Theo Viện Khoa học Toán học Courant thuộc Đại học New York (Mỹ), mới đây, nhà toán học người Trung Quốc Vương Hồng (Wang Hong) đã được bổ nhiệm danh hiệu “Silver Professor” (Giáo sư Silver) ở tuổi 35. Đây được xem là một trong những danh hiệu cao quý nhất mà Đại học New York trao tặng cho đội ngũ giảng viên.
Vương Hồng cũng được đánh giá là một trong những ứng viên sáng giá cho Giải Fields, giải thưởng được mệnh danh là “Nobel của ngành toán học”.
Theo giới thiệu của Đại học New York, Silver Professor là chức danh giáo sư mang tên riêng danh giá nhất của trường, được trao cho những học giả có thành tựu nghiên cứu xuất sắc và đóng góp nổi bật trong công tác giảng dạy bậc đại học.
Vương Hồng sinh năm 1991 tại thành phố Quế Lâm, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Năm 2007, khi mới 16 tuổi, cô trúng tuyển vào Học viện Khoa học Trái đất và Không gian của Đại học Bắc Kinh, sau đó chuyển sang Khoa Toán học và tốt nghiệp cử nhân vào năm 2011.
Năm 2014, ở tuổi 23, cô đồng thời nhận bằng kỹ sư của École Polytechnique (Pháp) và bằng thạc sĩ của Đại học Paris XI. Đến năm 2019, cô hoàn thành chương trình tiến sĩ tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu thế giới, khi mới 28 tuổi.
Tháng 6/2021, Vương Hồng hoàn thành chương trình nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton (IAS). Một tháng sau, cô được bổ nhiệm làm trợ lý giáo sư tại Đại học California, Los Angeles (UCLA). Đến tháng 7/2023, cô tiếp tục gia nhập Viện Khoa học Toán học Courant thuộc Đại học New York với cương vị phó giáo sư.
Lĩnh vực nghiên cứu chính của Vương Hồng là giải tích Fourier. Đầu năm 2025, cô cùng nhà toán học Joshua Zahl công bố công trình chứng minh giả thuyết Kakeya trong không gian ba chiều, qua đó giải quyết một bài toán tồn tại hơn một thế kỷ ở giao điểm giữa giải tích điều hòa và hình học.
Thông tin được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố tại Hội nghị thông tin tuyển sinh đại học, sáng 20/4.
Trong số hơn 681.000 thí sinh nhập học đại học, hơn 146.000 em chọn nhóm ngành Kinh doanh quản lý, tỷ lệ 21%. Đây là lĩnh vực được nhiều trường đào tạo, phổ biến là các ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Kế toán - Kiểm toán, Marketing,.. Tuy nhiên, so với năm 2024, tỷ lệ chọn nhóm ngành này đã giảm 4%.
Xếp sau là nhóm Công nghệ kỹ thuật với hơn 72.500 thí sinh nhập học, chiếm 10,6%, tăng hơn 1%. Trong đó, Bộ đánh giá có sự khởi sắc ở nhóm ngành công nghệ chiến lược, 44 ngành thuộc nhóm này tuyển được 150.400 thí sinh, chiếm 22%.
3 nhóm ngành có nhiều thí sinh chọn nhiều khác là Nhân văn (9,6%), Máy tính và công nghệ thông tin (9,2%), Sức khỏe (7,8%).
Năm ngoái, các trường đại học tuyển gần 760.000 sinh viên, số nhập học đạt khoảng 90%. Như vậy, trong 1,1 triệu thí sinh tốt nghiệp THPT, tỷ lệ vào đại học chiếm 59%.
Ba phương thức có nhiều thí sinh trúng tuyển nhất là xét điểm thi tốt nghiệp THPT (50%), học bạ (29%), xét kết hợp (15%).
Chương trình Fulbright trợ giảng tiếng Việt là chương trình tài trợ toàn phần, không cấp bằng, kéo dài 9 tháng tại Mỹ.
Ứng viên là các giáo viên toàn thời gian môn tiếng Anh và những người công tác chuyên môn có liên quan với không quá 7 năm kinh nghiệm giảng dạy để giảng dạy ngôn ngữ mẹ đẻ tại một trường đại học, cao đẳng tại Mỹ.
Chương trình tạo cơ hội cho người tham gia nâng cao kỹ năng giảng dạy, trau dồi trình độ tiếng Anh và mở rộng kiến thức về văn hóa xã hội Mỹ. Người trúng tuyển cũng tham dự hoạt động trợ giảng và củng cố cách thức dạy tiếng Việt cho sinh viên Mỹ tại các trường đại học và cao đẳng Mỹ.
Thời gian trợ giảng cho các lớp học ngôn ngữ tối đa 20 giờ/tuần và bắt buộc đăng ký ít nhất 2 môn/học kỳ, trong đó có một môn liên quan đến ngành Mỹ học.
Chương trình Fulbright tại Việt Nam tuyển chọn và đề cử tối đa 5 ứng viên chính thức và hai 2 ứng viên dự bị từ Việt Nam. Học bổng FLTA bao gồm vé máy bay khứ hồi đến Mỹ, sinh hoạt phí hàng tháng, bảo hiểm y tế, và miễn học phí các môn học bắt buộc.
Chương trình dành cho ứng viên hợp lệ có quốc tịch Việt Nam (không mang hai quốc tịch), và cư trú tại Việt Nam trong suốt quá trình ứng tuyển; có ít nhất 1 bằng đại học; hiện đang làm giáo viên môn tiếng Anh hoặc trong lĩnh vực có liên quan với không quá 7 năm kinh nghiệm giảng dạy; có điểm tiếng Anh còn giá trị sử dụng, tối thiểu TOEFL iBT 80 hoặc IELTS 6.5 hoặc Duolingo 110 hoặc TOEFL Essentials 8.5.
Ứng viên nộp hồ sơ trực tuyến tại https://apply.iie.org/flta2027.
Hạn nộp hồ sơ: 17 giờ ngày 8.7 (giờ Việt Nam).
Để biết thêm chi tiết về điều kiện dự tuyển, tài trợ và quy trình nộp hồ sơ, vui lòng truy cập trang web https://vn.usembassy.gov/fulbright-foreign-language-teaching-assistantship-program/.
Cứ đến mùa tuyển sinh vào lớp 10, cùng với lịch thi, chỉ tiêu và môn thi, thông tin "tỷ lệ chọi" của từng trường lại được công bố.
Học sinh nhìn tỷ lệ, ví dụ, 1/3, 1/5 như một "định mệnh" cho tương lai của mình. Nhiều em thay đổi nguyện vọng vào phút chót, chọn trường thấp hơn khả năng thật vì sợ rớt. Trong khi đó, không ít học sinh khác thấy tỷ lệ thấp liền chủ quan, giảm nỗ lực. Những con số tưởng khách quan ấy lại đang khiến tâm lý học sinh trở nên bất ổn và định hướng học tập có thể bị sai lệch.
Trên lý thuyết, tỷ lệ chọi được cho là giúp thí sinh "ước lượng độ khó" của kỳ thi. Nhưng thực chất, con số này phản ánh chưa đúng về thực tế cạnh tranh.
Hai trường có cùng tỷ lệ chọi 1/10 chưa chắc đã có mức độ cạnh tranh ngang nhau. Có trường nhiều hồ sơ ảo, học sinh chỉ đăng ký "thử vận may", trong khi trường khác có ít hồ sơ nhưng hầu hết là học sinh có học lực giỏi.
Tỷ lệ chọi còn biến động mạnh qua từng năm do hàng loạt yếu tố như vị trí địa lý, uy tín nhà trường, thay đổi chỉ tiêu hay tâm lý đám đông. Do đó, việc lấy tỷ lệ chọi làm căn cứ để dự đoán cơ hội trúng tuyển là thiếu cơ sở khoa học.
Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng: "Tỷ lệ chọi chỉ mang ý nghĩa mô tả số lượng đăng ký, chứ không dự báo được kết quả. Do đó không nên dùng tỷ lệ này để định hướng nguyện vọng".
Về mặt thống kê, tỷ lệ chọi là dữ liệu thô, giá trị thông tin thấp nếu không đi kèm các yếu tố như phổ điểm, chỉ tiêu ưu tiên, hoặc điểm chuẩn dự kiến. Nó không phản ánh được năng lực học sinh, mức độ cạnh tranh thực tế, hay chất lượng đào tạo của trường.
Do đó thay vì chỉ tập trung vào "bao nhiêu người thi - bao nhiêu người đậu", phụ huynh và học sinh nên quan tâm tới các thông tin có ý nghĩa định hướng thực chất:
Đồng thời, các nhà trường nên đẩy mạnh công tác tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp trong trường THCS, giúp học sinh hiểu rõ bản thân thay vì chạy theo "độ hot" của trường. Khi có đủ thông tin đúng và hữu ích, học sinh sẽ biết chọn trường phù hợp.