Sau nhiều kiến nghị về việc lưu thông của xe bán tải, mới đây Chính phủ vừa có quyết định chính thức liên quan đến vấn đề này. Theo đó, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 241/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 165/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường bộ và Điều 77 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Liên quan đến việc lưu thông của xe bán tải được xếp vào nhóm ô tô tải pickup, tại điều 11, Nghị định 241/2026/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 24 (Nghị định 165/2024/NĐ-CP) nêu rõ: “Xe ô tô tải Pickup cabin kép và xe ô tô tải Van có khối lượng toàn bộ không lớn hơn 3.500 kg được tổ chức giao thông như đối với xe ô tô con”.
Điều này đồng nghĩa với việc, bắt đầu từ ngày 1.7.2026 (thời điểm Nghị định 241/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực) các xe ô tô tải pickup cabin kép (thường được gọi chung là xe bán tải) có khối lượng toàn bộ nhỏ hơn 3,5 tấn sẽ được xem như ô tô con khi tham gia giao thông. Qua đó, không còn bị hạn chế lưu thông như xe tải thông dụng.
Trước đó, ô tô pickup cabin đơn hoặc cabin kép được chia thành 2 loại, gồm: “Ô tô con Pickup (thuộc loại ô tô chở người đến 8 chỗ ngồi không kể chỗ của người lái xe) và “ô tô tải Pickup (thuộc loại ô tô tải thông dụng). Điều này đồng nghĩa với việc, một số mẫu xe bán tải phổ biến tại Việt Nam bị xếp vào nhóm “ô tô tải Pickup” theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường thì sẽ bị hạn chế lưu thông theo từng tuyến đường, khung giờ tại các đô thị lớn.
Do đó, điều này từng tạo ra khá nhiều tranh cãi nhất là trong cộng đồng người dùng xe bán tải tại Việt Nam, bởi quy định này chẳng khác nào “vòng kim cô” khóa chặt những lợi thế vốn có của dòng xe bán tải vốn được cho là “đi phố cũng sang chở hàng cũng tiện”. Một số nhà sản xuất, phân phối xe bán tải cũng như Cục Đăng kiểm Việt Nam ngay sau đó cũng đã có những kiến nghị, đề xuất xem xét lại quy định này.
Tuy nhiên, với việc Nghị định số 241/2026/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1.7.2026, “nút thắt” trong việc lưu thông của xe bán tải đã được tháo gỡ. Một số phiên bản, mẫu mã xe bán tải như Ford Ranger, Toyota Hilux, Mitsubishi Triton, Nissan Navara… dù vẫn xếp vào loại xe ô tô tải Pickup cabin kép song vẫn sẽ được lưu thông như ô tô con. Điều này sẽ phần nào tác động đến tâm lý của khách hàng, thúc đẩy nhu cầu mua sắm, sử dụng xe bán tải tại Việt Nam.
Theo số liệu bán hàng từ Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), sau 5 tháng đầu năm 2026, tổng doanh số bán xe bán tải tại Việt Nam đạt 10.786 xe, tăng 1.488 xe, tương đương gần 13,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong bối cảnh giá nhiên liệu vẫn neo ở mức cao, chi phí sử dụng ô tô tiếp tục là vấn đề được nhiều người dùng quan tâm. Thời gian gần đây, Mitsubishi Motors liên tục triển khai các chương trình ưu đãi dưới hình thức tặng phiếu nhiên liệu nhằm hỗ trợ khách hàng.
Bước sang tháng 5-2026, hãng tiếp tục duy trì chính sách này với giá trị ưu đãi tăng lên đáng kể, đặc biệt là Mitsubishi Xpander được hỗ trợ tới 85 triệu đồng.
Cụ thể, Xpander phiên bản AT được tặng phiếu nhiên liệu trị giá 85 triệu đồng, trong khi các phiên bản AT Premium và Xpander Cross nhận mức hỗ trợ 80 triệu đồng. Riêng phiên bản MT có giá trị ưu đãi 67 triệu đồng. Toàn bộ xe áp dụng chương trình đều có năm sản xuất 2026.
Nếu quy đổi theo giá xăng RON 95 hiện ở mức hơn 24.300 đồng/lít, khoản hỗ trợ 85 triệu đồng tương đương khoảng 3.497 lít nhiên liệu.
Với mức tiêu hao nhiên liệu hỗn hợp công bố khoảng 7,1 lít/100km trên Xpander AT, lượng xăng này đủ để xe vận hành hơn 49.000km. Đồng nghĩa, nếu sử dụng trung bình khoảng 65km mỗi ngày, người dùng có thể gần như không phải chi tiền đổ xăng trong hơn 2 năm.
Mitsubishi Xforce - mẫu SUV vừa được nâng cấp tại Việt Nam cũng được áp dụng chương trình phiếu nhiên liệu nhưng giá trị thấp hơn Xpander. Theo đó, các phiên bản GLX, Luxury và Ultimate lần lượt nhận hỗ trợ 45 triệu đồng, 47 triệu đồng và 55 triệu đồng.
Với dòng bán tải Mitsubishi Triton, hãng hỗ trợ phiếu nhiên liệu lên tới 76 triệu đồng dành cho phiên bản Triton 4WD AT Athlete cao cấp nhất sản xuất năm 2025. Đối với xe VIN 2026, mức ưu đãi giảm còn 56 triệu đồng. Các phiên bản thấp hơn được áp dụng hỗ trợ trong khoảng 46-56 triệu đồng.
Trong khi đó, mẫu sedan Mitsubishi Attrage phiên bản MT được tặng phiếu nhiên liệu trị giá 46 triệu đồng kèm camera lùi, còn bản CVT Premium nhận mức hỗ trợ 43,5 triệu đồng cùng ăng ten vây cá.
Riêng Mitsubishi Destinator được áp dụng chính sách khác biệt khi cả hai phiên bản đều nhận gói hỗ trợ tài chính trị giá 35 triệu đồng, khấu trừ trực tiếp vào giá bán.
Về kết quả kinh doanh tháng trước, Xpander tiếp tục là mẫu xe bán chạy nhất của Mitsubishi với doanh số 1.273 xe. Xếp ngay sau là Xforce với 1.250 xe bàn giao, dù mẫu xe này từng gặp tình trạng khan hàng trong giai đoạn chuyển đổi sang phiên bản nâng cấp 2026. Trên bản mới, Xforce được bổ sung ghế lái chỉnh điện, camera 360 độ ở phiên bản cao cấp, trong khi bản tiêu chuẩn có thêm đèn LED và cảm biến lùi.
Với doanh số trên, Xpander và Xforce lần lượt đứng ở vị trí thứ 3 và thứ 4 trong danh sách ô tô động cơ đốt trong bán chạy nhất thị trường tháng 4-2026. Nhờ đó, Mitsubishi tiếp tục giữ vị trí thứ hai về thị phần xe động cơ đốt trong trong khối VAMA, xếp trên Ford và chỉ đứng sau Toyota.
Một chiếc Mazda CX-50 đã xuất hiện tại một trung tâm thử nghiệm khí thải ở Hà Nội. Đây được xem là lần đầu tiên mẫu SUV này bị bắt gặp tại Việt Nam sau gần 5 năm kể từ khi ra mắt toàn cầu.
Trước đó, CX-50 là một trong những mẫu xe được nhiều khách hàng trong nước mong đợi sẽ được phân phối chính hãng.
Hiện THACO Auto chưa công bố bất kỳ thông tin nào liên quan đến Mazda CX-50. Vì vậy, chưa thể xác định chiếc xe xuất hiện tại Hà Nội được đưa về để chuẩn bị phân phối chính hãng hay chỉ phục vụ nhu cầu sử dụng của cơ quan ngoại giao tại Việt Nam.
Khi ra mắt, Mazda CX-50 được xem là bước thử nghiệm của hãng xe Nhật trong việc phát triển một mẫu SUV cỡ trung có khả năng vận hành off-road nhưng vẫn duy trì sự tiện nghi và cảm giác lái phù hợp cho nhu cầu sử dụng hằng ngày.
Điều này thể hiện qua thiết kế vòm bánh xe ốp nhựa đen cỡ lớn, nổi bật hơn đáng kể so với CX-5 nhằm tăng khả năng thích nghi với điều kiện đường đất đá.
So với CX-5, Mazda CX-50 sở hữu một số lợi thế về khả năng vận hành khi được trang bị tiêu chuẩn hệ dẫn động bốn bánh toàn thời gian i-Activ AWD cùng hệ thống lựa chọn chế độ lái thông minh Mazda Intelligent Drive Select.
Xét về định hướng sản phẩm, mẫu xe này được xem là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Subaru Forester.
CX-50 được thiết kế chạy địa hình tốt hơn CX-5 - Ảnh: Mazda
Theo nghiên cứu của Mazda, phần lớn các chuyến đi off-road của khách hàng hiện nay vẫn bao gồm hàng trăm dặm di chuyển trên đường nhựa và chỉ khoảng 10 - 20 dặm (16 - 32km) vận hành trên địa hình khó.
Vì vậy hãng xe Nhật không lựa chọn đánh đổi khả năng vận hành thường ngày để ưu tiên hoàn toàn cho yếu tố đa địa hình.
Thay vào đó, CX-50 được phát triển theo hướng cân bằng giữa trải nghiệm lái trên đường trường và khả năng chinh phục các cung đường off-road.
Về thiết kế, Mazda CX-50 mang phong cách vuông vức và khỏe khoắn hơn CX-5. Tuy nhiên, nhiều chi tiết đặc trưng của ngôn ngữ thiết kế Mazda vẫn được duy trì như lưới tản nhiệt và cụm đèn LED trước/sau.
So với CX-5 đang phân phối tại Việt Nam, CX-50 dài hơn khoảng 15cm và có chiều dài cơ sở lớn hơn gần 12cm, tạo dáng vẻ bề thế và trường xe hơn dù cùng thuộc phân khúc SUV cỡ C.
Khoang nội thất của Mazda CX-50 có nhiều điểm tương đồng với CX-30 và Mazda3 thế hệ hiện hành do sử dụng chung nền tảng khung gầm. Khác biệt chủ yếu nằm ở cách bố trí cửa gió điều hòa.
Xe được trang bị màn hình giải trí trung tâm 10,25 inch dạng nổi, hỗ trợ Apple CarPlay và Android Auto.
Cụm điều khiển điều hòa vẫn sử dụng các phím bấm vật lý đặt phía dưới màn hình, thay vì tích hợp hoàn toàn lên màn hình như thế hệ CX-5 mới. Thiết kế khu vực bệ trung tâm gần như được giữ nguyên từ CX-30 và Mazda3.
Trên thị trường quốc tế, Mazda CX-50 được cung cấp hai tùy chọn động cơ xăng 2.5L gồm phiên bản hút khí tự nhiên và tăng áp.
Hiện nay các cửa hàng đang bán xăng E10 với hai loại có tên gọi E10 RON 95-III và E10 RON 95-V. Nhiều người dùng cho biết không hiểu rõ hai loại này khác nhau thế nào, ảnh hưởng gì tới chất lượng hay không.
Theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 01:2022/BKHCN, xăng E10 là hỗn hợp của xăng không chì và ethanol nhiên liệu, có hàm lượng ethanol 9-10% theo thể tích. RON95 là chỉ số octan (trị số kích nổ) bằng 95, phù hợp cho các dòng xe có tỷ số nén cao, giúp động cơ hoạt động tối ưu, tránh hiện tượng kích nổ sớm. Ký tự III và V là ký hiệu phân hạng mức tiêu chuẩn chất lượng, tương ứng với tiêu chuẩn khí thải Euro 3 và Euro 5.
Điểm khác biệt cốt lõi giữa mức III (Euro 3) và mức V (Euro 5) không nằm ở hiệu suất vận hành tức thời, mà nằm ở độ "sạch" của nhiên liệu, cụ thể là giới hạn về các tạp chất có hại như lưu huỳnh, benzen và các hợp chất hydrocarbon thơm.
Dưới đây là bảng so sánh các chỉ số kỹ thuật quan trọng theo quy chuẩn QCVN 01:2022/BKHCN:
Thông số trên cho thấy xăng mức V đỡ ô nhiễm hơn đáng kể so với xăng mức III. Cụ thể, khi giảm hàm lượng lưu huỳnh 15 lần, sẽ giúp bảo vệ bộ lọc khí thải, giảm tối đa sự ăn mòn động cơ và hạn chế mưa axit. Trong khi đó giảm hàm lượng benzen 2,5 lần từ mức III tới mức V sẽ giảm nguy cơ ung thư nếu con người hít vào. Giảm Hydrocarbon thơm sẽ giảm nguy cơ tạo muội than trong buồng đốt. Cuối cùng, giảm olefin sẽ giảm nguy cơ kẹt van và hình thành cặn nhựa trong hệ thống nhiên liệu.
Bởi sự khác biệt trong công nghệ lọc dầu, mức độ tinh khiết và chi phí bảo quản, hạ tầng logistics, xăng mức V có giá cao hơn mức III khoảng gần 1.000 đồng/lít. Ví dụ hiện giá E10 RON 95-III tại vùng 1 là 23.660 đồng/lít, trong khi E10 RON 95-V là 24.560 đồng/lít. Nếu xe máy có bình xăng 5 lít, chi phí chênh lệch đổ đầy bình là 5.000 đồng, trong khi với ôtô có bình xăng khoảng 50 lít, chênh lệch là 50.000 đồng.
Về phương tiện, hiện không có quy định loại xe nào phải sử dụng loại xăng nào mà phụ thuộc vào mong muốn của người dùng cũng như thực tế cung ứng tại từng cửa hàng. Ví dụ có nơi các vòi bơm cho xe máy sử dụng xăng chuẩn III, trong khi vòi bơm cho ôtô sẽ chuẩn V. Phản hồi trên các cộng đồng sử dụng xe, nhiều người cho biết người lái không thể cảm nhận được sự khác biệt giữa các loại xăng khi sử dụng.