Ngày 7/4, ông Nguyễn Đức Toàn, Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn (Gia Lai), cho biết sau gần 2 ngày tích cực tìm kiếm, lực lượng chức năng cùng nhân dân địa phương đã phát hiện thi thể em H.Đ.A.H., nam sinh lớp 12 bị sóng cuốn mất tích vào chiều 5/4.
Theo ông Toàn, thi thể em H. được tìm thấy lúc 4h25 cùng ngày, ngay khu vực nạn nhân gặp nạn. Chính quyền địa phương đang phối hợp, hỗ trợ gia đình đưa nạn nhân về quê để lo hậu sự.
Trong suốt gần 2 ngày qua, hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng chức năng cùng nhiều phương tiện và người dân địa phương đã tích cực tham gia tìm kiếm nạn nhân.
Trước đó, sáng 6/4, lãnh đạo UBND phường Quy Nhơn đã đến thăm hỏi, động viên em N.N.H., học sinh Trường THPT chuyên Hùng Vương (Gia Lai) – người may mắn được cứu sống trong vụ đuối nước khi tắm biển Quy Nhơn.
Như Dân trí đã thông tin, khoảng 17h ngày 5/4, nhóm học sinh lớp 12 Trường THPT chuyên Hùng Vương (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) đến phường Quy Nhơn thi đánh giá năng lực. Sau khi hoàn tất bài thi, nhóm học sinh đã rủ nhau đi tắm biển.
Trong lúc tắm biển, em H.Đ.A.H. và N.N.H. không may đuối nước, bị sóng lớn cuốn mất tích. Phát hiện sự việc, người dân địa phương đã kịp thời cứu được N.N.H. Riêng H.Đ.A.H bị sóng cuốn mất tích.
UBND phường Quy Nhơn khuyến cáo người dân và du khách khi tắm biển cần tuân thủ nghiêm các quy định an toàn; chỉ tắm tại khu vực được phép, theo dõi sát diễn biến thời tiết, chú ý các cảnh báo từ lực lượng chức năng để đảm bảo an toàn cho bản thân.

Đến đầu tháng 5, hầu hết cơ sở đào tạo ngành Y khoa đã công bố tổ hợp xét tuyển năm 2026. Ngoài trường Đại học Y Hà Nội, Y Dược TP HCM, Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Y Dược Cần Thơ chỉ xét điểm thi tốt nghiệp THPT theo khối B00 (Toán, Hóa, Sinh), các trường còn lại dùng 2-12 tổ hợp, cá biệt có trường dùng điểm môn Ngoại ngữ với 7 thứ tiếng.
Trong đó, 10 trường dùng tổ hợp chứa Văn, Sử, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tin học hay Công nghệ. Hai môn còn lại thường là Toán - Hóa, hoặc Toán - Sinh.
Sự xuất hiện của Văn không mới nhưng năm nay gây chú ý bởi thêm nhiều môn khoa học xã hội khác, ở nhiều trường hơn, tạo thành những tổ hợp lạ.
"Việc này khiến nhiều người nghi ngại trường đang cố vơ bèo vạt tép", PGS. TS Đỗ Văn Dũng, giảng viên cao cấp, Đại học Y Dược TP HCM, nhìn nhận.
Ông Dũng cho hay đầu vào ngành Y vốn không bắt buộc chọn Toán, Hóa, Sinh nhưng liên quan chương trình đào tạo. Việc tuyển chọn những em có điểm cao ở các môn này nhằm đảm bảo năng lực tiếp thu, sự kỷ luật cho quá trình đào tạo khắc nghiệt ở các trường Y trong 6 năm.
Theo ông, việc dùng nhiều tổ hợp "lạ" có thể gây lệch lạc trong tuyển sinh ngành Y, ảnh hưởng đến chất lượng và niềm tin của xã hội với đội ngũ bác sĩ tương lai.
Tuy nhiên, một số chuyên gia đánh giá việc mở rộng tổ hợp xét tuyển là tất yếu trong bối cảnh tuyển sinh đại học thay đổi.
Xu hướng mở rộng tổ hợp xét tuyển ngành Y khoa bắt đầu khoảng năm 2022 và nở rộ vào năm ngoái. TS Lê Hữu Lập, chuyên gia giáo dục đại học, cho biết một phần lý do đến từ kỳ thi tốt nghiệp THPT được đổi mới theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, thí sinh lựa chọn môn thi thay vì theo khối như trước.
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số lựa chọn thi môn Sinh năm ngoái là gần 72.700, chiếm khoảng 6,2% tổng thí sinh. Năm nay, tỷ lệ là hơn 5,7%. Vì vậy, các trường phải mở rộng tổ hợp để có thêm nguồn tuyển, không bỏ lỡ những thí sinh giỏi.
"Đây là bước đi tất yếu để thích nghi với các quy định mới của Bộ", ông Lập nói.
Ông cho rằng điều quan trọng là các trường xây dựng tổ hợp xét tuyển khoa học, tuân thủ chặt chẽ quy định pháp lý và định hướng nghề nghiệp. Nguyên tắc quan trọng nhất là tính tương thích giữa môn học và ngành đào tạo. Các tổ hợp phải có ít nhất 1-2 môn "xương sống". Ví dụ với nhóm ngành Y dược phải có Sinh hoặc Hóa.
Đồng tình, một bác sĩ ngoại khoa, cựu sinh viên trường Đại học Y Hà Nội, cho rằng nếu tổ hợp đảm bảo đánh giá được nền tảng khoa học tự nhiên của thí sinh với hai trong ba môn là Toán - Hóa - Sinh, các trường có thể thay đổi môn thứ ba để có thêm nguồn tuyển.
Đại học Đại Nam là một trong những trường mở rộng xét tuyển ngành Y khoa với 10 tổ hợp. Thạc sĩ Cao Thị Quỳnh, Trưởng phòng Tuyển sinh, nói nhà trường nhìn nhận việc này không đồng nghĩa nới lỏng tiêu chuẩn đầu vào.
Trường vẫn xác định nền tảng khoa học tự nhiên là yêu cầu cốt lõi. Vì vậy, các tổ hợp bảo đảm sự hiện diện của Toán - Hóa hoặc Toán - Sinh, điểm sàn đầu vào theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo bà Quỳnh, Ngữ văn hoặc Giáo dục kinh tế và pháp luật xuất hiện trong hai tổ hợp không thay thế vai trò nền tảng của các môn khoa học tự nhiên. Đây chỉ là thành tố bổ trợ trong đánh giá năng lực thí sinh theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông mới.
Hơn nữa, các môn này cũng rất cần thiết với những thầy thuốc tương lai, giúp họ có kỹ năng giao tiếp, dễ thấu cảm tâm tư của người bệnh.
"Chúng tôi không xây dựng tổ hợp xét tuyển theo hướng cơ học hoặc mở rộng bằng mọi giá", bà Quỳnh khẳng định.
Dù cho rằng xu hướng đa dạng tổ hợp là tất yếu, ông Lê Hữu Lập nhìn nhận các trường cần đảm bảo tính công bằng. Ông gợi ý nhân hệ số 2 cho môn chính, môn nền tảng của ngành học để khẳng định tầm quan trọng của nó, sàng lọc năng lực chuyên biệt.
Hiện, Bộ quy định điểm sàn đầu vào cho khối ngành Sức khỏe. Một chuyên gia từ khối trường Y Dược tại Hà Nội kiến nghị xác định mức chênh lệch điểm giữa các tổ hợp.
Ví dụ năm ngoái, điểm sàn B00 (Toán - Hóa - Sinh) là 20,5 thì mức với tổ hợp Toán - Sinh - Văn phải cao hơn do điểm trung bình Văn cao hơn Hóa gần 1 điểm.
Với nhiều năm quản lý đào tạo tại trường Đại học Y Hà Nội, GS. TS Nguyễn Hữu Tú, Hiệu trưởng, cho rằng tuyển sinh ngành Y cần đặc biệt lưu ý hai vấn đề.
Thứ nhất, Y học vốn là sự kết hợp giữa cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Tuy nhiên, để học tốt ngành Y, sinh viên phải có nền tảng khoa học tự nhiên tốt.
Thứ hai, kết quả đào tạo ngành Y không phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng đầu vào mà còn nhiều yếu tố khác như năng lực tự học, thái độ học tập, khả năng thích nghi của sinh viên, phương pháp, chất lượng đào tạo của nhà trường. Nhưng năng lực và chất lượng đầu vào là yếu tố đặc biệt quan trọng.
"Đó là lý do các nước phát triển như Australia, Mỹ, Pháp, Nhật rất coi trọng đầu vào ngành Y. Chỉ những thí sinh xuất sắc toàn diện mới có thể trúng tuyển", ông Tú nói.
PGS. TS Đỗ Văn Dũng cũng nhấn mạnh điều này. Ông cho rằng việc sử dụng đa dạng tổ hợp chỉ hợp lý nếu làm như cách xét tuyển ngành Y khoa của Mỹ. Cụ thể, thí sinh cần có bằng cử nhân, có thể từ ngành Triết, Sử, Văn học, Luật,... sau đó phải trải qua một kỳ thi chuẩn hóa là MCAT (Medical College Admission Test), kiểm tra kiến thức hóa sinh, tâm lý, tư duy.
Từng xét tuyển các tổ hợp tương tự từ năm ngoái, đại diện Đại học Đại Nam cho biết dữ liệu theo dõi bước đầu chưa cho thấy tín hiệu bất thường rõ rệt giữa các nhóm sinh viên. Song, trường xác định cần tiếp tục đánh giá dài hạn dựa trên kết quả, tiến độ học tập và năng lực đáp ứng yêu cầu của chương trình.
"Chúng tôi hiểu nếu chỉ chăm chăm tăng nguồn tuyển mà không gắn với kiểm soát chất lượng sẽ tạo ra rủi ro không chỉ cho trường mà còn cho niềm tin xã hội đối với đào tạo nhân lực y tế", bà Quỳnh nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Đặc biệt, Nghị định 179/2026/NĐ-CP về học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đã mở ra cơ hội thu hút nhiều học sinh giỏi vào các ngành nghề then chốt cho sự phát triển quốc gia.
Thực tế cho thấy, chính sách học bổng đã bắt đầu tạo ra tác động tích cực. Ngành sư phạm 2 năm gần đây có điểm chuẩn thuộc nhóm cao nhất cả nước. Số lượng người học lựa chọn các ngành STEM cũng tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên, học bổng và hỗ trợ tài chính chỉ giải quyết một phần bài toán đào tạo nhân lực chất lượng cao. Điều quyết định hơn là chất lượng đào tạo, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài.
Thực tế cho thấy nhiều sinh viên chọn ngành vì được hỗ trợ tài chính hơn là vì năng lực và đam mê. Không ít người bỏ học giữa chừng hoặc chuyển nghề sau tốt nghiệp do thu nhập và triển vọng phát triển chưa hấp dẫn. Điều đó cho thấy hỗ trợ tài chính cần thiết nhưng chưa đủ để giữ chân người giỏi.
Ngành sư phạm là ví dụ rõ nhất. Dù được miễn học phí nhiều năm, ngành này vẫn khó thu hút học sinh giỏi. Chỉ khi vị thế nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội phát triển của nhà giáo được cải thiện, sức hút mới tăng lên.
Khoa học cơ bản và công nghệ cao cũng đối mặt tình trạng tương tự. Nếu thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, hệ sinh thái nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ đủ mạnh để thu hút nhân tài, người học khó theo đuổi lâu dài. Thực tế cho thấy miền Trung là nơi có nhiều học sinh giỏi STEM nhờ truyền thống hiếu học và trường chuyên mạnh, nhưng tỷ lệ theo học STEM tại ĐH vẫn thấp vì cơ hội việc làm và thu nhập chưa hấp dẫn.
Một hạn chế khác là chính sách còn dàn trải, chú trọng mở rộng số lượng hỗ trợ hơn là đầu tư chiều sâu cho chất lượng đào tạo và hiệu quả đầu ra. Trong bối cảnh nguồn lực quốc gia có hạn, đầu tư thiếu trọng tâm sẽ khó tạo được đội ngũ nhân lực tinh hoa thực sự.
Vì vậy, học bổng cần gắn trực tiếp với chiến lược phát triển nhân lực quốc gia và nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Những lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng mới hay khoa học vật liệu cần được ưu tiên đầu tư dài hạn và đồng bộ.
Quan trọng hơn, hỗ trợ tài chính phải đi cùng nâng cao chất lượng đào tạo. Một sinh viên được miễn học phí nhưng học trong môi trường thiếu thực hành nghiên cứu, thiếu kết nối với doanh nghiệp thì khó trở thành nhân lực trình độ cao. Chính sách học bổng vì vậy không thể tách rời đầu tư cho ĐH nghiên cứu, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất.
Bên cạnh đó, cần gắn đào tạo với thị trường lao động. Doanh nghiệp phải tham gia xây dựng chương trình, cấp học bổng, hỗ trợ thực tập và tuyển dụng để người học nhìn thấy con đường nghề nghiệp, từ đó yên tâm theo đuổi các lĩnh vực khó như khoa học cơ bản, công nghệ.
Chiến lược phát triển nhân lực chất lượng cao cũng không thể bắt đầu muộn ở bậc ĐH. Nhiều quốc gia thành công về khoa học - công nghệ đều đầu tư mạnh cho giáo dục STEM từ phổ thông. VN cần phát hiện, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu và sáng tạo của học sinh từ THCS, THPT thông qua phòng thí nghiệm học đường, câu lạc bộ khoa học, học bổng và môi trường nghiên cứu trung thực.
Tin Gốc: Thanh Niên

GS. TS Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng - Viện Công nghệ cao Việt Nhật và giảng viên cao cấp tại khoa Kỹ thuật Môi trường, trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được trao giải Kovalevskaia năm 2025, hồi tháng 3.
Giải thưởng mang tên nhà toán học người Nga - Sophia Kovalevskaia, để vinh danh những nhà khoa học nữ có thành tựu xuất sắc của Việt Nam.
Tại Đại học Xây dựng Hà Nội, chị Nga giảng dạy môn Xử lý nước thải, Hóa nước - Hóa môi trường, Công nghệ xử lý nước thải bậc cao và Quản lý tổng hợp nguồn nước. Hướng nghiên cứu của chị tập trung vào phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải; quản lý nước và chất thải bền vững để đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
"Giải Kovalevskaia là giải thưởng mà tôi ao ước từ khi còn đi học. Tôi xúc động vì mình đã có vinh dự này sau gần 30 năm", chị Nga nói.
Chị Nga có bố là GS. TSKH Trần Hữu Uyển, chuyên gia khoa học hàng đầu ngành Kỹ thuật cấp thoát nước. Thừa hưởng tinh thần học tập, nghiên cứu từ gia đình, chị sớm đam mê khoa học, khát khao khám phá những kiến thức mới.
Năm 1991, cô nữ sinh chuyên Hóa trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội, khoa Kỹ thuật hạ tầng và cấp thoát nước. Khi ấy, lựa chọn của chị giản đơn - muốn tiếp bước cha trong lĩnh vực mà ông đã dành cả đời nghiên cứu.
Càng học, chị càng thấy mình phù hợp, nhờ tư duy logic về kỹ thuật, được rèn giũa từ môi trường khoa học trong gia đình. Nền tảng chuyên Hóa cũng giúp chị nắm bắt tốt các quá trình hóa sinh trong xử lý và kiểm soát ô nhiễm nước.
Bên cạnh đó, kỹ thuật cấp thoát nước vốn là tổng hòa liên ngành kỹ thuật-xã hội, liên quan con người và môi trường, đòi hỏi hiểu biết nhiều chiều và có hệ thống. Đây đều là những vấn đề thách thức mà chị quan tâm, thôi thúc chị tiếp tục học lên cao, theo con đường nghiên cứu, giảng dạy.
Năm 1996, chị Nga tốt nghiệp xuất sắc, sau đó nhận học bổng du học thạc sĩ tại Viện Kỹ thuật Châu Á (AIT), Thái Lan. Trước ngày lên đường, nhiều người "rào" rằng học sâu về ngành này rất nặng. Nhưng chị Nga không thấy áp lực mà còn học đầy say mê.
"Khó khăn là điều bình thường trong cuộc sống. Thậm chí, đó luôn là động lực, cảm hứng để tôi nỗ lực", chị Nga tâm niệm.
Ba năm sau, chị nhận học bổng tiến sĩ tại Đại học Tokyo - ngôi trường top 1 Nhật Bản, rồi làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Liên Hiệp Quốc (JSPS), lĩnh vực Môi trường và Phát triển bền vững.
Theo chị Nga, mỗi giai đoạn trên chặng đường học thuật đều có những khó khăn, đòi hỏi chị có giải pháp riêng. Thời đại học và cao học, khi mọi nhiệm vụ đều rõ ràng, chị luôn cố gắng mở rộng kiến thức đã học, hoàn thành tốt hơn yêu cầu để tự chinh phục tri thức mới.
Còn khi trở thành một nhà khoa học độc lập, cần tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chị "lăn lộn" để nhìn thấu đáo một bài toán. Khi đã ra được định hướng tốt nhất, "việc còn lại là tập trung và nỗ lực hết mình".
Để hoàn thành những nghiên cứu mà nhiều người gọi là "thành tựu", theo chị Nga, là hàng trăm, hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại. Hiểu rằng đó là điều tất yếu trong khoa học, khi nghiên cứu không đạt kỳ vọng ban đầu, chị quay lại "lục lọi", đánh giá phương pháp và thử từ đầu. Cứ như vậy, sau mỗi lần một thí nghiệm thành công là một lần chị được "thắp" thêm sự tự tin để đi tiếp.
Tới nay, chị đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp, trong đó làm chủ nhiệm hai đề tài cấp Nhà nước, 6 cấp bộ. Mỗi nghiên cứu đều là "đứa con khoa học" mà chị dành nhiều tâm huyết, tiêu biểu là công trình phát triển công nghệ màng lọc MBR và AnMBR trong xử lý nước thải.
Theo chị Nga, công nghệ này có hiệu quả cao và mở ra nhiều tiềm năng ngoài xử lý và loại bỏ ô nhiễm. Nó giúp tái sử dụng nước cho những mục đích phi ăn uống (như nông nghiệp), đồng thời cho phép thu hồi những vật chất có ích để tái tạo sản phẩm phục vụ cuộc sống, ví dụ khí sinh học từ nguồn thải.
Trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp, môi trường, chị Nga nhận định hành trình đưa kết quả từ phòng thí nghiệm tới thực tế là rất dài. Nó đòi hỏi nguồn lực lớn để triển khai trên quy mô rộng, cùng sự hợp lực từ các cơ quan nhà nước và ý thức doanh nghiệp để môi trường được đặt vào đúng vị thế quan trọng.
Vì vậy, giải thưởng Kovalevskaia không chỉ là sự ghi nhận cho một cá nhân, mà còn cho một lĩnh vực đời sống rất quan trọng. Đây cũng là động lực để chị tiếp tục nghiên cứu, cống hiến cho phát triển xanh, sạch và bền vững.
Chị Nga cho rằng chất lượng nước luôn là vấn đề quan trọng ở tất cả cấp độ phát triển của xã hội, nên những nghiên cứu về nó sẽ không bao giờ dừng lại. Nữ giảng viên dự định tiếp tục tìm hiểu ứng dụng công nghệ màng trong xử lý nước thải để giải quyết những bài toán ngoài khả năng của công nghệ truyền thống.
Nhìn lại hành trình, chị Nga tin rằng nỗ lực trau dồi kiến thức nền tảng, mở rộng tri thức, và học cách bắt nhịp với những xu hướng nghiên cứu của thế giới chính là chìa khóa cho các bạn trẻ dấn thân vào con đường học thuật lâu dài.
"Nghiên cứu là gian lao, nhưng rất thú vị. Nếu yêu thích, không gì là không thể vượt qua", chị Nga tâm niệm.
Chị cũng tin rằng, trong những nghiên cứu kỹ thuật liên quan tới đời sống, các nhà khoa học nữ có lợi thế ở khả năng thấu cảm, sự phối hợp hài hòa trong nhóm nghiên cứu và khả năng nhìn nhận thấu đáo. Dù phải gánh vác nhiều trách nhiệm, đó cũng là cơ hội quý để rèn luyện nỗ lực, sự kiên trì và khả năng tổ chức công việc hiệu quả.
"Khoa học rất bình đẳng. Có sự nỗ lực và tập trung sẽ giúp chúng ta thành công", chị nói.
Tin Gốc: Vnexpress

