Sáng 22.6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm giữa VND với USD ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng so với cuối tuần qua. Ngay sau đó, giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng tăng tương tự như Ngân hàng Vietcombank mua chuyển khoản lên 26.122 đồng, bán ra 26.442 đồng, tăng 2 đồng so với cuối tuần qua; Ngân hàng ACB giữ nguyên chiều mua chuyển khoản 26.130 đồng và tăng 2 đồng ở chiều bán ra, lên 26.442 đồng…
Một số ngoại tệ khác tiếp tục giảm sáng đầu tuần. Chẳng hạn, giá euro tại Ngân hàng Vietcombank giảm 12 đồng khi mua chuyển khoản xuống 29.690 đồng, bán ra còn 30.942 đồng; yen Nhật cũng giảm 0,54 đồng khi mua chuyển khoản 158,85 đồng và bán ra xuống 167,25 đồng. Riêng bảng Anh ngược chiều tăng 3 đồng khi mua chuyển khoản 34.234 đồng, bán ra lên 35.330 đồng…
Giá USD thế giới không thay đổi nhiều khi chỉ số USD-Index vẫn xoay quanh 100,77 điểm như cuối tuần qua. Đồng bạc xanh đã tăng lên mức cao nhất trong vòng một năm sau báo cáo của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và căng thẳng địa chính trị kéo dài. Nhiều quan chức của Fed bày tỏ quan điểm về chính sách tiền tệ thắt chặt và có thể cần phải tăng lãi suất một lần trong năm nay. Theo công cụ CME FedWatch, các nhà giao dịch đang dự đoán 70% khả năng Fed tăng lãi suất vào tháng 9. Các nhà phân tích Phố Wall đã duy trì xu hướng tăng giá ngắn hạn đối với USD, gây áp lực lên các loại tiền tệ khác.
Trong khi đó, hiện vẫn không chắc chắn về thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran. Thụy Sĩ cho biết các cuộc đàm phán hai bên về một hiệp ước để chấm dứt xung đột Trung Đông đã bị hoãn vô thời hạn. Hôm 20.6, Bộ chỉ huy quân sự trung ương Iran tuyên bố sẽ đóng cửa eo biển Hormuz sau khi Israel tiến hành các cuộc tấn công mới vào miền nam Lebanon dù đã đồng ý mở lại eo biển này theo thỏa thuận sơ bộ đã ký với Mỹ hôm 17.6. Điều này khiến nhà đầu tư vẫn lựa chọn USD làm tài sản trú ẩn an toàn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Điểm mới của dự thảo yêu cầu chất lượng đối với vàng miếng, vàng nguyên liệu. Vàng miếng nhập khẩu, vàng nguyên liệu nhập khẩu phải có hàm lượng vàng từ 99,5 % trở lên. Vàng miếng được sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường; vàng nguyên liệu nhập khẩu phải bảo chất lượng, hàm lượng vàng không được thấp hơn tiêu chuẩn, hàm lượng đã công bố. Theo ban soạn thảo, Nghị định 232/2025, các doanh nghiệp, ngân hàng chỉ được phép nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu có hàm lượng từ 99,5% trở lên. Nghị định không quy định mức chất lượng đối với vàng miếng được sản xuất trong nước.
Theo ban soạn thảo, qua rà soát, biện pháp quản lý đề xuất đối với sản phẩm vàng nói chung là tự công bố tiêu chuẩn áp dụng. Đối với vàng miếng, hiện Ngân hàng Nhà nước không quy định mức giới hạn chất lượng đối với vàng sản xuất trong nước; vì vậy, dự thảo áp dụng cơ chế công bố tiêu chuẩn và mức giới hạn sai số tương tự như đối với vàng trang sức, mỹ nghệ. Khối lượng vàng trong mua, bán với các tổ chức, cá nhân hoặc trong thanh tra, kiểm tra không được nhỏ hơn khối lượng công bố.
Nội dung hoàn toàn mới được đề cập tại dự thảo đó là truy xuất nguồn gốc sản phẩm vàng. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng và vàng nguyên liệu được khuyến khích áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm vàng. Thông tin truy xuất nguồn gốc có thể được cung cấp thông qua một trong các hình thức như mã QR; mã số, mã vạch; hệ thống thông tin điện tử hoặc nền tảng số của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh. Thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm vàng có thể bao gồm các nội dung sau tên sản phẩm; tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu; khối lượng và hàm lượng vàng; mã ký hiệu sản phẩm; thời gian sản xuất hoặc nhập khẩu; các thông tin kỹ thuật liên quan khác (nếu có). Việc truy xuất nguồn gốc được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và các quy định pháp luật có liên quan. Việc không áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc không làm thay đổi nghĩa vụ công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn hàng hóa theo quy định tại Thông tư này.
Vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được sản xuất, gia công, nhập khẩu, lưu thông trước ngày Thông tư này có hiệu lực được tiếp tục lưu thông trên thị trường nếu đáp ứng các quy định tại Thông tư số 22/2013 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường và điều 1 Thông tư số 04/2026. Vàng nguyên liệu được nhập khẩu, lưu thông trước ngày Thông tư này có hiệu lực được tiếp tục lưu thông theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Cách xử lý lỗi về người phụ thuộc khi tự quyết toán thuế trên eTax Mobile

Thứ nhất là đã cập nhật mã số thuế theo số định danh nhưng kê khai trên eTax Mobile báo "không thể truy vấn thông tin người phụ thuộc", không thể lấy thông tin để kê khai giảm trừ.
Cách xử lý là kiểm tra lại tình trạng người phụ thuộc: vào tra cứu người phụ thuộc -> xác định mã nào còn hiệu lực (mã đã hủy thì bỏ qua); đảm bảo người phụ thuộc đã được đăng ký giảm trừ đúng thời gian trong năm 2025.
Cập nhật lại trên eTax Mobile mẫu 20-ĐK-TH-TCT (đăng ký/thay đổi người phụ thuộc) và cập nhật lại thông tin giấy tờ căn cước công dân. Nếu vẫn lỗi, liên hệ trực tiếp cơ quan thuế nhờ mở/đồng bộ lại mã người phụ thuộc trên hệ thống.
Thứ 2 là bị trùng người phụ thuộc, muốn hủy người phụ thuộc để người còn lại làm quyết toán.
Cách xử lý là khi đang làm tờ khai quyết toán 02/QTT-TNCN, nhấn vào mục Bảng kê 02-1/BK-QTT-TNCN.
Trong danh sách người phụ thuộc hiện ra, tìm tên người bị trùng -> nhấn vào biểu tượng thùng rác (XÓA) bên cạnh tên người đó để gỡ bỏ hoàn toàn khỏi hồ sơ hoặc điều chỉnh lại chỉ tiêu "Thời gian giảm trừ: Đến tháng" cho phù hợp (ví dụ, nếu muốn người còn lại giảm trừ cả năm, phải xóa hẳn hoặc để trống thời gian giảm trừ của mình).
Sau khi xóa, tiếp tục hoàn thiện các bước còn lại và nộp tờ khai. Khi đó, hệ thống sẽ ghi nhận người phụ thuộc không giảm trừ cho người này, người còn lại sẽ đăng ký giảm trừ mà không bị báo trùng.
Sau khi tờ khai được chấp nhận, hệ thống sẽ "nhả" mã số thuế của người phụ thuộc ra để người còn lại có thể quyết toán bình thường. Người còn lại chọn "Thêm mới người phụ thuộc" và điền đầy đủ thông tin (họ tên/căn cước công dân/ngày sinh/quan hệ...).
Thứ 3 là đã đăng ký người phụ thuộc từ lâu nhưng tra cứu không hiện người phụ thuộc trên eTax Mobile. Nguyên nhân là thông tin chưa được đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc dữ liệu chưa được đơn vị chi trả thu nhập cập nhật/lỗi ứng dụng/người phụ thuộc chưa có mã số thuế hoặc mã số thuế chưa được chuẩn hóa.
Cách xử lý là cập nhật ứng dụng, đảm bảo đang sử dụng phiên bản eTax Mobile mới nhất từ CH Play hoặc App Store.
Tự khai báo lại trong tờ khai: nếu tra cứu không thấy nhưng người nộp thuế vẫn có đủ hồ sơ chứng minh, tại mục "Khai báo người phụ thuộc" khi lập tờ khai quyết toán, người nộp thuế có thể chọn "Thêm mới người phụ thuộc" để điền lại thông tin vào Bảng kê 02-1/BK-QTT-TNCN.
Thực hiện thay đổi thông tin đăng ký thuế: cập nhật lại trên eTax Mobile mẫu 20-ĐK-TH-TCT và cập nhật lại thông tin giấy tờ căn cước công dân.
Liên hệ cơ quan thuế hoặc đơn vị chi trả: kiểm tra lại với công ty xem họ đã đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế chưa, hoặc liên hệ trực tiếp với cơ quan thuế để được hỗ trợ kiểm tra trạng thái mã số thuế của người phụ thuộc.
Lỗi thứ 4 được Thuế cơ sở 8 tỉnh Nghệ An đề cập là tra cứu có thông tin người phụ thuộc và mã số thuế trên eTax Mobile, tuy nhiên tờ khai quyết toán không hiển thị người phụ thuộc.
Cách xử lý là thoát khỏi tờ khai, đăng nhập lại eTax Mobile -> vào lại phần quyết toán, tải lại dữ liệu -> kiểm tra lại từng người phụ thuộc xem có giảm trừ tháng/thời gian hiệu lực/quan hệ người phụ thuộc/căn cước công dân, mã số thuế đúng chưa.
Có trường hợp tra cứu thấy đúng nhưng tờ khai quyết toán thuế không tự kéo. Khi đó, người nộp thuế vẫn kê khai thủ công bảng kê người phụ thuộc, có thể chọn "Thêm mới người phụ thuộc" để điền lại thông tin vào Bảng kê 02-1/BK-QTT-TNCN.
Thứ 5 là lỗi thông tin người phụ thuộc không có trên Cơ sở dữ liệu về dân cư. Để xử lý, người phụ thuộc phải kiểm tra lại thông tin trên giấy tờ tùy thân đã khớp hết với dữ liệu đã đăng ký với cơ quan thuế hay chưa. Nếu lỗi tên, sai ngày sinh thì sửa lại cho đúng với thông tin trên căn cước công dân rồi chọn "Lấy thông tin căn cước công dân".
Trường hợp thông tin đã đăng ký với cơ quan thuế và thông tin căn cước công dân đã đúng (tên, ngày sinh) thì người nộp thuế liên hệ cơ quan công an để cập nhật lại thông tin trên cổng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc nộp hồ sơ điều chỉnh thông tin đến cơ quan thuế nơi cư trú.
Tin Gốc: Thanh Niên

Những con đường rộng mở, những ngôi nhà cao tầng khang trang, thậm chí cả biệt thự mọc lên san sát ở thôn Nam Mới, xã Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh khiến nhiều người không khỏi bất ngờ khi trở lại vùng quê ven biển này. Vài chục năm trước, nơi đây vẫn còn là một làng chài nghèo, người dân chủ yếu sống bằng nghề đi biển, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.
Sự đổi thay ấy đến từ những dòng tiền gửi về của hàng nghìn lao động đang làm việc tại nước ngoài. Tuy nhiên, phía sau những ngôi nhà tiền tỷ ấy, điều còn thiếu lại là những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hay mô hình kinh doanh đủ lớn để tạo thêm việc làm và động lực phát triển bền vững cho địa phương.
Câu chuyện của một làng quê ven biển Hà Tĩnh cũng phản ánh bài toán lớn đang đặt ra với nguồn kiều hối hàng chục tỷ USD mỗi năm của Việt Nam: Làm thế nào để dòng tiền này không chỉ phục vụ tiêu dùng, tích trữ mà thực sự trở thành nguồn lực cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế?
Bà Hoàng Thị Thành (57 tuổi, trú tại thôn Nam Mới) cho biết, hiện chồng và 4 người con của bà đang làm việc tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Người làm lâu nhất đã hơn chục năm, mỗi tháng gửi về khoảng 1.000 - 2.000 USD.
"Trong làng, hầu như gia đình nào cũng có người đi làm việc tại nước ngoài, có nhiều nhà 2-3 người. Một người sang làm ăn khấm khá rồi đầu tư cho người thân, anh em, họ hàng sang theo. Dần dần cả làng cùng đi xuất khẩu lao động mới thay đổi được cuộc sống như hiện nay", bà Thành chia sẻ.
Dạo quanh các tuyến đường trong thôn Nam Mới hôm nay, không khó để bắt gặp những căn nhà cao tầng, biệt thự khang trang không thua kém khu vực đô thị. Tuy nhiên, ngoài một nhà hàng sinh thái ven biển, địa phương gần như chưa có nhiều doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất được hình thành từ nguồn tiền tích lũy của người lao động.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Quốc Toàn - Chánh Văn phòng UBND xã Cổ Đạm (Hà Tĩnh) cho biết, không chỉ thôn Nam Mới mà nhiều làng quê tại địa phương đã "thay da đổi thịt" nhờ nguồn thu nhập, tích lũy của người lao động đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình.
Xã Cổ Đạm hiện được hình thành trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị cũ gồm xã Cương Gián, Xuân Liên và Cổ Đạm, với quy mô dân số hơn 34.600 người. Tính đến nay, toàn xã có 6.811 người đang đi xuất khẩu lao động, riêng xã Cương Gián cũ có khoảng 2.700 người.
"Hiện nay, xuất khẩu lao động đã trở thành một hướng đi quan trọng giúp nhiều gia đình cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống. Con em làm ăn xa xứ cũng đã tích cực đóng góp để xây dựng quê hương. Số tiền họ gửi về đã giúp cuộc sống của người thân, gia đình được đảm bảo hơn", ông Toàn nói.
Tuy nhiên, theo đại diện địa phương, phần lớn số tiền người lao động gửi về hiện vẫn chủ yếu được sử dụng để xây nhà, mua sắm trang thiết bị hoặc tích lũy dưới dạng vàng, bất động sản, tiền tiết kiệm; số người trở về thành lập doanh nghiệp còn khá ít.
Câu chuyện tại xã Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh chỉ là một lát cắt trong bức tranh lớn về dòng kiều hối của Việt Nam.
Nhìn lại hành trình hơn 30 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu có những chính sách cởi mở về kiều hối vào năm 1993, dòng tiền này đã chảy về không ngừng nghỉ. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổng lượng kiều hối lũy kế đến nay đã đạt xấp xỉ 240 tỷ USD. Đây là con số cho thấy sự gắn kết bền chặt giữa cộng đồng kiều bào với quê hương.
Năm 2025 tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng của dòng vốn này bất chấp nhiều biến động từ kinh tế thế giới. Riêng tại Tp.HCM, lượng kiều hối chuyển về đạt hơn 10,34 tỷ USD, tăng 8,3% so với năm 2024.
Đáng chú ý, châu Á đang trở thành khu vực đóng góp lớn nhất với 5,06 tỷ USD, chiếm gần một nửa tổng lượng kiều hối chuyển về thành phố. Đây cũng là thị trường truyền thống với lực lượng lao động đông đảo của Việt Nam tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).
Nói với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Quang Huân – Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ĐBQH khóa XV cho rằng, kiều hối là nguồn lực rất quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn.
Theo ông Huân, hiện nay ngân sách Nhà nước đã dành khoảng 35% chi ngân sách cho đầu tư phát triển, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. "Càng phát triển, càng triển khai nhiều dự án thì nhu cầu vốn càng tăng. Trong khi đó, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam hằng năm lên tới hàng chục tỷ USD, trở thành nguồn bổ sung rất đáng kể cho nền kinh tế", ông Huân nói.
Ông Huân cho rằng, đây là thế mạnh cần tiếp tục phát huy bởi cộng đồng kiều bào ở nước ngoài không chỉ đóng góp nguồn lực tài chính mà còn thể hiện sự gắn kết với quê hương. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để sử dụng hiệu quả dòng vốn này cho phát triển kinh tế.
Dù lượng kiều hối liên tục tăng mạnh, song phần lớn dòng tiền này hiện vẫn chủ yếu tập trung vào tiêu dùng, xây dựng nhà cửa, mua bất động sản hoặc tích trữ thay vì đi vào sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Nguyễn Quang Huân, vấn đề cốt lõi nằm ở niềm tin. Muốn người dân hay kiều bào đưa tiền vào đầu tư thì trước tiên họ phải tin vào môi trường kinh doanh và triển vọng phát triển dài hạn. Nếu thiếu niềm tin, họ sẽ lựa chọn cất trữ bằng vàng, ngoại tệ hoặc giữ tiền trong nhà thay vì đưa vào nền kinh tế.
Ông Huân dẫn nghiên cứu cho thấy tỉ lệ chi tiêu cho đầu tư của người dân Việt Nam hiện còn khá thấp, phản ánh tâm lý dè dặt trước doanh nghiệp, thị trường chứng khoán hay môi trường đầu tư nói chung. Trong khi đó, nếu nguồn tiền trong dân được khơi thông và quay trở lại phục vụ sản xuất, kinh doanh thì đây sẽ là nguồn lực rất lớn cho tăng trưởng.
Để tạo niềm tin, theo ông Huân, trước hết doanh nghiệp phải nâng cao trách nhiệm và tính minh bạch. Đồng thời, Nhà nước cần xây dựng các chính sách ổn định, dài hạn và nhất quán. Nếu chính sách thay đổi liên tục, hôm nay ưu đãi nhưng ngày mai lại điều chỉnh thì doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư dài hạn. Khi doanh nghiệp thiếu niềm tin và người dân cũng thiếu niềm tin thì sẽ rất khó huy động nguồn vốn cho phát triển kinh tế.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Tiến Lâm - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Song Ngư Sơn, một tiến sỹ kinh tế từng có nhiều năm sinh sống và làm việc tại Nga cho rằng, phần lớn lao động sau thời gian dài làm việc ở nước ngoài thường ưu tiên xây nhà, mua đất, sắm xe hoặc chi tiêu cá nhân thay vì đầu tư sinh lời lâu dài.
Theo ông Lâm, đây là nhu cầu chính đáng sau nhiều năm lao động vất vả. Tuy nhiên, việc chỉ tập trung vào tiêu dùng khiến nguồn vốn tích lũy chưa phát huy hiệu quả kinh tế bền vững. "Nhiều người sau khi tiêu hết số tiền tích cóp lại rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc phải tiếp tục đi lao động nước ngoài", ông Lâm nói.
Ông cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Đa số lao động xuất khẩu là lao động phổ thông, ít được trang bị kiến thức về quản lý tài chính, kinh doanh hay khởi nghiệp. Dù có kinh nghiệm làm việc nhưng họ lại thiếu kỹ năng xây dựng và điều hành mô hình kinh doanh nên thường e ngại rủi ro, sợ thua lỗ.
Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh ở nhiều địa phương vẫn còn những khó khăn như thiếu chính sách hỗ trợ, thủ tục phức tạp, thiếu thông tin thị trường và nguồn nhân lực phù hợp. Điều này khiến người lao động chưa mạnh dạn sử dụng vốn để mở rộng sản xuất hay thành lập doanh nghiệp.
"Sau nhiều năm xa quê, nhiều người chỉ mong muốn có cuộc sống ổn định, an toàn thay vì tiếp tục đối mặt với áp lực kinh doanh. Một số người dù có ý tưởng nhưng thiếu sự đồng hành, tư vấn và hỗ trợ từ chính quyền hoặc các tổ chức xã hội nên dần từ bỏ ý định khởi nghiệp. Như bản thân tôi, để đi đến được hành trình này cũng đã trải qua không ít khó khăn nếu không có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương", ông Lâm chia sẻ.
Ở góc độ tài chính ngân hàng, ông Lâm cho rằng nếu dòng tiền kiều hối chủ yếu chảy vào tiêu dùng hoặc bất động sản mà không được tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì sẽ hạn chế khả năng tạo việc làm và phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, gây lãng phí nguồn lực.
Theo ông Lâm, để nguồn kiều hối chảy mạnh hơn vào đầu tư và sản xuất kinh doanh, cần tập trung vào các giải pháp khuyến khích thông qua chính sách và cải thiện môi trường đầu tư. Trong đó, các đề án phát triển nông nghiệp xanh, sản phẩm OCOP gắn với làng nghề truyền thống và du lịch nông thôn có thể trở thành lĩnh vực tiềm năng để người dân và kiều bào tham gia đầu tư.
Bên cạnh chính sách dài hạn, ông Nguyễn Quang Huân cho rằng, Nhà nước cần tăng cường đối thoại và lắng nghe ý kiến của cộng đồng trí thức, doanh nhân và kiều bào ở nước ngoài để hiểu nhu cầu, kỳ vọng của họ.
"Chúng ta đã chú trọng lắng nghe ý kiến trong nước thì cũng cần làm điều tương tự với kiều bào. Càng có nhiều góc nhìn đóng góp, chính sách xây dựng ra càng sát thực tế và bền vững hơn", ông Huân nói.
Theo ông Huân, muốn thu hút hiệu quả nguồn lực kiều bào thì trước hết phải hiểu tâm lý, nhu cầu và động lực của cộng đồng này. Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn đến kinh tế học hành vi, bởi trong thực tế con người không phải lúc nào cũng hành động hoàn toàn theo logic kinh tế mà còn chịu tác động bởi cảm xúc, niềm tin và kỳ vọng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

