Theo Bộ Y tế, ung thư hiện là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính căn bệnh này đã cướp đi khoảng 10 triệu sinh mạng trong năm 2022 và số ca mắc mới sẽ tiếp tục gia tăng do già hóa dân số, đô thị hóa cùng các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, chế độ ăn không lành mạnh và ít vận động.
Những tiến bộ trong phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch đã giúp cải thiện đáng kể tỉ lệ sống của người bệnh. Tuy nhiên các phương pháp điều trị này cũng gây nhiều tác dụng phụ, đặc biệt trên hệ tiêu hóa, làm giảm khả năng ăn uống, tăng nhu cầu chuyển hóa và dẫn đến suy dinh dưỡng, suy mòn.
Theo Bộ Y tế, mối quan hệ giữa ung thư và dinh dưỡng là hai chiều. Bản thân khối u và quá trình điều trị có thể gây suy dinh dưỡng, trong khi tình trạng dinh dưỡng lại ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp ứng điều trị, mức độ dung nạp hóa trị, xạ trị cũng như tiên lượng sống của người bệnh.
Đặc biệt, tỉ lệ suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư có thể lên tới 80% tùy loại ung thư, giai đoạn bệnh và phương pháp điều trị. Tình trạng này đặc biệt phổ biến ở người mắc ung thư đường tiêu hóa, gan mật tụy và vùng đầu cổ.
Vì vậy, hướng dẫn mới nhấn mạnh việc sàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng và đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngay từ thời điểm chẩn đoán, đồng thời theo dõi xuyên suốt quá trình điều trị.
Mục tiêu quan trọng nhất là duy trì cân nặng hợp lý, hạn chế sụt cân, cải thiện suy dinh dưỡng, tăng khả năng đáp ứng điều trị, rút ngắn thời gian hồi phục và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Bộ Y tế yêu cầu việc can thiệp dinh dưỡng phải được cá thể hóa theo từng người bệnh, bắt đầu từ tư vấn chế độ ăn, tăng cường dinh dưỡng qua đường miệng.
Sau khi sàng lọc, người bệnh có nguy cơ hoặc đã bị suy dinh dưỡng cần được đánh giá toàn diện về tình trạng dinh dưỡng, bao gồm cân nặng, chỉ số khối cơ thể (BMI), mức độ sụt cân, khối lượng cơ, khẩu phần ăn và các chỉ số cận lâm sàng liên quan.
Trên cơ sở đó, nhân viên y tế xây dựng kế hoạch điều trị dinh dưỡng cá thể hóa cho từng người bệnh.
Theo đó, Bộ Y tế đưa ra khuyến nghị cụ thể về nhu cầu dinh dưỡng.
Người bệnh ung thư cần được cung cấp khoảng 25-30kcal/kg cân nặng/ngày và tối thiểu 1,2g protein/kg/ngày; ở người suy dinh dưỡng nặng hoặc mất nhiều khối cơ, lượng protein có thể tăng lên 1,5g/kg/ngày.
Lipid nên chiếm dưới 30% tổng năng lượng khẩu phần, ưu tiên chất béo không bão hòa và hạn chế chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa.
Vitamin và khoáng chất được bổ sung theo nhu cầu khuyến nghị của người bình thường; chỉ sử dụng liều cao khi có bằng chứng thiếu hụt cụ thể, không tự ý dùng các chế phẩm vi chất liều cao.
Hướng dẫn mới cũng khuyến cáo không áp dụng các chế độ ăn kiêng nghèo năng lượng, bao gồm chế độ ăn keto cho người bệnh ung thư. Keto là chế độ ăn kiêng giảm carbohydrate đến mức tối thiểu. Thay vào đó, chất béo và protein có lợi được bổ sung.
Theo Bộ Y tế, hiện chưa có bằng chứng chứng minh các chế độ ăn này mang lại hiệu quả điều trị, trong khi có thể gây nguy hiểm, đặc biệt ở những người đã suy dinh dưỡng hoặc có nguy cơ suy dinh dưỡng.
Theo Bộ Y tế, chăm sóc dinh dưỡng cần được xem là một phần không thể tách rời trong điều trị ung thư. Việc phát hiện sớm nguy cơ suy dinh dưỡng, can thiệp kịp thời và phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ điều trị với bác sĩ dinh dưỡng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm biến chứng và cải thiện tiên lượng lâu dài cho người bệnh.
Ngày 24/6, bác sĩ Hoàng Công Tình, Khoa Hồi sức tích cực 1, Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình, cho biết bệnh nhân suy hô hấp, sốt cao liên tục, rét run, nhiễm trùng, nhiễm độc. Vết loét đặc trưng do mò đốt ở khoeo chân phải bệnh nhân, khô, đóng vảy, không đau.
Xét nghiệm cho thấy bệnh nhân tổn thương gan, thận và tràn dịch màng phổi hai bên, chẩn đoán suy đa tạng do sốt mò, phải thở máy. Sau hai tuần điều trị, bệnh nhân cai máy thở, chức năng các tạng hồi phục.
Theo bác sĩ, đây là trường hợp điển hình của việc người bệnh chủ quan với vết loét nhỏ, không đau nên không đi khám sớm, dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng. Bệnh sốt mò do khuẩn Orientia tsutsugamushi thuộc họ Rickettsia gây ra. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh có thể gây viêm cơ tim, suy đa tạng và tử vong.
Vết loét sốt mò thường hình bầu dục, kích thước 0,5-2 cm, có vảy đen hoặc đã bong vảy, tạo thành ổ loét có gờ, đáy hồng, ít hoặc không tiết dịch, không đau, không ngứa, thường xuất hiện ở vùng da mềm như nách, ngực, cổ. Ngoài ra, người bệnh có thể xuất hiện ban da, sưng hạch lympho, gan lách to, đôi khi vàng da; kèm theo ho, khó thở, có thể tiến triển đến suy hô hấp cấp.
Gan đảm nhận vai trò chuyển hóa chất dinh dưỡng, dự trữ năng lượng và loại bỏ các chất có hại khỏi cơ thể. Trong khi đó, cơ bắp giúp vận động và duy trì sức mạnh thể chất, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Gan cũng tham gia điều hòa lượng đường trong máu bằng cách dự trữ và giải phóng đường glucose khi cần thiết. Cơ bắp là một trong những nơi sử dụng đường glucose lớn nhất trong cơ thể. Vì vậy, hoạt động bình thường của gan giúp cơ bắp có đủ năng lượng để vận động và duy trì sức mạnh.
Ngoài ra, gan còn sản xuất nhiều loại protein quan trọng với sự phát triển cơ bắp. Khi chức năng gan suy giảm kéo dài, khả năng tổng hợp các chất này cũng giảm theo, từ đó ảnh hưởng đến quá trình duy trì khối cơ.
Mối liên hệ giữa gan và cơ bắp không chỉ diễn ra theo 1 chiều. Sự suy giảm khối lượng cơ cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe gan.
Cơ bắp là nơi sử dụng phần lớn glucose trong máu sau bữa ăn. Khi khối lượng cơ giảm, khả năng tiêu thụ glucose của cơ thể cũng giảm theo. Điều này có thể dẫn đến kháng insulin, tức là tình trạng các tế bào phản ứng kém với hoóc môn insulin.
Kháng insulin là một trong những cơ chế quan trọng dẫn đến gan nhiễm mỡ. Khi cơ thể không sử dụng glucose hiệu quả, gan có xu hướng chuyển phần năng lượng dư thừa thành mỡ và tích tụ trong tế bào gan.
Nghiên cứu công bố trên chuyên san Hepatology cho thấy người có khối lượng cơ cao hơn ít có nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ hơn. Đồng thời, duy trì hoặc tăng khối lượng cơ theo thời gian cũng giúp cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ.
Ngoài ra, bệnh gan mạn tính có thể gây mất cơ. Một trong những nguyên nhân là gan suy yếu không còn khả năng dự trữ glycogen hiệu quả như trước. Glycogen là dạng dự trữ năng lượng từ glucose. Khi nguồn dự trữ này suy giảm, cơ thể buộc phải sử dụng protein trong cơ bắp để tạo năng lượng. Quá trình này diễn ra trong thời gian dài sẽ khiến khối lượng cơ giảm dần theo thời gian.
Khi chúng ta tập thể dục hoặc vận động, cơ bắp sẽ giải phóng các chất tín hiệu sinh học myokine vào máu. Một số myokine giúp tăng sử dụng glucose, thúc đẩy quá trình đốt mỡ và giảm phản ứng viêm trong cơ thể. Nhờ cơ chế này, tập luyện thường xuyên sẽ giúp hạn chế sự tích tụ mỡ trong gan, theo Medical News Today.
Nhiều người có thói quen sử dụng dầu cá omega-3 hằng ngày nhờ những lợi ích đối với sức khỏe tim mạch, não bộ, hỗ trợ kiểm soát mỡ máu và duy trì sức khỏe tổng thể. Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí khoa học Nutrients còn phát hiện thêm công dụng tuyệt vời của omega-3 đối với bệnh tiểu đường.
Kháng insulin là dấu hiệu đặc trưng của bệnh tiểu đường, xảy ra khi insulin vận chuyển glucose từ máu vào tế bào không hoạt động hiệu quả.
Nhằm tìm hiểu tác động của dầu cá omega-3 đối với bệnh tiểu đường, các nhà nghiên cứu tại Đại học Cruzeiro do Sul (Brazil) đã tiến hành thử nghiệm trên chuột được gây ra tình trạng tiểu đường nhưng không béo phì. Các nhà nghiên cứu cho chuột sử dụng dầu cá với liều 2 gram/kg trọng lượng cơ thể, tương đương 540 mg/g EPA và 100 mg/g DHA, 3 lần mỗi tuần, trong 8 tuần.
Kết quả cho thấy dầu cá omega-3 có thể làm giảm tình trạng không dung nạp glucose và làm giảm tình trạng kháng insulin ở chuột tiểu đường không béo phì, mở ra một hướng tiếp cận mới trong việc kiểm soát bệnh, theo trang tin khoa học Science Daily.
Cụ thể, thử nghiệm trên chuột đã phát hiện chuột được bổ sung dầu cá đã giảm tình trạng kháng insulin, kiểm soát đường huyết tốt hơn, giảm các dấu hiệu viêm và giảm mức mỡ máu, bao gồm cholesterol toàn phần, cholesterol xấu và chất béo trung tính triglyceride.
Tiến sĩ Rui Curi, giáo sư về khoa học sức khỏe tại Đại học Cruzeiro do Sul, điều phối viên nghiên cứu cho biết: Nghiên cứu đã phát hiện rằng dầu cá giúp giảm tình trạng kháng insulin thông qua tác động điều chỉnh phản ứng viêm, chuyển các tế bào miễn dịch từ trạng thái tiền viêm sang trạng thái kháng viêm.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng ở chuột không béo phì bị kháng insulin, các tế bào bạch cầu trong hệ miễn dịch thường tạo ra nhiều cytokine tiền viêm hơn. Dầu cá giàu omega-3 đã đảo ngược tình trạng tiền viêm này và khiến chúng có khả năng kháng viêm.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng dầu cá giàu omega-3 giúp chuyển các tế bào miễn dịch từ trạng thái viêm sang trạng thái kháng viêm, từ đó cải thiện kiểm soát đường huyết và giảm kháng insulin.