 lao động vẫn chiếm hơn 45%.
Ông Tuấn cho rằng quy mô nhỏ có thể tạo sự linh hoạt, nhưng lại đặt ra thách thức lớn đối với việc tích lũy, đầu tư công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng ở mức cao.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, năm 2025 có khoảng 227.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Điều này cho thấy áp lực tồn tại và sức chống chịu của doanh nghiệp vẫn rất lớn. Kết quả khảo sát của VCCI tại Lễ công bố Báo cáo Kinh tế Tư nhân Việt Nam vừa qua cũng cho thấy phần lớn doanh nghiệp vẫn giữ tâm lý thận trọng. Khoảng 55% doanh nghiệp cho biết dự định giữ nguyên quy mô hoạt động trong thời gian tới; tỉ lệ doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng quy mô khoảng 30,9%.
Một điểm đáng chú ý khác là khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay không còn là vốn như nhiều năm trước, mà là tìm kiếm khách hàng và thị trường đầu ra.
Theo ông Tuấn, tỉ lệ doanh nghiệp phản ánh khó khăn về tìm kiếm khách hàng đã tăng từ 45,3% năm 2024 lên 60,2% năm 2025. Khó khăn này xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, không chỉ với doanh nghiệp xuất khẩu mà cả các doanh nghiệp phục vụ thị trường nội địa.
Theo ông, đây là vấn đề các địa phương cần quan tâm hơn trong thời gian tới thông qua các chương trình kết nối thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các hiệp định thương mại tự do và mở rộng chuỗi cung ứng.
Bên cạnh thị trường đầu ra, tiếp cận vốn vẫn là khó khăn thường trực của doanh nghiệp tư nhân. Ông Đậu Anh Tuấn cho biết, hiện có khoảng 75% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu không có tài sản thế chấp. Trong khi đó, theo số liệu điều tra của Ngân hàng Thế giới được ông dẫn lại, khoảng 93% khoản vay tại Việt Nam yêu cầu tài sản bảo đảm.
Ông cho rằng sự phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng ngân hàng đang tạo áp lực lớn với doanh nghiệp tư nhân trong mở rộng sản xuất và đầu tư.
Một vấn đề khác được ông Tuấn nhắc tới là tình trạng khó dự báo của môi trường chính sách. Theo ông, tốc độ thay đổi chính sách hiện nay diễn ra rất nhanh, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không có nhân sự chuyên trách để theo dõi và cập nhật.
Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo là một trong những thách thức lớn của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay. Hiện tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo còn khá thấp so với nhiều nước trong khu vực; chỉ khoảng 17,5% doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm mới trong 3 năm gần đây; khoảng 11% doanh nghiệp vừa và lớn có chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Theo ông Tuấn, muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu thì đổi mới sáng tạo là yếu tố rất quan trọng. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp tư nhân hiện vẫn phát triển từ mô hình hộ kinh doanh cá thể, nên chất lượng quản trị còn hạn chế.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, trong nhiều năm qua, các địa phương đã có nhiều cải thiện trong cắt giảm thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường và giảm chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, sự thông thoáng của thủ tục hành chính là chưa đủ. Trong giai đoạn tới, sự khác biệt giữa các địa phương sẽ nằm ở vai trò kiến tạo của chính quyền, khả năng tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và triển khai các chính sách hỗ trợ hiệu quả hơn.
“Môi trường kinh doanh không chỉ là gạt bỏ rào cản hành chính thuận lợi hơn về thủ tục hành chính, mà còn phải tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng hơn, tiếp cận nguồn lực công khai minh bạch hơn”, ông Đậu Anh Tuấn nói.
Ông cũng nhấn mạnh cần quan tâm nhiều hơn tới khu vực hộ kinh doanh – nơi hiện có hàng triệu lao động phụ thuộc sinh kế.
Theo ông Tuấn, để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, điều quan trọng là tạo động lực để hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, thay vì tạo thêm áp lực về thủ tục và chi phí tuân thủ.
Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới khi khu vực kinh tế tư nhân lần đầu tiên được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Ông Đậu Anh Tuấn cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ này, điều quan trọng là phải giải phóng mạnh mẽ hơn sức sản xuất của khu vực tư nhân.
Theo Nghị định số 169/2026 do Chính phủ ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có hiệu lực từ ngày 1.7, người mang tiền mặt, vàng khi xuất nhập cảnh nhưng không khai báo sẽ bị xử phạt lên đến 50 triệu đồng. Cụ thể, người xuất cảnh, nhập cảnh nếu không khai hoặc khai sai số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt hoặc vàng mang theo vượt mức quy định sẽ bị xử phạt từ 1 triệu đồng - 50 triệu đồng tùy vào tang vật vi phạm có giá trị tương đương từ 5 triệu đồng đến trên 100 triệu đồng mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự... Như vậy, người Việt xuất nhập cảnh sẽ được phép mang bao nhiêu tiền mặt hay vàng, ngoại tệ?
Thông tư số 15/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định, cá nhân khi xuất cảnh bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức 5.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương hoặc 15 triệu đồng phải khai báo với hải quan. Điều này được hiểu rằng, khi mang tiền mặt hay ngoại tệ khi xuất nhập cảnh dưới mức quy định nói trên thì không cần khai báo.
Thông tư 15/2011 cũng nêu rõ: Mức ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam tiền mặt quy định phải khai báo hải quan cửa khẩu không áp dụng đối với cá nhân mang theo các loại phương tiện thanh toán, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng Việt Nam như séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác. Trường hợp cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định nêu trên hoặc vượt số mang vào đã khai báo hải quan cửa khẩu khi nhập cảnh lần gần nhất, phải xuất trình cho hải quan cửa khẩu các loại giấy tờ gồm Giấy xác nhận mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài (sau đây gọi là Giấy xác nhận) do tổ chức tín dụng được phép cấp phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối; hoặc văn bản chấp thuận cho cá nhân mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Trường hợp cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định trên, nhưng không vượt quá số lượng đã mang vào phải xuất trình cho Hải quan cửa khẩu Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh có xác nhận của hải quan cửa khẩu về số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt đã mang vào khi nhập cảnh lần gần nhất, không cần phải có Giấy xác nhận của tổ chức tín dụng được phép.
Tương tự, Thông tư 11/2014 của Ngân hàng Nhà nước quy định việc mang vàng của cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh nêu rõ: Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu không được phép mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu. Trường hợp cá nhân nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu phải làm thủ tục gửi tại kho hải quan để mang ra khi xuất cảnh hoặc làm thủ tục chuyển ra nước ngoài và phải chịu mọi chi phí liên quan phát sinh.
Riêng vàng trang sức, mỹ nghệ thì cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu mang theo với tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan hải quan. Điều này đồng nghĩa nếu mang theo vàng trang sức, mỹ nghệ dưới 300g thì không cần khai báo.
Trường hợp xuất cảnh, nhập cảnh bằng giấy thông hành biên giới, giấy thông hành nhập xuất cảnh, chứng minh thư biên giới thì không không được mang theo vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ, trừ trường hợp được đeo trên người vàng trang sức, mỹ nghệ phục vụ nhu cầu trang sức như các loại: nhẫn, dây, vòng, hoa tai, kim cài và các loại trang sức khác. Nếu tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan hải quan.
Nếu cá nhân cá nhân nước ngoài được phép định cư ở Việt Nam khi nhập cảnh mang theo vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ có tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan hải quan. Ngược lại, cá nhân Việt Nam được phép định cư ở nước ngoài khi xuất cảnh được mang theo vàng (vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ) theo quy định sau: Tổng khối lượng vàng từ 300g (ba trăm gam) trở lên đến dưới 1 kg (một kilôgam) phải khai báo với cơ quan hải quan; tổng khối lượng vàng từ 1 kg (một kilôgam) trở lên phải có Giấy phép mang vàng khi xuất cảnh định cư ở nước ngoài của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi cá nhân đó cư trú cấp, đồng thời phải khai báo với cơ quan hải quan.
Mở cửa sáng nay, lúc 8h31, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh giảm 500 nghìn đồng/lượng, giao dịch ở mức 162-165 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn SJC loại 1 đến 5 chỉ cũng giảm 500 nghìn đồng/lượng, giao dịch ở mức 161,8-164,8 triệu đồng/lượng (mua - bán).
Cụ thể, tại Bảo Tín Mạnh Hải, giá vàng miếng SJC giao dịch ở mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Tập đoàn Doji ở Hà Nội và TP.HCM giao dịch ở quanh mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC giao dịch ở mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý giao dịch quanh mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Ngoài ra, giá vàng SJC tại Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) giao dịch ở mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Cùng thời điểm, giá vàng miếng SJC tại Công ty Vàng bạc đá quý Mi Hồng niêm yết ở ngưỡng 163,3-165,0 triệu đồng/lượng, giảm 200 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và không đổi ở chiều bán ra so với hôm qua, chênh lệch giá vàng ở mức 1,7 triệu đồng.
Đối với vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn ép vỉ của Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch quanh mức 162 - 164,9 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu, giao dịch ở mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn Doji Hưng Thịnh Vượng 9999 của Tập đoàn Doji tại thị trường Hà Nội giao dịch ở mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay nhẫn tròn trơn 999,9 tại Công ty Phú Quý giao dịch quanh mức 162 - 165 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới đảo chiều đi xuống
Khoảng 6h ngày 13/5 (giờ Việt Nam), giá vàng hôm nay trên thị trường quốc tế dao động quanh mức 4.720 USD/ounce, giảm khoảng 54 USD so với mức cao nhất trong phiên giao dịch đêm qua là 4.774 USD/ounce.
Tuy nhiên, nếu so với mức giá cùng thời điểm hôm trước là 4.744 USD, thì giá vàng hôm nay chỉ giảm 24 USD/ounce.
Đến 8h45 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.710 USD/ounce, giảm khoảng 20 USD/ounce so với cùng thời điểm ngày 12/5. Nếu quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, mỗi lượng vàng thế giới có giá khoảng 150 triệu đồng. Như vậy, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới khoảng 15 triệu đồng/lượng.
Nguyên nhân chính khiến giá vàng hôm nay đảo chiều đi xuống, xuất phát từ báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 của Mỹ. CPI tăng 0,6% so với tháng trước (sau mức tăng 0,9% tháng 3), trong khi CPI hàng năm tăng tốc từ 3,3% lên 3,8%.
Giá năng lượng là yếu tố góp phần lớn vào sức nóng của lạm phát, với mức tăng 3,8% trong tháng 4, trong đó giá xăng dầu tăng tới 5,4%.
Những con số này làm dấy lên lo ngại Mỹ có thể phải duy trì lãi suất cao lâu hơn nhằm kiểm soát lạm phát.
Dự báo giá vàng
Áp lực lớn nhất của giá vàng thế giới hiện nay đến từ dữ liệu lạm phát của Mỹ. Báo cáo CPI tháng 4 cho thấy lạm phát vẫn duy trì ở mức cao hơn kỳ vọng, với CPI tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá năng lượng tiếp tục leo thang do ảnh hưởng từ xung đột tại Trung Đông. Điều này làm gia tăng lo ngại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì mặt bằng lãi suất cao trong thời gian dài hơn, qua đó hỗ trợ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ tăng lên, những yếu tố thường gây bất lợi cho vàng.
Tuy nhiên, nhiều tổ chức tài chính lớn vẫn duy trì quan điểm tích cực đối với kim loại quý trong trung và dài hạn. Tổ chức ING nhận định đợt điều chỉnh hiện tại chủ yếu phản ánh tác động ngắn hạn từ cú sốc giá dầu và chính sách tiền tệ, chứ chưa làm suy yếu vai trò trú ẩn của vàng. Tổ chức này dự báo giá vàng có thể hướng tới mốc 5.000 USD/ounce vào cuối năm nếu áp lực lạm phát dịu bớt và Fed bắt đầu cắt giảm lãi suất trong nửa cuối năm.
Ngoài ra, lực mua từ các ngân hàng trung ương tiếp tục được xem là yếu tố hỗ trợ quan trọng cho thị trường vàng. Trung Quốc đã nối dài chuỗi mua vàng lên tháng thứ 15 liên tiếp, trong khi Ba Lan và Uzbekistan tiếp tục tăng dự trữ nhằm đa dạng hóa tài sản ngoại hối và giảm phụ thuộc vào đồng USD.
Theo CME Group, đồng USD hiện vẫn là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất tới thị trường hàng hóa nói chung và vàng nói riêng. Khi USD mạnh lên, vàng thường chịu áp lực điều chỉnh. Ngược lại, nếu đồng bạc xanh suy yếu và kỳ vọng Fed nới lỏng chính sách quay trở lại, dòng tiền có thể tiếp tục chảy vào kim loại quý.
Ở góc độ kỹ thuật, vùng 4.660 - 4.680 USD/ounce hiện đóng vai trò hỗ trợ quan trọng đối với giá vàng. Trong khi đó, khu vực 4.750 - 4.880 USD/ounce được xem là vùng cản đáng chú ý mà thị trường cần vượt qua để củng cố đà phục hồi trong ngắn hạn.
Giới phân tích cho rằng trong thời gian tới, diễn biến của giá dầu, các dữ liệu kinh tế Mỹ và thông điệp từ Fed sẽ tiếp tục là những yếu tố dẫn dắt xu hướng của thị trường vàng toàn cầu.
Trong đó, với lĩnh vực xăng dầu, Nghị quyết 19 đã quy định đơn giản hóa một số thủ tục hành chính. Đáng chú ý, nhiều điều kiện kinh doanh được cắt, giảm trong lĩnh vực xăng dầu quy định tại các điều 7, 13, 19, 22, 24 tại Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu.
Đối với thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, cần có cầu cảng chuyên dụng bảo đảm tiếp nhận được tàu chở xăng dầu hoặc phương tiện vận tải xăng dầu khác có trọng tải tối thiểu 7.000 tấn, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng từ 5 năm trở lên; có kho tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu dung tích tối thiểu 15.000 m3 để trực tiếp nhận xăng dầu từ tàu chở xăng dầu và phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng khác, thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc thuê từ 5 năm trở lên.
Có hệ thống phân phối xăng dầu với tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ, trong đó có ít nhất 5 cửa hàng thuộc sở hữu của doanh nghiệp; tối thiểu 40 tổng đại lý kinh doanh xăng dầu hoặc đại lý bán lẻ xăng dầu hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của thương nhân.
Thương nhân đầu mối kinh doanh nhiên liệu hàng không không bắt buộc phải có hệ thống phân phối như quy định tại khoản 5 điều 7 Nghị định 83.
Đối với thương nhân phân phối xăng dầu, phải có hệ thống phân phối tối thiểu 5 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu hoặc thuê với thời hạn thuê từ 5 năm trở lên, trong đó có ít nhất 3 cửa hàng thuộc sở hữu; tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc các đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu được cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
Đối với đại lý bán lẻ hoặc thương nhân nhận quyền chỉ cần có cửa hàng đủ điều kiện theo quy định. Cửa hàng bán lẻ xăng dầu phải thuộc sở hữu hoặc thuê tối thiểu 5 năm của thương nhân kinh doanh xăng dầu và đứng tên trên giấy chứng nhận đủ điều kiện.
Đồng thời, cửa hàng phải được thiết kế, xây dựng, trang bị theo quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường. Đáng chú ý, quy định mới cũng bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận và vận tải xăng dầu.
Nghị quyết 19 cũng bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu theo quy định tại điều 27; điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải xăng dầu quy định tại điều 28 của Nghị định 83.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 29.4.2026 và hết hiệu lực kể từ ngày 1.3.2027, trừ trường hợp các quy định liên quan được thay thế hoặc ban hành mới và có hiệu lực sớm hơn.
Theo Nghị quyết 19, có 10 lĩnh vực kinh doanh thuộc quản lý của Bộ Công thương được phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, gồm hóa chất; điện lực; thuốc lá; xăng dầu; thương mại điện tử; thương mại quốc tế; xuất nhập khẩu; xúc tiến thương mại; hoạt động sở giao dịch hàng hóa và công nghiệp địa phương.