Sáng ngày 28/6, CTCP Phân lân nung chảy Văn Điển (HoSE: VAF) đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 tại trụ sở công ty, đường Phan Trọng Tuệ, xã Đại Thanh, Tp.Hà Nội.
Doanh nghiệp hiện có 414 cổ đông, sở hữu tổng cộng 37,66 triệu cổ phần. Tại thời điểm khai mạc lúc 8h10p, đại hội có 14 cổ đông tham dự và được ủy quyền, đại diện cho hơn 36,3 triệu cổ phần, tương ứng 96,41% vốn điều lệ. Với tỷ lệ tham dự này, đại hội đủ điều kiện tiến hành theo quy định.
Tại đây, ông Phùng Ngọc Bộ – Chủ tịch HĐQT Phân lân Văn Điển đã trình bày báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2025 và kế hoạch năm 2026. Theo đó, HĐQT đã trình cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với mục tiêu doanh thu tiêu thụ 2.100 tỷ đồng, doanh thu thuần gần 1.980 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 233,07 tỷ đồng.
Theo báo cáo, năm 2025 Phân lân Văn Điển đạt doanh thu 1.760 tỷ đồng, vượt 35,8% kế hoạch và tăng 37% so với năm 2024. Lợi nhuận trước thuế đạt 213,17 tỷ đồng, tương đương 352,1% kế hoạch năm và tăng 140% so với năm trước.
Sản lượng phân bón tiêu thụ đạt 335.960 tấn, vượt 20% kế hoạch. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 9%, trong khi số nộp ngân sách Nhà nước tăng 50% so với kế hoạch. Theo đánh giá của doanh nghiệp, đây là năm đạt kết quả sản xuất kinh doanh cao nhất kể từ khi thành lập.
Trên cơ sở kết quả kinh doanh tích cực, ông Bộ trình cổ đông phương án chi trả cổ tức năm 2025 ở mức 20%, gồm 10% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu. Trong năm 2025, công ty chưa thực hiện tạm ứng cổ tức.
Để thực hiện phương án trả cổ tức bằng cổ phiếu, doanh nghiệp dự kiến phát hành thêm 3.766.534 cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, tương ứng tỷ lệ 10%.
Hiện vốn điều lệ của Phân lân Văn Điển là 376,65 tỷ đồng, tương ứng 37,67 triệu cổ phiếu đang lưu hành. Sau phát hành, vốn điều lệ dự kiến tăng lên 414,32 tỷ đồng với tổng số 41,43 triệu cổ phiếu.
Về cổ tức năm 2026, doanh nghiệp dự kiến trả tối thiểu 5% bằng tiền mặt. Phần lợi nhuận còn lại sau khi chia cổ tức tiền mặt và trích lập các quỹ sẽ được sử dụng để phát hành cổ phiếu trả cổ tức. Theo tính toán của công ty, nếu hoàn thành kế hoạch lợi nhuận, tỉ lệ cổ tức bằng cổ phiếu có thể đạt khoảng 15%.
Tại đại hội, Tổng Giám đốc Văn Hồng Sơn cho biết năm 2025 hoạt động sản xuất kinh doanh của Phân lân Văn Điển đối mặt với nhiều khó khăn khi thị trường nguyên, nhiên liệu đầu vào diễn biến phức tạp, trong đó nguồn quặng Apatit – nguyên liệu cốt lõi quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp – ngày càng khan hiếm.
Theo ông Sơn, không chỉ thiếu hụt về sản lượng, chất lượng quặng Apatit cũng suy giảm, gây áp lực lớn lên hoạt động của cả ba lò cao, qua đó ảnh hưởng đến khả năng cung ứng sản phẩm cho khách hàng. Để khắc phục tình trạng này, công ty đã chủ động tìm kiếm nguồn cung từ nước ngoài, nhập khẩu 25.000 tấn quặng Apatit từ Ai Cập và đưa vào sản xuất ổn định.
Đối với sản phẩm NPK, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ tại thị trường phía Bắc do phải cạnh tranh với nhiều dòng sản phẩm trong nước và nhập khẩu. Vì vậy, công ty đã điều chỉnh chiến lược, mở rộng tiêu thụ NPK vào thị trường miền Nam theo hình thức bán phân lân kết hợp với NPK.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
VRG: Khát vọng tăng trưởng hai con số kiến tạo không gian phát triển mới

Sau gần một thế kỷ hình thành và phát triển, ngành cao su Việt Nam không chỉ là một ngành kinh tế quan trọng mà còn gắn liền với lịch sử phát triển của nhiều vùng đất, nhiều địa phương trên cả nước. Trên nền tảng đó, VRG đã vươn mình trở thành tập đoàn kinh tế có quy mô lớn với vốn điều lệ 40.000 tỉ đồng, giá trị vốn hóa khoảng 168.800 tỉ đồng; đầu tư tại 115 công ty con và công ty liên kết hoạt động trong các lĩnh vực trồng và chế biến cao su, chế biến gỗ, phát triển khu công nghiệp, sản phẩm công nghiệp cao su, năng lượng tái tạo và nông nghiệp công nghệ cao.
Hiện nay, VRG quản lý hơn 377.800 ha cao su tại Việt Nam, Lào và Campuchia. Trong đó, khoảng 264.000 ha nằm trên lãnh thổ Việt Nam, trải dài từ Đông Nam bộ, Tây nguyên, Duyên hải miền Trung đến miền núi phía Bắc. Hơn 113.000 ha được phát triển tại Lào và Campuchia, chiếm gần 30% tổng diện tích vườn cây toàn Tập đoàn. Các dự án của VRG tại Lào và Campuchia không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần tăng cường hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với hai nước láng giềng, tạo việc làm, cải thiện đời sống người dân và giữ vững ổn định khu vực biên giới.
Các dự án cao su của VRG tạo việc làm ổn định cho hơn 80.000 lao động, trong đó có khoảng 20.000 lao động là đồng bào dân tộc thiểu số và 25.000 lao động tại Lào, Campuchia. Nhiều vùng đất khó khăn trước đây đã từng bước đổi thay nhờ sự hiện diện của các dự án cao su, từ hạ tầng giao thông, trường học, trạm y tế đến các hoạt động an sinh xã hội và phát triển cộng đồng.
Năm 2025 ghi nhận một năm tăng trưởng ấn tượng của VRG khi nhiều chỉ tiêu quan trọng vượt kế hoạch đề ra. Tổng doanh thu và thu nhập hợp nhất đạt 32.432 tỉ đồng, tăng gần 13% so với năm trước. Lợi nhuận trước thuế đạt 7.108 tỉ đồng, tăng gần 27%; lợi nhuận sau thuế đạt 5.999 tỉ đồng, tăng hơn 24%. Đặc biệt, nộp ngân sách nhà nước đạt 4.977 tỉ đồng, khẳng định vai trò và trách nhiệm của một doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đối với nền kinh tế.
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính tiếp tục duy trì ở mức tích cực với tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản 6,95% và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu 12,61%. Thu nhập bình quân của người lao động đạt trên 12 triệu đồng/người/tháng. Đây là những con số phản ánh năng lực quản trị, khả năng thích ứng với thị trường và hiệu quả sử dụng vốn của Tập đoàn trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động.
Đáng chú ý, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, VRG đã đạt doanh thu hợp nhất 12.522 tỉ đồng, tăng 45,5% so với cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế đạt 3.611 tỉ đồng, tăng 65,3%; lợi nhuận sau thuế đạt 3.063 tỉ đồng, tăng gần 60% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy đà tăng trưởng mạnh mẽ và triển vọng hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch năm 2026.
Nếu cao su là nền tảng truyền thống thì khu công nghiệp đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng chiến lược của VRG. Ông Lê Thanh Hưng - Tổng giám đốc VRG, cho biết: "Trong tổng thể chiến lược phát triển của tập đoàn, lĩnh vực đầu tư, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp được xác định là một trong những trụ cột trọng yếu, vừa góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa tạo động lực tăng trưởng mới, bền vững. Tập đoàn định hướng phát triển các khu công nghiệp theo mô hình hiện đại – xanh - thông minh - bền vững, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu".
Hiện nay, VRG đang quản lý và khai thác 14 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 4.200 ha, tập trung tại TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và Gia Lai. Các khu công nghiệp này đã thu hút hơn 820 nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra khoảng 260.000 việc làm cho người lao động. Không chỉ đóng vai trò là điểm đến của các dự án sản xuất công nghiệp, các khu công nghiệp của VRG còn góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ hiện đại, thúc đẩy phát triển đô thị và nâng cao đời sống người dân tại nhiều địa phương.
Bên cạnh 14 khu công nghiệp đang khai thác, VRG tiếp tục triển khai 5 khu công nghiệp mới. Dự kiến, tổng số khu công nghiệp của Tập đoàn sẽ tăng lên 19 với diện tích gần 6.300 ha. Cùng với quỹ đất khoảng 1.600 ha đất công nghiệp và 125 ha đất dịch vụ tại nhiều địa phương trọng điểm, đây sẽ là nền tảng để VRG mở rộng không gian phát triển và thu hút các dòng vốn đầu tư mới.
Bên cạnh khu công nghiệp, năng lượng tái tạo là lĩnh vực được VRG xác định là một trụ cột phát triển mới. Tập đoàn đang nghiên cứu, đề xuất đầu tư nhiều dự án điện mặt trời và thủy điện tại các địa phương như Lâm Đồng, Đà Nẵng; đồng thời triển khai các trang trại điện mặt trời cung cấp điện cho hệ thống khu công nghiệp theo cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA).
Việc phát triển năng lượng tái tạo không chỉ góp phần đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn giúp VRG hiện thực hóa cam kết giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe.
Năm 2026, tập đoàn được Bộ Tài chính giao các chỉ tiêu tổng doanh thu 33.799 tỉ đồng, tăng trưởng 5,60% so với thực hiện 2025. Lợi nhuận sau thuế 5.558 tỉ đồng, tăng tương ứng 5,54% so với thực hiện 2025. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản 6,62% và Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu 9,17%.
Trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, VRG không chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng về quy mô mà còn hướng tới xây dựng một tập đoàn kinh tế nhà nước hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực, đóng vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển xanh.
Một trong những điểm nhấn đáng chú ý trong chiến lược phát triển của VRG là việc đặt chuyển đổi số và ESG vào vị trí trung tâm. Tập đoàn đang triển khai hệ thống GIS để quản lý đất đai, vườn cây và hoạt động sản xuất theo thời gian thực; số hóa toàn bộ quy trình quản trị nội bộ; xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung phục vụ công tác điều hành và ra quyết định.
Song song đó, VRG xây dựng và triển khai bộ tiêu chuẩn ESG áp dụng thống nhất trong toàn Tập đoàn nhằm nâng cao tính minh bạch, tăng cường quản trị doanh nghiệp, bảo vệ môi trường và phát triển trách nhiệm xã hội. Đây là bước chuẩn bị quan trọng để Tập đoàn hội nhập sâu hơn với thị trường quốc tế, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của đối tác, khách hàng và nhà đầu tư toàn cầu.
Từ những cánh rừng cao su trải dài trên ba nước Đông Dương đến các khu công nghiệp hiện đại, từ nghiên cứu công nghệ sinh học đến năng lượng tái tạo, từ chuyển đổi số đến quản trị ESG, VRG đang từng bước kiến tạo một mô hình phát triển mới, nơi giá trị kinh tế gắn liền với trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và lợi ích quốc gia.
Với nền tảng tích lũy gần một thế kỷ, cùng khát vọng đổi mới, tư duy phát triển và quyết tâm hành động mạnh mẽ, VRG đang mở ra những không gian tăng trưởng mới, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước nhanh, xanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tuyến đường sắt đô thị Thủ Thiêm - Long Thành dài 47,7 km, trong đó đoạn thuộc địa bàn TP.HCM dài 11,5 km và đoạn thuộc TP.Đồng Nai là 36,2 km. Tuyến dự kiến bố trí khoảng 19 nhà ga (2 ga ngầm, 17 ga trên cao), kết nối trực tiếp trung tâm TP.HCM với siêu sân bay Long Thành.
Tổng mức đầu tư dự án theo ước tính ban đầu khoảng 3,4 tỉ USD, tốc độ thiết kế 120 km/giờ, dự kiến đưa hành khách từ Thủ Thiêm tới Long Thành chỉ trong khoảng 20 - 25 phút.
Phó chủ tịch UBND thành phố Bùi Xuân Cường đánh giá: Thời gian qua, các sở, ngành, đơn vị liên quan đã rất tích cực, nỗ lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao, cơ bản đáp ứng tiến độ theo kế hoạch đã đề ra.
Để đảm bảo kết nối giao thông trong bối cảnh sân bay mới sẽ đưa vào khai thác thương mại từ cuối năm nay, lãnh đạo thành phố yêu cầu các sở, ngành và đơn vị liên quan tiếp tục tập trung, huy động tối đa mọi nguồn lực, chủ động triển khai các công việc thuộc thẩm quyền; tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi (bao gồm thiết kế Tổng thể FEED), bảo đảm trình tự, thủ tục theo đúng quy định; bảo đảm đầy đủ điều kiện và tổ chức khởi công trước 2.7.
Để bảo đảm khai thác hiệu quả dự án, trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi, Phó chủ tịch Bùi Xuân Cường đề nghị Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Công ty CP Đầu tư Địa ốc Đại Quang Minh và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức phân kỳ đầu tư các nhà ga, bảo đảm tối ưu hóa hiệu suất vận hành và thời gian chạy, tăng cường khả năng tiếp cận các nơi.
Đồng thời, nghiên cứu, tổ chức lập Quy hoạch khu vực TOD quanh khu vực nhà ga (ga Thủ Thiêm, ga Bình Trưng, Depot Long Trường…) và phương án tuyến công trình, vị trí công trình trên tuyến để khai thác hiệu quả quỹ đất, công trình công cộng, góp phần giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, cũng như tăng nguồn thu cho ngân sách thành phố.
Các đơn vị cũng được giao tổ chức lấy ý kiến UBND TP.Đồng Nai để thống nhất các nội dung liên quan đến phương án tuyến công trình; số lượng, vị trí nhà ga; các tuyến giao thông kết nối nhà ga; các giải pháp tích hợp metro với các phương thức giao thông công cộng khác (xe buýt, bãi đỗ xe...); hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng cho dự án; khả năng kết nối với tuyến đường sắt kéo dài tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên đến Trung tâm hành chính tỉnh và Cảng hàng không quốc tế Long Thành (ga S17, ga Long Thành).
Bên cạnh đó, rà soát, nghiên cứu, xây dựng phương án công nghệ, danh mục quy chuẩn, tiêu chuẩn; lựa chọn phương tiện đầu máy toa xe, cấp điện, điện sức kéo, thông gió, thu phí tự động, giám sát điều khiển tích hợp (SCADA), thông tin tín hiệu…, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với tuyến đường sắt đô thị số 2, đoạn Bến Thành - Tham Lương và đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm.
Tin Gốc: Thanh Niên

Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Lâm Hiếu Dũng, Phó tổng biên tập Báo Thanh Niên, nêu thực trạng: trái đất nóng lên liên tục, thời tiết cực đoan, băng tan, nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học… cho thấy giới hạn của tự nhiên đang bị đẩy đến mức nguy hiểm. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải hành động, không chỉ là lời nói; đòi hỏi các giải pháp phải được triển khai không chỉ nằm trên giấy; đòi hỏi sự quyết liệt, không ngừng nghỉ, không nhượng bộ…
Dù vậy, có một thực tế không thể phủ nhận, quá trình chuyển đổi xanh dường như đang bị chậm lại. Đơn cử như giao thông, lĩnh vực phát thải lớn nhất, thì việc chuyển sang xe điện ở cả 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM đang lùi tiến độ. Việc chuyển nguồn sang năng lượng sạch vẫn gặp nhiều thách thức. Chúng ta mới chỉ có 1 hợp đồng mua bán điện trực tiếp đầu tiên sau hơn 1 năm cơ chế này được ban hành, điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN) cũng còn vướng trong khi nguy cơ thiếu điện và nhu cầu điện xanh rất lớn và cấp thiết. Tỷ lệ tín dụng xanh còn rất thấp so với nhu cầu, điều này cũng khiến các doanh nghiệp (DN) lực bất tòng tâm vì không thể vay vốn để đầu tư công nghệ máy móc cho công cuộc này…
Khẳng định "trễ trong chuyển đổi xanh, đồng nghĩa với nền kinh tế sẽ phát triển thiếu bền vững. Đó là điều không được phép", nhà báo Lâm Hiếu Dũng mong muốn các DN có mặt trong hội thảo thẳng thắn chia sẻ về những khó khăn thách thức trong quá trình chuyển đổi xanh của mình; những yếu tố đang gây cản ngại cũng như đưa ra các kiến nghị, giải pháp để đẩy nhanh công cuộc chuyển đổi xanh, phát triển bền vững của đất nước.
Là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực năng lượng tái tạo tại VN, ông Đặng Quốc Bảo, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Trung Nam, đánh giá đặt trong bối cảnh cung - cầu, đây là giai đoạn rất thuận lợi với ngành năng lượng tái tạo.
Cụ thể, đối với DN, khó nhất là tìm khách hàng nhưng hiện nay nhu cầu năng lượng tái tạo, năng lượng sạch từ các khách hàng dùng điện rất lớn. Các dự án năng lượng tái tạo sở hữu tài sản ổn định, nguồn doanh thu dài hạn, thị trường tiêu thụ sẵn có và cũng là loại tài sản được các tổ chức tín dụng đánh giá cao. Bên cạnh đó, ngân hàng luôn ưu tiên tài trợ cho những dự án có dòng tiền ổn định kéo dài từ 30 - 40 năm. Vì vậy, quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ môi trường mà còn là cơ hội kinh tế rất rõ ràng.
"Sau thời kỳ tăng trưởng nóng và những bài học kinh nghiệm, thị trường đang chuyển sang giai đoạn phát triển thận trọng hơn, với nền tảng chính sách ngày càng hoàn thiện và sự chuẩn bị tốt hơn từ phía DN. VN đang đứng trước cơ hội rất lớn để tiếp tục phát triển mạnh ngành năng lượng tái tạo. Dù trong quá trình đó vẫn có những chính sách ban hành chậm hoặc cần điều chỉnh, nhưng xu hướng phát triển là không thể đảo ngược", ông Đặng Quốc Bảo nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Ngọc Minh Đăng, Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn xây lắp tư vấn điện số 5 (PCC5), cũng đánh giá mảng đầu tư về năng lượng tái tạo là ngành nghề, lĩnh vực mang lại giá trị, hiệu quả cao về nhiều mặt. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất là chưa có giá mua bán điện. Quy trình đầu tư một dự án mua bán điện cũng phải qua rất nhiều khâu từ khảo sát lập quy hoạch, báo cáo... nên mất rất nhiều thời gian, đặc biệt là công tác quy hoạch và đền bù. Một điểm nữa là khó khăn trong truyền tải điện. Những khu vực có dự án điện tái tạo được quy hoạch thì hạ tầng yếu kém, trong khi những nơi có hạ tầng tốt lại không được quy hoạch. Điều này gây khó khăn cho công tác truyền tải điện của các DN đầu tư năng lượng tái tạo.
Riêng về đầu tư ĐMTMN ở TP.HCM, ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), thừa nhận phong trào ĐMTMN thời gian từ năm 2021 về trước phát triển rất mạnh nhờ cơ chế giá FIT, thời gian gần đây đã chậm lại. Nguyên nhân, thị trường đang vận hành theo Nghị định 58 - khuyến khích tự sản tự tiêu nên việc bán điện cho hàng xóm sẽ đối mặt với nhiều rủi ro về tính pháp lý chưa rõ ràng, an toàn điện như cháy nổ.
Mặc dù vậy, ông Bùi Trung Kiên vẫn nhấn mạnh ĐMTMN là hướng đi quan trọng, phù hợp với đặc thù phụ tải lớn. Dư địa phát triển ĐMTMN tại TP.HCM vẫn còn rất lớn, tập trung ở các khu vực có mật độ công trình cao, đặc biệt là các khu công nghiệp và khu chế xuất; tòa nhà cao tầng, khu dân cư mới…
Ông Bùi Quốc Hoan, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), nêu quan điểm: giải pháp căn cơ cho chuyển đổi xanh chính là phát triển các nguồn năng lượng sạch, đặc biệt là năng lượng tái tạo. Đây vừa là giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng, vừa góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải. Đối với EVNSPC, ĐMTMN tự sản xuất, tự tiêu thụ là một trong những giải pháp trọng tâm. Khu vực phía nam có lợi thế rất lớn với khoảng 2.000 - 2.600 giờ nắng mỗi năm, mức bức xạ mặt trời thuộc nhóm cao nhất cả nước. Nếu kết hợp hệ thống ĐMTMN với bộ lưu trữ có dung lượng phù hợp thì thời gian hoàn vốn bình quân chỉ khoảng 4 - 6 năm, ngay cả khi không có cơ chế hỗ trợ về giá.
Điều này cho thấy ĐMTMN mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp cho người dân và DN thông qua việc giảm chi phí mua điện từ lưới. Bên cạnh đó, DN còn đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn ESG, các yêu cầu về phát triển xanh của đối tác quốc tế và góp phần thực hiện các cam kết giảm phát thải.
Ông Bùi Quốc Hoan thông tin thêm: "Nhà nước hiện không còn áp dụng cơ chế giá cố định như giai đoạn 2017 - 2021. Thay vào đó, Bộ Công thương ban hành khung giá phát điện, trên cơ sở đó các chủ đầu tư và đơn vị mua điện tiến hành đàm phán giá. Cơ chế này hiện được áp dụng cho điện mặt trời, điện gió cũng như các dự án kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng. Đây là bước chuyển quan trọng trong việc phát triển thị trường điện theo hướng minh bạch và cạnh tranh hơn. EVNSPC cũng cam kết hỗ trợ tối đa để thúc đẩy phát triển ĐMTMN".
Dù thực tiễn còn khó khăn, vướng mắc, các DN vẫn đang nỗ lực để xanh hóa quy trình sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Thanyachat Auttanukune, Giám đốc phụ trách marketing và các ngành kinh doanh mới, Công ty CP Chăn nuôi C.P VN, việc đảm bảo an ninh lương thực là lý do chúng ta cần phải chuyển đổi xanh. Ước tính, đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng lên gần 10 tỉ người, khi đó lương thực cần tăng thêm 60% so với hiện tại. Trong khi sản xuất nông nghiệp đưa ra khoảng 25 - 30% khí thải nhà kính trong khi sử dụng 70% nguồn nước, khoảng 50% đất ở...
"Vì thế, nếu không thay đổi thì thế giới sẽ không thể chịu được. Chuyển đổi xanh là việc thay đổi nền tảng của sản xuất - là con đường hướng tới phát triển bền vững", ông Thanyachat Auttanukune nhấn mạnh.
Khắc sâu triết lý nhận được lợi ích từ môi trường thì phải chăm sóc, gìn giữ cho những thế hệ sau, mục tiêu chiến lược của C.P cũng phù hợp với chiến lược của VN là trở thành công ty Net Zero vào năm 2050. Để thực hiện điều đó, công ty thực hiện 3 vấn đề quan trọng: kinh tế tuần hoàn, có chuỗi giá trị từ thượng nguồn đến hạ nguồn và thứ ba là con người thông qua thay đổi phương pháp làm việc, ứng dụng công nghệ.
Ông Võ Chánh Ngữ, Giám đốc Ban chuyển đổi số, Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC), cũng khẳng định xanh giờ là "lá phiếu bắt buộc" nếu muốn có đơn hàng, muốn thâm nhập vào thị trường các nước phát triển. Tuy nhiên, hành trình chuyển đổi xanh của DN còn rất nhiều thách thức.
Cụ thể, ngành sản xuất phân bón vốn có lượng phát thải lớn. Nếu muốn chuyển đổi xanh triệt để như thu hồi CO2 hoàn toàn hay sản xuất hydro từ năng lượng tái tạo, công nghệ hiện tại đã có nhưng giá thành đang cao gấp 3 lần so với nhiên liệu hóa thạch. Trong khi hydro là một trong những nguồn nguyên liệu quan trọng sản xuất phân bón urê. Nếu muốn xanh, DN phải thu hồi phát thải nhưng phải thu hồi chi phí rất lớn. "Suy cho cùng, chuyển đổi xanh, năng lượng sạch, trả chi phí nhiều hơn thì cuối cùng đều đi vào giá thành sản phẩm. Như vậy, xuất khẩu sẽ giảm tính cạnh tranh", ông Ngữ băn khoăn.
Bên cạnh đó theo ông Ngữ, Chính phủ năm vừa qua đã đưa yêu cầu bắt buộc kiểm kê với các DN phát thải khí nhà kính lớn. Tuy nhiên, VN chưa xác định rõ ràng áp quota phát thải cho các DN như thế nào, bao nhiêu là phù hợp. Trong bối cảnh đó, phân bón Cà Mau tiếp cận theo hướng khả thi tại thời điểm hiện tại để tiết giảm tiêu hao. Đó là xây dựng nhà máy thông minh; thực hiện mô hình kinh tế tuần hoàn - CO2 phát thải dư thừa được thu gom sản xuất CO2 thực phẩm.
Sở hữu hệ thống nhà thuốc lớn nhất VN và hiểu rõ hơn hết những tác hại của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người, BSCKI Nguyễn Minh Trung, Bác sĩ trưởng Hệ thống nhà thuốc và tiêm chủng Long Châu, cho biết hệ thống nhà thuốc và tiêm chủng Long Châu nhận thức sâu sắc sứ mệnh chăm sóc sức khỏe cộng đồng phải gắn liền với trách nhiệm bảo vệ môi trường. Long Châu từng bước thực hành ESG theo các khung quản trị quốc tế về phát triển bền vững và thực hiện giám sát định kỳ; chuyển đổi sang sử dụng năng lượng điện tái tạo như điện mặt trời, áp dụng các giải pháp logistics xanh và cải thiện hiệu quả quản lý chất thải. DN cũng ưu tiên hợp tác đơn vị đối tác sử dụng nguyên vật liệu thân thiện với môi trường, nhất là gia tăng hợp tác với đối tác vận chuyển bằng xe điện, chiếm tỷ trọng cao nhất trong các đơn vị đối tác giao hàng… Đặc biệt, ứng dụng công nghệ, AI trong quản trị hệ thống, số hóa tối đa quy trình nội bộ và chăm sóc sức khỏe, nhằm góp phần giảm lượng tiêu thụ nhiên liệu và khí thải ra môi trường bên ngoài.
"Tôi tin rằng với nỗ lực chung của cộng đồng, những tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường có thể được đẩy lùi. Tôi kỳ vọng những nỗ lực hôm nay của các cơ quan, đơn vị, DN sẽ đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng tương lai xanh, vì một VN khỏe mạnh", ông Nguyễn Minh Trung nói.
TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, nhận định dù chuyển đổi xanh là xu thế bắt buộc và nhận được sự quan tâm lớn, tiến trình thực tế đang có dấu hiệu chững lại. Một trong những nút thắt lớn nhất là nguồn vốn. Chỉ tính riêng mảng giao thông, tính toán sơ bộ riêng cho địa bàn TP.HCM của Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường cho thấy, kinh phí để quy hoạch hạ tầng trạm điện phục vụ sạc công cộng đã ngốn ít nhất 7 tỉ USD. Nếu tính tổng thể toàn bộ các chi phí chi tiết phát sinh khác, con số này vượt mức 10 tỉ USD. Đây là nguyên nhân khiến các đề xuất chính sách khuyến khích thời gian qua như trợ giá 20 triệu đồng cho mỗi người dân đổi xe máy cũ sang xe điện đều bất khả thi khi đưa vào bài toán cân đối dòng tiền thực tế. Khi dòng vốn đầu tư công lẫn tư nhân chưa tìm được điểm kết nối, tiến trình chuyển đổi xanh buộc phải chững lại.
Các DN tại hội thảo cũng chia sẻ gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt tại giai đoạn bắt đầu.
Trước những băn khoăn về khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh của DN, ông Hà Huy Cường, Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank), cho biết Nam A Bank đã xây dựng danh mục để triển khai các sản phẩm tín dụng xanh dành cho DN. Năm 2025, Nam A Bank đã tổ chức hội nghị Tài chính xanh với sự tham gia của hơn 100 quỹ đầu tư và tổ chức tài chính quốc tế nhằm kết nối nguồn vốn với các DN có nhu cầu. Dự kiến vào tháng 8 tới, ngân hàng sẽ tiếp tục tổ chức hội nghị lần thứ hai tại TP.HCM để mở rộng cơ hội hợp tác và thu hút các dòng vốn xanh từ nước ngoài.
Theo ông Hà Huy Cường, các lĩnh vực tín dụng xanh mà Nam A Bank hiện đang ưu tiên cho vay là năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao, các công trình và chương trình được cấp chứng chỉ xanh uy tín như Lotus, EDGE, hoặc LEED cũng như cải tiến công nghệ, hỗ trợ các sản phẩm và công nghệ giúp cải tiến, nâng cao hiệu suất và năng suất. Đồng thời ngân hàng cũng cho vay tiêu dùng xanh, các sản phẩm gắn nhãn tiết kiệm từ 3 sao trở lên. Để hỗ trợ DN chuyển đổi xanh, Nam A Bank triển khai các gói tài trợ đi kèm với chính sách ưu đãi về lãi suất, giảm lãi suất từ 1 - 2% nhằm hỗ trợ DN trong quá trình chuyển đổi.
Ghi nhận ý kiến chung từ phía DN và các đánh giá tổng quan cho thấy thị trường vẫn còn những khó khăn, vướng mắc nhất định, nhưng xét ở góc độ triển khai thực hiện chính sách và hoạt động tín dụng, ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Khu vực 2, khẳng định tín dụng chuyển đổi xanh đang sở hữu nhiều điểm thuận lợi rất lớn.
Cụ thể, phát triển kinh tế xanh đã được Đảng, Chính phủ và Nhà nước định hướng là một động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, mọi cơ chế chính sách nói chung đều tập trung để thực hiện, phát huy vai trò động lực này. Riêng đối với ngành ngân hàng, công tác tổ chức triển khai đã được thực hiện quyết liệt ở góc độ khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng và tăng trưởng tín dụng xanh. Ngành đã ban hành các chương trình kế hoạch về tăng trưởng xanh, các chỉ thị thúc đẩy mở rộng tín dụng xanh, cũng như phát hành các thông tư quy định cụ thể hướng dẫn quản trị rủi ro môi trường, sổ tay hướng dẫn tín dụng...
Tin Gốc: Thanh Niên

