Buổi sáng ở làng rau Trà Quế bắt đầu từ khi mặt trời còn chưa ló khỏi rặng dừa nước phía cửa sông Cổ Cò. Trong màn sương mỏng, những bóng người lom khom trên luống rau hiện ra như một nhịp sống đã tồn tại hàng trăm năm nay. Mùi rong từ đầm quyện cùng hương húng, hương quế tạo thành thứ hương vị rất riêng mà bất cứ ai từng ghé qua đều khó quên.
Giữa không gian ấy, từng đoàn khách nước ngoài đạp xe len qua những lối nhỏ, dừng lại xem nông dân tưới rau, bón đất rồi hào hứng xắn quần xuống ruộng tập cuốc luống, gánh nước. Có người cười vang khi đôi thùng tre chao đảo trên vai, có người ngồi hàng giờ chỉ để nghe nông dân kể chuyện về cách dùng rong sông Cổ Cò làm phân bón tự nhiên cho rau.
Ông Nguyễn Lợi, 64 tuổi, có hơn 40 năm gắn bó với nghề trồng rau ở làng Trà Quế, nói rằng trước đây cả làng chỉ quen “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, chưa từng nghĩ có ngày ruộng rau lại trở thành nơi đón khách quốc tế. “Ngày trước chỉ biết trồng rau bán chợ thôi. Mấy năm nay khách tới đông, họ không chỉ tham quan mà còn thích tự tay tưới rau, gánh nước. Thành ra nông dân tụi tui cũng phải học cách làm du lịch”, ông Lợi cười hiền.
Những câu tiếng Anh đơn giản được ông và nhiều nông dân khác học từ chính các cuộc trò chuyện với khách du lịch. Không qua trường lớp bài bản, vốn ngoại ngữ được góp nhặt mỗi ngày từ ruộng đồng, câu được câu mất nhưng lại tạo nên sự gần gũi rất riêng.
Trên những cánh đồng Thanh Tây vùng ven Hội An, có “đặc sản” du lịch khác cũng đang hút khách quốc tế: cưỡi trâu giữa đồng lúa. Giữa những thửa ruộng xanh mướt, hình ảnh du khách nước ngoài ngồi trên lưng trâu, thử cày ruộng hay tập cấy lúa đã trở nên quen thuộc. Những con trâu vốn chỉ gắn với nghề nông, giờ nhận lãnh thêm vai trò khác: đưa du khách “bước vào” đời sống nông nghiệp VN.
Ông Lê Nhiên, 60 tuổi, trước đây sống bằng nghề cày ruộng thuê. Khi cơ giới hóa khiến nghề cày dần biến mất, chính du lịch đã mở cho ông một sinh kế mới, để rồi ông trải qua hơn 20 năm làm dịch vụ du lịch trên lưng trâu. “Ngày trước con trâu chỉ để kéo cày, ai nghĩ có ngày nó lại làm du lịch. Nhiều khách nước ngoài chưa từng thấy con trâu ngoài đời nên khi được ngồi trên lưng trâu đi giữa cánh đồng, họ thích lắm”, ông Nhiên nói.
Ở tuổi 65, ông Nguyễn Năm cũng đã có nhiều năm dắt trâu phục vụ du khách. Ông nói trước kia cánh đồng chỉ là nơi lao động, còn giờ đây lại biến thành không gian văn hóa – du lịch. “Mỗi lần hướng dẫn khách cưỡi trâu hay cày lúa, chúng tôi được họ trả tiền. Nhờ du lịch mà nông dân có thêm thu nhập để sống được với đồng ruộng”, ông cho hay.
Điều đáng chú ý là cả Trà Quế lẫn các tour cưỡi trâu ở Thanh Tây đều không cố tạo ra những “sân khấu” nhân tạo. Người dân vẫn giữ nguyên nhịp sống thường nhật, chỉ mở cánh cửa làng quê để du khách bước vào trải nghiệm. Chính sự chân thật ấy lại trở thành điều khác biệt giữa thời điểm nhiều sản phẩm du lịch đang dần bị thương mại hóa.
Theo ông Bùi Văn Dũng, Chủ tịch UBND P.Hội An Tây, với mô hình du lịch cộng đồng ở Trà Quế, người dân không đánh đổi đất nông nghiệp. “Trong bối cảnh đất ven đô ngày càng có giá, việc người dân vẫn giữ ruộng rau, giữ nghề truyền thống là điều rất đáng trân trọng. Họ không chỉ sản xuất nông nghiệp mà còn biến chính nghề nông thành sản phẩm du lịch đặc sắc”, ông Dũng nói.
Theo ông Dũng, nhiều năm qua địa phương kiên trì định hướng phát triển du lịch xanh, du lịch trải nghiệm gắn với nông nghiệp hữu cơ và bảo tồn không gian làng quê truyền thống. Chính hướng đi này giúp đời sống người dân được cải thiện mà không phá vỡ cấu trúc văn hóa bản địa. “Người nông dân Trà Quế bây giờ không chỉ biết trồng rau mà còn biết quảng bá hình ảnh quê hương, giao tiếp với khách quốc tế và làm du lịch cộng đồng rất chuyên nghiệp. Họ thực sự là những “đại sứ du lịch” của địa phương”, ông Dũng nhấn mạnh.
Không chỉ mang lại thu nhập, du lịch còn góp phần thay đổi cách nhìn của nhiều gia đình về nghề nông. Ông Lê Tâm, một hộ trồng rau lâu năm ở Trà Quế, kể trước đây con cái thường muốn bỏ ruộng để đi làm công ty vì nghĩ nghề nông cực nhọc và ít có tương lai. Nhưng khi khách du lịch tìm tới ngày càng đông, các con bắt đầu thấy công việc của cha mẹ cũng có giá trị riêng.
Ở Thanh Tây, những người từng đứng trước nguy cơ bỏ nghề vì ruộng đồng cơ giới hóa nay lại sống được nhờ chính con trâu của mình. Theo ông Trần Văn Khoa, Giám đốc điều hành Công ty du lịch Jack Trần Tours Hội An, điều du khách quốc tế tìm kiếm không đơn thuần là một hoạt động giải trí mà là cơ hội tiếp cận văn hóa lúa nước VN theo cách chân thực nhất. “Chúng tôi không biến nông thôn thành công viên giải trí. Điều quan trọng là giữ nguyên bản sắc và đời sống thật của người dân, sau đó tạo thêm những trải nghiệm để kết nối du khách với văn hóa địa phương”, ông Khoa nói.
Theo ông Khoa, sự hấp dẫn của du lịch nông nghiệp nằm ở cảm giác “được sống như người bản địa”. Du khách được thực sự bước xuống ruộng, chạm vào bùn đất, trò chuyện với nông dân và cảm nhận nhịp sống làng quê bằng tất cả giác quan. Đó cũng là lý do nhiều du khách sau khi rời Hội An vẫn nhớ mãi những cuộc gặp gỡ rất đời thường ở Trà Quế hay Thanh Tây. Có người quay lại chỉ để gặp gia đình nông dân từng tiếp đón mình; có người vẫn giữ liên lạc, gửi thư và quà từ phương xa.
Những luống rau xanh, những con trâu trên đồng lúa hay hình ảnh người nông dân đội nón lá, nói tiếng Anh bập bẹ đang trở thành phần hồn đặc biệt của Hội An. Và có lẽ chính những điều bình dị ấy mới là thứ khiến du khách quốc tế cảm thấy họ đã thật sự “chạm” vào VN.
Ngày 23-6, trao đổi với Tuổi Trẻ Online, thượng tá Đào Xuân Trường - Trưởng Công an phường Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) - cho biết thông tin lan truyền trên mạng xã hội TikTok cho rằng nem nướng ở Khánh Hòa được chế biến từ thịt chuột là thông tin thất thiệt, giả mạo, cố ý bôi xấu.
Ông Trường nói công an đang khẩn trương xác minh tài khoản đăng tải và xử lý theo quy định.
Còn ông Trần Xuân Tây - Bí thư phường Nha Trang - khẳng định một số nền tảng mạng xã hội lan truyền thông tin không đúng sự thật về nguyên liệu làm nem nướng Khánh Hòa.
Theo ông, hiện đang cao điểm du lịch tại Nha Trang, vì vậy việc xuất hiện những thông tin sai lệch trên mạng xã hội có thể ảnh hưởng đến tâm lý của du khách và hoạt động kinh doanh của người dân.
Công an phường Nha Trang khuyến cáo người dân nâng cao cảnh giác, không chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng; hết sức thận trọng khi tiếp nhận và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội và nên theo dõi các nguồn tin chính thống để tránh tiếp tay cho tin giả, tin sai sự thật.
Việc đăng tải, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng không chỉ gây nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng mà còn có thể gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan.
Những trường hợp cá nhân, tổ chức đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, với mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng.
Nếu vi phạm nghiêm trọng hơn, người đăng tải có thể bị xử lý hình sự về tội "lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".
Chùa Kompong Chrây hay còn gọi là chùa Hang tọa lạc tại xã Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long hiện lên với kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer đặc trưng, trầm mặc và cổ kính. Du khách không khỏi trầm trồ bởi kiến trúc vô cùng độc đáo mà còn tận mắt ngắm nhìn những bức tượng được làm từ gỗ cây cổ thụ.
Tại Chùa Hang mùa này còn nghe được âm thanh rộn ràng của đàn chim trời trong khuôn viên. Nơi đây vốn được nhiều người biết đến là nơi lưu trú của rất nhiều loài chim, cò với số lượng có thời điểm lên đến hàng chục ngàn con.
Đặc biệt vào mùa cò trắng sinh sản (khoảng từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm), nơi đây như một bức tranh thiên nhiên sinh động làm mê hoặc du khách.
Theo Ban quản trị chùa Hang, sau khi xây dựng được vài năm (xây dựng năm 1637), chim trời tìm về nơi đây. Nhưng từ những năm 60 của thế kỷ trước, bom đạn chiến tranh khiến sân chùa vắng lặng, không tiếng chim.
Đến những năm 1990, chim cò mới lại kéo nhau về chùa Hang sinh sống. Từ vài chục con, rồi lên hàng trăm con, có thời điểm ước tính cả chục ngàn con.
Chùa rộng khoảng 7ha, có nhiều chủng loài thực vật đặc hữu như cây sao, dầu, tre, trúc, me... chen nhau thành nhiều tầng cao thấp khác nhau rất có giá trị về mặt sinh quyển. Nơi đây là mái nhà yên bình để chim trời làm tổ.
Vào mùa khô chim đi nơi khác kiếm ăn, số lượng ở lại chùa còn rất ít. Nhưng hễ mưa xuống, cây cối tốt tươi là đàn chim lũ lượt bay về. Chim trời tại đây chủ yếu là cò trắng, cò ngà, cồng cọc, vạc...lên đến hàng ngàn con.
Chim làm tổ mọi nơi, đậu trên các mái chùa, trên sân, trên cây...Những chú chim rất dạn người, đi lại trong khuôn viên chùa dù có người đến rất gần.
Các sư, phật tử ở đây cũng thường xuyên rải thức ăn cho chim. Nhà chùa đặt ra những quy định bảo vệ chim và bảo vệ cây rừng rất nghiêm ngặt, tạo ra môi trường tự nhiên an bình cho chim trời về trú ngụ.
Một số hình ảnh sống động của các loài chim được ghi nhận tại chùa Hang, tỉnh Vĩnh Long.
Con ruốc hay còn gọi là ruốc sông có kích thước nhỏ xíu như hạt cát, được tìm thấy nhiều ở khu vực ven sông nước lợ như Thái Bình cũ (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), Hải Phòng, Nam Định cũ (nay thuộc tỉnh Ninh Bình).
Trên những bãi triều nước lợ ven sông, khi nước rút xuống để lộ lớp bùn mềm mịn cũng là lúc người dân vào mùa đánh bắt ruốc sông. Đây vốn là loài giáp xác nhỏ bé nhưng được chế biến thành đặc sản nức tiếng của người dân ở một số địa phương.
Khác với tôm, tép hay những loại thủy sản quen thuộc, ruốc sông có kích thước rất nhỏ, thường có màu xanh đen hoặc nâu hồng, nâu sậm. Ruốc đậm màu là loại ruốc già, còn màu nâu hồng nhạt là ruốc non.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, anh Nguyễn Việt Quốc sống tại xã Tây Thụy Anh (tỉnh Hưng Yên) cho biết, nhiều khách phương xa lần đầu nhìn thấy ruốc sông bày bán ở chợ địa phương còn nhầm tưởng là cát hay đất lẫn trong nước.
"Nhìn từ xa giống như một nắm cát đen li ti. Loài này xuất hiện nhiều ở vùng cửa sông nước lợ. Người dân phải sử dụng các loại lưới rất mịn mới có thể đánh bắt được", anh Quốc chia sẻ.
Đó là dụng cụ hình phễu làm bằng vải mỏng, bền nhưng dễ thoát nước. Sau đó, người ta đóng cọc tre gỗ ở chỗ nước xa bờ rồi đặt dụng cụ. Con ruốc theo dòng nước trôi vào và mắc lại, được người dân vớt lên.
Tùy từng nơi, ruốc sông có màu hơi khác nhau, nhưng có mùi tanh nhẹ đặc trưng. Vào vụ, giá ruốc sông thường dao động từ 70.000 đồng tới 90.000 đồng/kg tùy từng nơi và thời điểm.
Tại xã Tây Thụy Anh, anh Quốc cho biết cách chế biến phổ biến nhất là rim cùng mít đực. Mít đực là hoa đực của cây mít có hình dáng thon dài, không đậu quả mà chỉ có nhiệm vụ thụ phấn.
Những hoa mít này được thái nhỏ rồi rim cùng con ruốc. Ngoài ra, người địa phương còn xào ruốc cùng lá lốt để giữ vị ngọt tự nhiên đặc trưng. Ruốc sông sau khi chế biến thành món ăn không còn mùi tanh. Khi chín, ruốc chuyển sang màu nâu hồng bắt mắt, giữ được độ ngậy, vị đậm đà.
"Món này rất bén cơm. Chỉ cần một đĩa ruốc rim là có thể ăn hết vài bát cơm", anh Quốc nói.
Trong khi đó ở Hải Phòng, người nội trợ biến tấu thành ruốc rang, ruốc kho, nhưng phổ biến nhất là ruốc sốt cà chua ăn kèm với rau sống.
Công đoạn sơ chế ruốc khá tốn thời gian, đòi hỏi sự kiên nhẫn. Người nấu bếp đổ ruốc vào khăn xô rồi thả xuống chậu nước, khuấy đều để loại bỏ chất bẩn rồi vớt lên.
Sau khi rửa 2-3 lần tới khi nước trong, ruốc mịn như hạt cát là được. Ruốc sông rim với cà chua, thêm vài lát gừng đập dập, chút khế chua hoặc me chua rồi nêm nếm rau thơm hành, mùi là có thể dùng bữa.
Không ít thực khách lần đầu nhìn thấy đều tỏ ra e dè vì hình dáng giống cát hoặc đất bùn. Tuy nhiên sau khi thưởng thức, nhiều người bất ngờ bởi hương vị thơm ngọt đặc trưng.
Đối với người dân sống gần cửa sông, ruốc sông không đơn thuần là một món ăn mà còn là ký ức gắn liền với tuổi thơ theo chân người lớn đi xúc ruốc.
Từ loài sinh vật bé nhỏ tưởng như hạt cát, nhiều thế hệ đã tạo nên những món ăn mang đậm hương vị quê nhà, trở thành nét riêng khó tìm thấy ở nơi khác.