“Trên cơ sở những kết quả đạt được, chúng tôi tin tưởng Vietnam Airlines sẽ tiếp tục vượt qua khó khăn và phát triển bền vững trong thời gian tới. ANA cam kết tiếp tục đồng hành với vai trò cổ đông chiến lược, đồng thời khai thác tối đa quan hệ hợp tác giữa hai bên để thúc đẩy hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng dài hạn”, ông Katayama Tōru, Giám đốc cấp cao phụ trách Liên minh và Quan hệ quốc tế ANA Holdings – cổ đông chiến lược của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines, mã chứng khoán HVN), cho biết tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 được tổ chức ngày 28.6 vừa qua.
Theo ông Katayama Tōru, trong gần một thập kỷ đồng hành cùng Vietnam Airlines, ANA không chỉ chứng kiến mà còn trực tiếp tham gia hỗ trợ quá trình chuyển đổi và phát triển của hãng, đặc biệt trong giai đoạn phải đối mặt với những thách thức mang tính toàn cầu như đại dịch Covid-19, giá nhiên liệu tăng cao, đứt gãy chuỗi cung ứng và tình trạng thiếu hụt tàu bay.
Trong bối cảnh đó, ban lãnh đạo Vietnam Airlines đã thể hiện năng lực điều hành linh hoạt, khả năng thích ứng nhanh và đưa ra những quyết định kịp thời, góp phần quan trọng vào quá trình phục hồi hoạt động.
Đại diện ANA đánh giá, các giải pháp tái cơ cấu, tối ưu hóa khai thác và nâng cao hiệu quả vận hành đã giúp Vietnam Airlines cải thiện rõ rệt kết quả sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ kịp thời của Chính phủ Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi của hãng.
ANA Holdings chính thức trở thành cổ đông chiến lược của Vietnam Airlines từ tháng 7.2016 sau khi hoàn tất khoản đầu tư trị giá 2.431 tỉ đồng (tương đương khoảng 108 triệu USD), qua đó sở hữu 8,771% vốn điều lệ của Hãng hàng không quốc gia.
Kể từ đó, quan hệ hợp tác giữa hai bên không chỉ dừng ở vai trò cổ đông chiến lược mà đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực như khai thác thương mại, phát triển mạng đường bay, vận tải hàng hóa, bảo dưỡng kỹ thuật, đào tạo nhân lực, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Thông qua việc cử đại diện tham gia Hội đồng quản trị, ANA có điều kiện đồng hành sát sao cùng Vietnam Airlines trong nhiều dấu mốc quan trọng như tái cơ cấu sau cổ phần hóa, hiện đại hóa đội tàu bay Airbus A350 và Boeing 787, vượt qua giai đoạn khó khăn của đại dịch Covid-19, phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh và tái cơ cấu tài chính.
Theo ông Đặng Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietnam Airlines, sau gần một thập kỷ hợp tác, quan hệ giữa Vietnam Airlines và ANA đã trở thành một trong những mô hình hợp tác chiến lược toàn diện và bền vững nhất giữa một hãng hàng không Việt Nam với một hãng hàng không quốc tế. Không chỉ mang lại hiệu quả thương mại, sự đồng hành của ANA còn góp phần nâng cao năng lực quản trị, chất lượng dịch vụ và vị thế cạnh tranh của Vietnam Airlines trên thị trường khu vực.
Đối với một tập đoàn hàng không nổi tiếng thận trọng như ANA Holdings, việc tiếp tục cam kết đồng hành cùng Vietnam Airlines sau gần một thập kỷ không đơn thuần là một quyết định đầu tư, mà còn phản ánh sự ghi nhận đối với quá trình tái cơ cấu và nền tảng quản trị mà Hãng hàng không quốc gia đã xây dựng. Đây cũng là cơ sở để hai bên kỳ vọng vào một chu kỳ tăng trưởng mới trong những năm tới.
Niềm tin của ANA không chỉ được xây dựng từ chặng đường gần một thập kỷ đồng hành, mà còn được củng cố bởi những kết quả phục hồi và tái cơ cấu mà Vietnam Airlines đạt được trong hai năm gần đây.
Đây cũng là cơ sở để cổ đông chiến lược nước ngoài lớn nhất của Vietnam Airlines tin tưởng Hãng hàng không quốc gia đã hội tụ đủ nền tảng tài chính, năng lực quản trị và nguồn lực để bước vào chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026 – 2030.
Những kết quả sản xuất, kinh doanh tích cực trong giai đoạn hậu Covid-19, đặc biệt trong hai năm 2024 – 2025, cùng việc cơ bản hoàn thành Đề án cơ cấu lại Tổng công ty giai đoạn 2021 – 2025 đã giúp Vietnam Airlines khôi phục nền tảng tài chính và chấm dứt tình trạng âm vốn chủ sở hữu.
Đến ngày 31.12.2025, vốn chủ sở hữu công ty mẹ đạt 8.877 tỉ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu hợp nhất đạt 6.817 tỉ đồng. Cùng với đó, Vietnam Airlines duy trì hoạt động kinh doanh có lãi trong hai năm liên tiếp, với lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 2.775 tỉ đồng năm 2024 và 5.509 tỉ đồng năm 2025; lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt lần lượt 7.957 tỉ đồng và 7.714 tỉ đồng.
Ở lĩnh vực tài chính, Vietnam Airlines đã hoàn thành hai đợt tăng vốn với tổng giá trị 16.932 tỉ đồng, đồng thời cơ cấu lại nhiều khoản vay trong và ngoài nước, tiếp tục triển khai lộ trình thoái vốn tại một số doanh nghiệp thành viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Không chỉ cải thiện năng lực tài chính, Vietnam Airlines còn triển khai đồng bộ nhiều nội dung tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Mạng bay đã phục hồi hoàn toàn so với trước đại dịch, đồng thời tiếp tục mở rộng tới nhiều thị trường quốc tế như Đức, Ý, Đan Mạch, Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc và Hàn Quốc. Hãng cũng đẩy mạnh xây dựng hệ sinh thái dịch vụ hàng không gắn với Cảng hàng không quốc tế Long Thành thông qua các dự án logistics, ga hàng hóa, kho hàng, dịch vụ kỹ thuật, suất ăn, phục vụ mặt đất và cung cấp nhiên liệu.
Tuy nhiên, với ANA, giá trị lớn nhất không nằm ở việc Vietnam Airlines đã có lãi trở lại, mà ở việc Hãng đã xây dựng được một hệ thống quản trị đủ khả năng chống chịu trước những cú sốc như đại dịch Covid-19 hay những biến động của thị trường năng lượng toàn cầu.
Nhờ triển khai quyết liệt chương trình tái cơ cấu toàn diện, Vietnam Airlines đã xây dựng được bộ máy tinh gọn hơn, tối ưu quy trình sản xuất, kinh doanh và nâng cao hiệu quả quản trị. Đồng thời, Hãng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ phi công, kỹ sư, tiếp viên và cán bộ quản lý kế cận nhằm đáp ứng chiến lược tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Nếu giai đoạn 2021 – 2025 là hành trình vượt qua khủng hoảng và tái thiết nền tảng tài chính, thì giai đoạn 2026 – 2030 sẽ đánh dấu bước chuyển từ phục hồi sang tăng trưởng. Với nền tảng tài chính được củng cố, năng lực quản trị từng bước tiệm cận chuẩn mực quốc tế cùng chiến lược đầu tư đội tàu bay, hạ tầng và chuyển đổi số, Vietnam Airlines đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để bước vào chu kỳ phát triển mới.
“Với sự đồng hành của các cổ đông, đặc biệt là cổ đông chiến lược ANA Holdings, Vietnam Airlines đã sẵn sàng bước vào chu kỳ phát triển mới giai đoạn 2026-2030, hướng tới mục tiêu trở thành hãng hàng không truyền thống 5 sao lớn thứ hai Đông Nam Á vào năm 2030”, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietnam Airlines Đặng Ngọc Hòa khẳng định.
Ông Andrew Vo tốt nghiệp Cử nhân ngành Tài chính tại Đại học Simon Fraser (Canada) và có hơn 25 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và đầu tư tại Việt Nam cũng như quốc tế. Ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quản lý cấp cao tại các tổ chức tài chính và doanh nghiệp quốc tế như: Giám đốc Cấp cao Công ty CP Quản lý Quỹ VinaWealth; Phó Tổng Giám đốc Honeywell - VCT; Tổng Giám đốc NextView tại Việt Nam; Cố vấn cấp cao tại các Ngân hàng HSBC Canada, TD Canada Trust…
Gia nhập SeABank từ năm 2015, ông Andrew Vo đã đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng như Giám đốc Khối Đầu tư, Trưởng Văn phòng Đại diện Hồ Chí Minh, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc Đối ngoại và Phát triển dự án.
Từ năm 2020 SeABank đã triển khai nhiều dự án hợp tác quốc tế với các tổ chức tài chính hàng đầu thế giới nhằm phục vụ các lĩnh vực ưu tiên gồm tài chính xanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và tài chính toàn diện. Đến hiện tại, Ngân hàng đã huy động thành công hơn 1,1 tỷ USD từ các tổ chức tài chính quốc tế như IFC, DFC, ADB, Norfund, Proparco, FMO…
Thị trường chứng khoán ngày 17/6 trải qua phiên giao dịch rung lắc mạnh khi áp lực bán tại nhóm cổ phiếu họ Vingroup khiến VN-Index nhiều lần biến động quanh mốc tham chiếu. Dù vậy, dòng tiền vẫn duy trì tích cực, giúp chỉ số thu hẹp đáng kể mức giảm so với đầu phiên.
Trong phiên sáng, VN-Index chịu sức ép lớn từ các cổ phiếu vốn hóa lớn thuộc hệ sinh thái Vingroup. Có thời điểm, VHM giảm 3,74%, VIC giảm 3,61% và VRE giảm 3,14%, khiến riêng 3 mã này lấy đi hơn 16 điểm của chỉ số. Tuy nhiên, lực cầu bắt đáy gia tăng khi thị trường lùi về vùng hỗ trợ ngắn hạn đã giúp chỉ số dần cân bằng trở lại.
Bước sang phiên chiều, VN-Index có thời điểm hồi phục và chuyển sang sắc xanh trong thời gian ngắn trước khi quay đầu giảm nhẹ vào cuối phiên. Kết thúc giao dịch, VN-Index giảm 1,74 điểm, tương đương 0,1%, xuống 1.806,2 điểm.
Thanh khoản thị trường ghi nhận sự cải thiện đáng kể. Tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 821,6 triệu cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch 24.184,6 tỷ đồng. Toàn sàn có 174 mã tăng giá và 129 mã giảm giá, cho thấy diễn biến thị trường không quá tiêu cực dù chỉ số đóng cửa trong sắc đỏ.
Xét theo nhóm ngành, tài chính tiếp tục là động lực nâng đỡ thị trường khi tăng 0,57%, đồng thời là nhóm thu hút dòng tiền mạnh nhất với giá trị giao dịch hơn 8.283 tỷ đồng.
Trong nhóm ngân hàng và chứng khoán, SHB tăng 0,72% với thanh khoản dẫn đầu thị trường, MSB tăng gần 3%, VPB tăng 0,57% và VIB tăng 1,23%. Ở chiều ngược lại, ACB giảm 1,35%, TCB giảm 0,94% và VND giảm 0,55%.
Nhóm viễn thông là ngành tăng mạnh nhất thị trường với mức tăng 1,48%, nhờ sự hỗ trợ của VGI tăng 1,77% cùng một số cổ phiếu khác như MFS tăng 1,17%.
Trong khi đó, nhóm công nghiệp duy trì sắc xanh nhẹ với nhiều cổ phiếu nổi bật. GEX tăng 1,14%, VSC bứt phá 6,86%, PVT tăng 2,33%, HAH tăng 1,46% và VOS tăng 2,8%. Dòng tiền cũng tập trung khá tốt vào các mã hạ tầng và logistics.
Ngược lại, bất động sản tiếp tục tạo áp lực lên thị trường khi giảm 0,49%. Bên cạnh các cổ phiếu thuộc nhóm Vingroup như VIC, VHM và VRE đồng loạt giảm, nhiều mã khác cũng giao dịch kém tích cực như NVL giảm 1,11%, PDR giảm 1,3%, KDH giảm 1,69% và LDG giảm hơn 6%. Một số cổ phiếu giữ được sắc xanh gồm CEO tăng 0,64%, HDC tăng 0,27% và HHS tăng 2,6%.
Nhóm năng lượng cũng là lực cản đáng chú ý khi giảm 0,87%. BSR mất 1,68%, trong khi các mã dầu khí lớn như PVD, PVS và PLX chỉ tăng nhẹ hoặc đi ngang.
Ở nhóm dịch vụ hạ tầng, diễn biến phân hóa tiếp tục xuất hiện. GAS giảm 1,1%, trong khi TTA tăng 1,92%, NT2 tăng 0,44% và nhiều cổ phiếu điện, nước duy trì trạng thái ổn định.
Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm đáng chú ý khi khối này bán ròng hơn 3.129 tỷ đồng trên toàn thị trường. VIC là cổ phiếu chịu áp lực bán mạnh nhất với giá trị bán ròng khoảng 2.189 tỷ đồng.
Nghị quyết 10 nêu rõ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường.
Nghị quyết đã đưa ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp trong việc phát triển khu vực kinh tế FDI, trong đó có việc khuyến khích doanh nghiệp (DN) FDI tăng cường liên kết, chia sẻ tri thức, hỗ trợ phát triển DN trong nước; sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp và từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi cung ứng cho người VN. Song song, Nghị quyết khuyến khích, yêu cầu DN FDI cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo người VN, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, công bố lộ trình nội địa hóa…
Để đạt được điều đó, VN sẽ ưu tiên các dự án đào tạo và sử dụng nhân lực VN, phát triển nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, năng lượng và tuân thủ pháp luật; áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ cho DN VN.
Chuyên gia kinh tế, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng mục tiêu thu hút vốn FDI của VN hiện nay không chỉ dừng ở số lượng vốn đăng ký mà đã chuyển sang "FDI thế hệ mới". Dòng vốn này tập trung mạnh vào các tiêu chí tăng trưởng xanh, công nghệ cao và thực hành ESG (Môi trường, xã hội và quản trị), nhằm nâng tầm năng lực cho nền kinh tế quốc gia. Trước đây, dù có số lượng DN FDI lớn, nhưng sự liên kết giữa khu vực này và DN trong nước vẫn còn lỏng lẻo, số lượng DN Việt trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn ngoại chưa nhiều. Chính vì vậy, nhiệm vụ tại Nghị quyết 10 đặt ra là đúng mục tiêu trong thu hút vốn FDI giai đoạn mới. Để thúc đẩy việc hợp tác giữa DN trong nước và nước ngoài, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cũng như đào tạo nguồn nhân lực trong nước, thì chúng ta phải đưa ra những tiêu chí cụ thể khi thẩm định, phê duyệt để lựa chọn dự án đầu tư vào VN.
"Nghị quyết 10 đã nêu rõ: Đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án. Cơ chế ưu đãi trong thu hút đầu tư này là phù hợp với xu thế và thông lệ của thế giới. Chúng ta sẽ xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ở nhiều góc độ, như hiệu quả về kinh tế, xã hội, về chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực… Song song với hàng loạt nhiệm vụ, giải pháp cùng tư duy đổi mới, cơ chế ưu đãi phù hợp thì khi các DN FDI thấy có lợi ích sẽ có hoạt động chuyển giao công nghệ mạnh hơn, hợp tác với DN trong nước chặt chẽ hơn", TS Lê Duy Bình phân tích.
TS Nguyễn Việt Hùng, giảng viên cao cấp, nguyên Trưởng khoa Xây dựng Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM, nhận xét: Thời gian qua VN đã thay đổi chính sách, không thu hút vốn FDI bằng mọi giá, giảm các dự án thâm dụng lao động, thâm dụng tài nguyên thiên nhiên. Thay vào đó VN ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ xanh, công nghệ số từ các tập đoàn lớn. Vì vậy, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị một lần nữa khẳng định chính sách, chiến lược đồng nhất của VN trong việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
"VN luôn xem khu vực FDI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, cùng với kinh tế trong nước là "hai cánh của một con chim". Khi phát triển đồng đều cả hai cánh thì nền kinh tế VN sẽ phát triển mạnh, bền vững", TS Nguyễn Việt Hùng nói.
"Cùng với các chiến lược phát triển kinh tế cao, bền vững, thực chất dựa trên nền tảng KH-CN, đổi mới sáng tạo cũng như hàng loạt chính sách khuyến khích, ưu đãi thì chưa bao giờ VN có môi trường thuận lợi để đầu tư kinh doanh như hiện nay. Hay nói cách khác, VN đang thật sự trở thành vùng đất hứa cho nhà đầu tư ngoại. Lãnh đạo Đảng và Chính phủ cũng đã kiên định, nhất quán về mục tiêu phát triển kinh tế, đường lối đối ngoại, người dân thân thiện và các DN trong nước cũng liên tục vươn lên. Đó là những ưu điểm có thể nói rằng VN đang "làm tổ" để đón những đại bàng ngoại đến hoạt động và cùng phát triển lâu dài. Nghị quyết 10 mang ý nghĩa chiến lược quan trọng trong định hướng thu hút và sử dụng vốn FDI đến năm 2045", TS Nguyễn Việt Hùng nhấn mạnh.
Theo TS Lê Duy Bình, ngoài việc yêu cầu đổi mới tư duy hay yêu cầu về chuyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo… giữa các tập đoàn FDI với DN trong nước, Nghị quyết 10 cũng yêu cầu hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghệ cao hay phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại gắn với quy hoạch phát triển quốc gia… Điều này cho thấy Nghị quyết 10 đã xác định việc thu hút và phát triển kinh tế FDI phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước. Sự ra đời của Nghị quyết 10 rất cần thiết trong bối cảnh VN bước vào kỷ nguyên mới, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế cao, bền vững và thực chất.
"Nghị quyết 10 cùng Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước đã cho thấy VN tiếp cận và xác định phát triển thông qua "kiềng ba chân". Từ đó, VN sẽ thật sự thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển vững mạnh, đạt được mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao", TS Lê Duy Bình nhấn mạnh.