Sô Y Tiết, 38 tuổi, quê ở xã Vân Canh, tỉnh Gia Lai (Bình Định cũ) trải qua một tuổi thơ buồn. Năm anh 6 tuổi, mẹ qua đời vì lao phổi. Y Tiết cùng em gái theo cha rời quê làm hành khất, sống đời vô gia cư. Người cha chìm trong men rượu, những ngày xin ăn không được, hai anh em thường xuyên phải chịu đòn.
Vài năm sau, cha cũng qua đời vì bệnh tật. Tiết được dì dượng đón về chăm sóc, sau đó đưa vào trại trẻ mồ côi để đi học. Nhưng cuộc sống thiếu thốn khiến anh mắc căn bệnh lao phổi giống mẹ, việc học cũng dở dang.
Trưởng thành với thể trạng yếu ớt, năm 25 tuổi Y Tiết chỉ nặng 38 kg. Anh đi làm công nhân được bốn năm thì sức khỏe suy kiệt, đành về quê nương nhờ nhà dì dượng, đi chăn bò thuê tự nuôi thân.
“Thời đó, có những lúc bế tắc, tôi ngồi khóc một mình, chỉ ước sống được tới năm 30 tuổi”, Sô Y Tiết kể.
Giữa những ngày lang thang cùng đàn bò trong rừng, âm nhạc trở thành liều thuốc tinh thần cho chàng trai trẻ. Anh học tiếng Anh trên YouTube, dùng Google Dịch và nghêu ngao hát để tự tìm niềm vui. Đầu năm 2020, Tiết quay video đếm số bằng tiếng Anh theo điệu nhạc “One, two, three”.
Sau một đêm, video của chàng trai chăn bò mồ côi lan truyền khắp các nền tảng mạng xã hội và được các ca sĩ nổi tiếng thế giới như Snoop Dogg, Chris Brown, Justin Bieber chia sẻ và hát theo. Kênh TikTok của anh đạt hàng triệu lượt theo dõi.
Những ngày đó, điện thoại của Y Tiết liên tục đổ chuông. Báo chí, các YouTuber và người hâm mộ tìm đến. “Tôi không hiểu vì sao chỉ hát vài câu tiếng Anh mà thế giới lại biết đến mình”, anh nói. Sự nổi tiếng khiến cuộc sống xáo trộn, nhưng cũng mang đến nguồn thu từ sáng tạo nội dung và quảng cáo.
“Tôi có tiền để mua thuốc chữa bệnh, mua TV, xây nhà vệ sinh cho dì dượng”, Y Tiết nói.
Khi trở thành “hiện tượng mạng”, anh được nhiều người làm quen nhưng chỉ có cảm tình với Nguyễn Ngọc Lan, cô gái quê Cao Bằng, biết nhau qua “Hội những người mồ côi cha mẹ”.
Lan mất cha từ nhỏ, mẹ ra nước ngoài lập gia đình nên cô cũng sớm phải tự bươn chải. Hai con người lớn lên trong thiếu thốn tình thương tìm thấy ở nhau sự đồng cảm.
Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, mọi người hối hả rời TP HCM về quê, Lan không biết đi đâu. Y Tiết ngỏ lời đón cô về quê mình, nhưng trong lòng vẫn canh cánh vì cảnh không nhà cửa, không tài sản. “Nghèo khó, mất mát từ bé em quen rồi. Em chỉ sợ anh chê em, sợ yêu em rồi anh không phát triển được tài năng nữa thôi”, Lan nói.
Nghe vậy, Tiết ngỏ lời: “Vậy về Bình Định ở với anh. Mình đăng ký kết hôn luôn, hai đứa đều có tuổi rồi”.
Cuộc sống mới của chàng trai người Chăm và cô gái người Tày bắt đầu từ căn phòng trọ. Hàng ngày, vợ chồng chở nhau lên rừng quay video. Những quả đồi từng là nơi Tiết chăn bò nay trở thành “trường quay”. Lan phụ chỉnh góc máy, làm hậu kỳ, quản lý tin nhắn và bán đặc sản, áo in hình chồng.
Tiết nhận các đơn hát trực tuyến cho khách hàng ở châu Âu, Mỹ, Australia. Họ thường thuê anh hát đếm số để chúc mừng sinh nhật người và thú cưng, mua xe mới, thậm chí kỷ niệm ngày ly hôn. Mỗi video mang về 1-2 triệu đồng. “Có lẽ vì văn hóa phương Tây cởi mở nên công việc này vẫn có đều đặn 6 năm nay”, Tiết nói.
Từng đồng kiếm được đều được hai vợ chồng dành dụm. Năm 2022, họ mua mảnh đất đầu tiên rồi xây căn nhà cấp bốn trị giá hơn một tỷ đồng. Phía sau nhà là khu vườn rộng, họ dựng thêm một căn nhà sàn để nấu bếp củi. Những năm sau đó, cặp vợ chồng có tiền mua thêm đất rừng để trồng cây lâm nghiệp, nuôi bò, khai hoang làm ruộng.
Tháng 10/2024, Sô Y Tiết và Nguyễn Ngọc Lan mới tổ chức lễ cưới. Bế cậu con trai hai tuổi trên tay, Tiết rơi nước mắt. “Giấc mơ về một mái ấm gia đình nay đã hiện hữu thật rồi”, anh nói.
Còn với Ngọc Lan, khoảnh khắc mặc váy cưới, tay trong tay bên chồng con và nhận lời chúc phúc của bà con xóm giềng là “dấu ấn đẹp nhất trong 30 năm cuộc đời”.
6 năm sau ngày nổi tiếng, sức hút của “chàng trai chăn bò hát đếm số” không còn như trước nhưng vợ chồng họ vẫn duy trì sáng tạo nội dung để có thêm thu nhập. Bên cạnh đó, anh vẫn gắn bó với đàn bò và học cách trồng lúa. Là người dân quê nhưng hơn 30 năm cuộc đời trước đó của chàng trai mồ côi không có một mảnh đất cắm dùi. Nay với anh, việc làm đất, gieo mạ có nhiều bỡ ngỡ.
“Mối quan tâm lớn nhất của tôi bây giờ không phải là hào quang trên mạng, mà là học cách trồng lúa, tích trữ lương thực để tổ ấm nhỏ an toàn trước biến cố”, anh chia sẻ.
Ông Nguyễn Xuân Việt, Chủ tịch UBND xã Vân Canh, cho biết gia đình Sô Y Tiết có lối sống lành mạnh, giản dị và được bà con xóm giềng yêu mến. “Ai thuê chăn bò Tiết vẫn đi. Hai vợ chồng còn quay video để có thêm thu nhập nuôi con”, ông Việt nói.
Với Ngọc Lan, Sô Y Tiết là chỗ dựa của cuộc đời. Cô nói tình yêu và chở che của anh đem đến cảm giác bình yên mà từ nhỏ chưa từng có vì thiếu vắng cha. Còn với Tiết, vợ là nguồn dịu dàng cho anh được dựa dẫm. Những ngày căn bệnh cũ tái phát, Lan luôn túc trực chăm sóc, giành làm hết các công việc nặng nhọc.
“Ngày mới dọn về sống chung, hai vợ chồng rất hay tủi thân ôm nhau khóc trong góc trọ. Nhưng rồi hai đứa tự lau nước mắt cho nhau, dặn lòng chọn cách sống hồn nhiên như những đứa trẻ để bù đắp quãng đời có nhiều nỗi buồn”, Ngọc Lan nói
Chiều muộn ngày cuối tháng 6, Sô Y Tiết ngắm nhìn mảnh ruộng mạ non với nụ cười. Người đàn ông từng nghĩ mình không sống nổi đến tuổi 30 giờ đã có nhà, có vợ, có con và cả những mùa lúa để chờ.
“Nếu một ngày mạng xã hội không còn, tôi vẫn đi thả bò, làm vườn bên vợ con”, chàng trai từng một thời nổi tiếng thế giới nói.
"Bây giờ tôi đi tiếp thì đơn độc mà quay về thì dang dở", Phương Nhi, 31 tuổi, sống tại bang Illinois, Mỹ nói.
Năm 2004, bà Tô Thị Hồng (mẹ Nhi) ở phường Phú Định, TP HCM được chị ruột bảo lãnh sang Mỹ định cư theo diện F4. Hồ sơ cho phép chồng và các con dưới 21 tuổi độc thân đi kèm. Lúc đó, gia đình có 6 thành viên, gồm vợ chồng bà Hồng và bốn người con, trong đó Phương Nhi là con út.
Sau 15 năm chờ đợi, năm 2019 hồ sơ của bà Hồng được duyệt nhưng ba người con đã quá tuổi đi kèm. Vợ chồng bà và Phương Nhi (được tính dưới 21 tuổi nhờ Đạo luật CSPA) đủ điều kiện định cư.
Cuối năm đó, gia đình chia hai nửa tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Để đưa ba người con còn lại sang Mỹ, vợ chồng bà Hồng nộp hồ sơ diện F2B (con trên 21 tuổi chưa kết hôn của thường trú nhân). Họ dự kiến chờ 5 năm, nhưng đến nay hồ sơ vẫn chưa hoàn tất do hệ thống di trú đình trệ sau Covid-19.
Không chỉ chịu cảnh gia đình chia cắt, cuộc sống của 6 thành viên trong gia đình rơi vào cảnh dở dang. Tại Mỹ, vợ chồng bà Hồng không biết tiếng Anh để giao tiếp, không nghề nghiệp và thu nhập. Họ phụ thuộc hoàn toàn vào tiền từ Việt Nam gửi sang.
Ban đầu, bà Hồng thích không khí trong lành, yên tĩnh của nước Mỹ, nhưng sự hào hứng sau đó biến thành cảm giác ngột ngạt. Hàng ngày, bà đi bộ một vòng công viên rồi về nấu ăn, cuối tuần chờ con chở đi siêu thị châu Á. Chồng bà, ông Minh, nhiều lần học lái xe nhưng đều bỏ dở vì sợ tốc độ cao trên cao tốc. Không có bằng lái, ông ví mình như "người mất chân". Nơi họ sống thưa dân và hiếm người Việt, ông quay quắt nhớ cảm giác đi xe máy uống cà phê hay trò chuyện với hàng xóm.
Cách đây bốn năm, người chị đứng đơn bảo lãnh qua đời vì ung thư khiến động lực ở lại Mỹ của vợ chồng bà Hồng càng mong manh. Vì cô đơn, cứ khoảng 6 tháng, vợ chồng bà Hồng lại mua vé bay về Việt Nam. Việc rời Mỹ nhiều tháng khiến ông bà bị ngắt quãng chuỗi cư trú liên tục, không đủ điều kiện thi lấy quốc tịch.
Cuộc sống của Phương Nhi cũng đảo lộn. Cô bỏ dở chương trình thạc sĩ tại Việt Nam để sang Mỹ. Nơi đất khách, Nhi học lại bằng đại học chuyên ngành marketing trong hai năm để tìm việc. Việc thay đổi môi trường cùng áp lực học hành khiến cô không thể hòa nhập. "Ở Mỹ tôi rất cô đơn vì không có bạn thân", Nhi nói. Sau giờ làm, cô chỉ biết xem phim, đọc truyện để lấp đầy khoảng trống.
Ba anh chị của Nhi ở lại Việt Nam mắc kẹt theo một kiểu khác. Để không bị ảnh hưởng đến việc xét duyệt hồ sơ, hơn 20 năm qua họ không dám yêu đương, kết hôn.
Mỗi dịp Tết, cảm giác cô đơn và nhớ nhà của Nhi càng lớn. Cô muốn về nước. Nhưng cuối năm 2022, luật sư thông báo hồ sơ của ba anh chị em đã bước vào giai đoạn xử lý tại Trung tâm Thị thực Quốc gia (NVC). Cô đành tiếp tục ở lại Mỹ chờ đợi. "Chúng tôi chỉ muốn gia đình được ở cùng một nơi nhưng chờ đợi quá lâu khiến ai cũng mệt mỏi", Nhi nói.
Tình cảnh của gia đình Nhi không hiếm gặp trên các hội nhóm của những người chuẩn bị di cư Mỹ. Dữ liệu năm 2025 của Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ghi nhận khoảng 2,4 triệu đơn I-130 (công dân hoặc thường trú nhân Mỹ bảo lãnh người thân sang định cư) đang chờ xét duyệt.
Tình trạng tồn đọng kéo dài khiến thời gian chờ đợi ngày càng tăng. Nghiên cứu của Viện Cato (Mỹ) chỉ ra thời gian chờ trung bình cho các diện bảo lãnh gia đình tăng từ 4 năm 3 tháng (năm 1991) lên 8 năm 1 tháng (năm 2018). Trong đó, diện F4 có thời gian chờ lâu nhất, trung bình 14 năm 7 tháng. Sự chậm trễ khiến nhiều người bỏ lỡ các cột mốc quan trọng cuộc đời như học hành, kết hôn, sinh con, chăm sóc cha mẹ. Đặc biệt, việc phải hoãn hay bỏ dở học tập, mua nhà do tình trạng pháp lý không rõ ràng để lại ảnh hưởng rất lâu dài.
Ông José Latour, Luật sư trưởng của Văn phòng Luật di trú LatourLaw, trụ sở ở TP HCM, cho biết nhóm hồ sơ toàn cầu diện F4 hiện mới giải quyết đến các đơn nộp trước năm 2008.
"Trong nền văn hóa coi trọng gia đình như Việt Nam, sự chậm trễ này tạo ra áp lực lớn, đôi khi trở nên đau lòng", luật sư nói. Trong 33 năm hỗ trợ các gia đình bị xáo trộn vì chính sách di trú của Mỹ, ông từng chứng kiến nhiều người phải hoãn việc học của con, hoãn nghỉ hưu, đám cưới hay lễ tốt nghiệp. "Họ không biết mình nên chờ đợi cơ hội định cư hay từ bỏ để ổn định cuộc sống tại quê nhà", ông José Latour nói.
Ông dẫn chứng trường hợp một người cha nộp hồ sơ diện F4, luôn giữ tâm thế sẵn sàng lên máy bay nên dừng mọi kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam với hy vọng các con được sang Mỹ học tập. Khi con ông đã tốt nghiệp đại học, đi làm và quá 21 tuổi khi người cha được cấp thị thực và không còn đủ điều kiện đi cùng. Người con này rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa việc chờ khiếu nại để giữ cơ hội định cư Mỹ hay kết hôn ở Việt Nam để ổn định cuộc sống và chấp nhận từ bỏ quyền lợi di trú.
Từ thực tế trên, đại diện LatourLaw khuyên các gia đình nên chủ động chuẩn bị kế hoạch học tập, nghề nghiệp và tài chính theo kịch bản thời gian chờ kéo dài, thay vì phụ thuộc vào mốc xét duyệt của cơ quan di trú.
Dù hệ thống di trú Mỹ gặp nhiều khó khăn và tồn đọng lớn, ông José Latour vẫn đánh giá lạc quan về tương lai. Ông tin rằng Mỹ sẽ sớm quay lại truyền thống đón nhận người nhập cư hợp pháp và quy trình xử lý hồ sơ bảo lãnh gia đình sẽ hiệu quả hơn trong vài năm tới.
5 năm trước, Lee Jin-seok (tên đã đổi), 31 tuổi, có cha mắc ung thư giai đoạn cuối. Cha anh muốn sống những ngày cuối cùng bên con cháu. Tuy nhiên, khi ông có dấu hiệu trở nặng vào sáng sớm, Lee gọi xe cấp cứu đưa cha đến bệnh viện.
Anh cho biết nguyên nhân là lo ngại nguy cơ bị cảnh sát điều tra về hành vi "không tìm kiếm sự trợ giúp y tế" nếu cha qua đời tại nhà. "Đó là lựa chọn an toàn về pháp lý, nhưng tôi luôn nghĩ lẽ ra cha đã có những ngày cuối đời ở nhà", Lee kể.
Theo số liệu năm 2024, 8,3% người cao tuổi nhận trợ cấp phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc được hoàn thành tâm nguyện trút hơi thở cuối cùng tại nhà, trong vòng tay người thân. Khoảng 75% ca tử vong của nhóm này diễn ra tại bệnh viện.
Tỷ lệ này ở Mỹ là 43%. Nhật Bản cũng đối mặt với khủng hoảng già hóa dân số, nhưng tỷ lệ người qua đời tại nhà của họ trong năm 2023 đạt 17%. Nguyên nhân chính là Nhật Bản có mạng lưới bác sĩ gia đình và các phòng khám hỗ trợ chăm sóc tại nhà hoạt động hiệu quả.
Số liệu này của Hàn Quốc cho thấy bệnh nhân phải trải qua những ngày cuối đời trong các phòng bệnh chung với những người khác cũng đang cận kề cái chết, gây áp lực tinh thần lên bản thân và gia đình họ.
Theo một nghiên cứu phân tích hiệu quả chi phí tại Hàn Quốc đăng trên Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ, chi phí trung bình cho dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ tại bệnh viện khoảng 2,48 triệu won (1.700 USD) một tuần, tốn kém gấp 11 lần tại nhà (khoảng 225.000 won).
Rào cản lớn nhất đến từ Luật Dịch vụ Y tế. Theo quy định, bác sĩ chỉ được cấp giấy chứng tử nếu bệnh nhân qua đời trong vòng 48 giờ sau lần khám cuối. Qua thời hạn này, việc tử vong tại nhà được xem là "trường hợp bất thường" và sẽ bị điều tra.
Luật sư Shin Hyun-ho, Công ty Luật Haeul, cho biết dù không có bằng chứng phạm tội, gia đình vẫn đối mặt nguy cơ bị điều tra về hành vi ngược đãi người cao tuổi. Một số gia đình phải hoãn tang lễ để cơ quan chức năng khám nghiệm tử thi. Nhằm tránh thủ tục này, nhiều gia đình chuyển người thân đã tử vong đến bệnh viện để nhận giấy chứng tử.
Sự thiếu hụt về nguồn lực y tế là rào cản thứ hai. Bà Jeong Hye-jin, Giám đốc Hiệp hội Y học tại nhà Hàn Quốc, cho biết sức khỏe người cao tuổi mắc các bệnh nền thường biến động nhanh. "Hệ thống chăm sóc cộng đồng là cần thiết, nhưng chúng ta chưa có đủ nhân lực y tế trực cấp cứu tại nhà", bà Jeong nói.
Từ tháng 3/2026, Chính phủ Hàn Quốc triển khai các gói chăm sóc tại nhà cho người cao tuổi. Tuy nhiên, giới chuyên môn cho rằng hệ thống này mới tập trung vào quá trình sinh hoạt, chưa chú trọng dịch vụ hỗ trợ bệnh nhân giai đoạn cuối.
Giáo sư Kim Dae-kyun, Bệnh viện Incheon St. Mary's, cho biết người bệnh đang phải di chuyển liên tục giữa nhà và bệnh viện. Ông đề xuất đưa dịch vụ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối vào nhóm y tế thiết yếu và phân bổ ngân sách phù hợp, thay vì chỉ xếp vào nhóm phúc lợi xã hội.
Con số này không chỉ cho thấy mức độ phổ cập của công nghệ mà còn phản ánh một thực tế: không gian mạng đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của trẻ.
Theo đó, vấn đề vì thế không còn là "có nên cho trẻ dùng Internet hay không", mà là làm sao để trẻ an toàn trong một môi trường vừa rộng mở, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Không gian số mang đến cơ hội học tập, kết nối, phát triển kỹ năng. Nhưng đi kèm với đó là những nguy cơ ngày càng tinh vi như bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nội dung độc hại, nghiện game, lệ thuộc mạng xã hội…
Như cảnh báo từ UNICEF, công nghệ có thể "ảo", nhưng những tổn thương mà trẻ em phải gánh chịu là hoàn toàn có thật . Một lời xúc phạm trên mạng có thể lặp lại vô hạn. Một hình ảnh bị phát tán có thể không bao giờ biến mất. Một cuộc trò chuyện tưởng chừng vô hại có thể trở thành điểm khởi đầu cho hành vi thao túng.
Điều đáng lo hơn là trẻ em bước vào thế giới đó khi chưa có đủ khả năng tự bảo vệ. Các em tò mò, dễ tin, dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè và môi trường xung quanh.
Trong khi đó, chính thiết kế của các nền tảng lại hướng đến việc giữ chân người dùng càng lâu càng tốt, liên tục đề xuất nội dung, tạo vòng lặp tương tác.
Với người lớn, điều này đã khó kiểm soát; với trẻ em, đó là một "cái bẫy" tinh vi. Việc sử dụng Internet quá mức có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung, hành vi, cảm xúc, thậm chí cả sự phát triển não bộ và kỹ năng xã hội.
Trước thực tế đó, nhiều ý kiến đề xuất cần hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội sớm. Đây là phản ứng dễ hiểu khi phụ huynh chứng kiến những rủi ro ngày càng rõ ràng. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, lệnh cấm không phải là lời giải trọn vẹn.
Trẻ em có thể tìm cách vượt rào, sử dụng tài khoản của người lớn, chuyển sang các nền tảng khác ít kiểm soát hơn. Khi đó, rủi ro không biến mất, mà chỉ chuyển sang những "vùng tối" khó nhận diện và khó can thiệp hơn.
Như nhiều chuyên gia nhận định, vấn đề không nằm ở việc trẻ có dùng Internet hay không, mà ở việc các em sử dụng như thế nào và có được chuẩn bị đủ kỹ năng hay chưa .
Thực tế cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không phải là tiếp cận công nghệ, mà là năng lực sử dụng an toàn.
Trẻ em online mỗi ngày, nhưng lại thiếu kỹ năng nhận diện nguy cơ, thiếu khả năng tự bảo vệ và thiếu cả nơi để tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp vấn đề.
Trong khi đó, nhiều phụ huynh và giáo viên vẫn chưa theo kịp tốc độ thay đổi của môi trường số, dẫn đến khoảng trống trong việc đồng hành cùng trẻ.
Bảo vệ trẻ trên không gian mạng không thể là trách nhiệm của riêng gia đình, mà cần một hệ sinh thái nhiều tầng, với sự tham gia của gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan quản lý.
Phía gia đình, điều quan trọng nhất không phải là kiểm soát tuyệt đối, mà là thiết lập quy tắc và duy trì đối thoại. Cha mẹ cần hiểu con mình đang làm gì trên mạng, sử dụng nền tảng nào, tiếp xúc với nội dung gì. Việc cài đặt công cụ quản lý là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều cốt lõi là xây dựng sự tin cậy để trẻ sẵn sàng chia sẻ khi gặp vấn đề, thay vì giấu kín.
Đối với nhà trường, giáo dục cần mở rộng sang kỹ năng công dân số. Trẻ cần được dạy cách ứng xử trên mạng, cách bảo vệ dữ liệu cá nhân, cách nhận diện tin giả, cách phản ứng khi bị bắt nạt hoặc tiếp cận bởi người lạ. Những kỹ năng này quan trọng không kém bất kỳ môn học nào trong thời đại số.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp công nghệ, trách nhiệm không thể chỉ dừng ở việc cung cấp nền tảng. Khi rủi ro xuất phát từ chính thiết kế hệ thống, các nền tảng cần chủ động xây dựng môi trường an toàn hơn: kiểm soát nội dung theo độ tuổi, cải thiện cơ chế báo cáo, tăng cường xác minh người dùng và cung cấp công cụ hỗ trợ phụ huynh.
Cũng cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và hỗ trợ nạn nhân. Việt Nam đã có những bước tiến trong việc xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và tham gia các sáng kiến quốc tế nhưng trước tốc độ phát triển của công nghệ, các giải pháp cũng cần được cập nhật liên tục.
Quan trọng hơn cả, cần chuyển từ tư duy "ngăn chặn" sang "trao quyền". Trẻ em không thể bị tách khỏi thế giới số, nhưng có thể được trang bị để bước vào đó một cách an toàn. Khi có kỹ năng, có nhận thức và có sự hỗ trợ, các em không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà trở thành chủ thể có khả năng tự bảo vệ mình.
Không gian mạng sẽ tiếp tục mở rộng và trẻ em sẽ tiếp tục hiện diện trong đó nhiều hơn. Do đó không phải là làm cách nào để cấm cản mà là làm sao để các em không bị tổn thương khi tham gia. Đây là sự thật không thể trì hoãn!