Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam. Trong đó, nội dung khảo sát liên quan tới hộ kinh doanh rất đáng chú ý.
Khảo sát được VCCI thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ tháng 2 – tháng 4, thu thập phản hồi của 1.001 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố.
Kết quả ghi nhận nhiều lo ngại của hộ kinh doanh trong quá trình tuân thủ chính sách thuế. Cụ thể, tỷ lệ lo ngại tương đối cao đối với thủ tục phức tạp (71,2%); rủi ro bị xử phạt (68,3%); không cập nhật kịp thời (63,5%); chi phí tuân thủ cao (63,5%); thiếu kỹ năng công nghệ (59,4%); thiếu hướng dẫn cụ thể (54,9%); lo ngại mất khách hàng (41%) và phát sinh chi phí không chính thức (37,7%).
Các phân tích sâu cho thấy, lo ngại về chi phí tuân thủ cao xuất hiện ở khoảng 63 – 64% hộ kinh doanh và tăng rõ ở nhóm doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở lên. Lo ngại thiếu kỹ năng công nghệ và thiếu hướng dẫn phổ biến hơn ở nhóm chủ hộ lớn tuổi, học vấn thấp, ở vùng khó khăn.
Lo ngại về thủ tục phức tạp, không cập nhật kịp và rủi ro xử phạt đều ở mức cao, cho thấy yêu cầu quan trọng hiện nay không chỉ là duy trì kỷ cương thực thi chính sách, mà còn là làm cho hệ thống trở nên dễ hiểu, minh bạch và có tính hỗ trợ tốt hơn.
Đáng chú ý, khi được hỏi về mức đóng thuế hiện nay (thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng) so với quy mô và khả năng kinh doanh, 49,1% hộ kinh doanh được khảo sát cho rằng, mức đóng là tương đối cao; 22% cho là quá cao; 10,8% thấy phù hợp và 18% cho biết khó đánh giá.
“Kết quả này cho thấy cảm nhận về gánh nặng thuế vẫn là một nội dung cần tiếp tục được giải thích, truyền thông và hoàn thiện trong thực thi, nhằm giúp hộ kinh doanh hiểu rõ hơn căn cứ chính sách, đồng thời để cơ quan quản lý có thêm thông tin thực tiễn phục vụ điều chỉnh nếu cần thiết”, ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, phân tích.
Khi đi vào thực hiện nghiệp vụ thuế và kế toán, nhiều hộ kinh doanh cho biết gặp khó khăn ở các khâu khác nhau.
Tỷ lệ đánh giá ở mức khó/rất khó khá cao đối với thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử (71,2%); hạch toán chi phí được trừ (67,6%); theo dõi cập nhật chính sách (66,8%); hiểu và áp dụng quy định (63,4%); kê khai và nộp thuế (62,3%); lưu trữ sổ sách kế toán (58,4%) và lấy hóa đơn đầu vào (46,3%).
Theo kết quả khảo sát, hóa đơn điện tử là một trong những khâu đòi hỏi nhiều hỗ trợ nhất đối với hộ kinh doanh.
Tỷ lệ hộ kinh doanh đánh giá các bước liên quan đến hóa đơn điện tử ở mức khó/rất khó khá cao, gồm: không biết sửa hóa đơn sai (54,8%); xử lý lỗi kỹ thuật trong thao tác (35,3%) và thiếu thiết bị hoặc internet (31,1%). Chỉ 13,6% hộ kinh doanh cho biết, không gặp khó khăn trong quá trình thực hiện hóa đơn điện tử.
Điều này phản ánh nhu cầu rất rõ về hướng dẫn cụ thể, hỗ trợ kỹ thuật dễ tiếp cận và phương thức triển khai thân thiện hơn với những hộ có điều kiện công nghệ còn hạn chế.
Theo VCCI, thời gian tới cần ưu tiên giảm độ phức tạp của các quy định thuế, kế toán và hóa đơn điện tử theo hướng phù hợp hơn với năng lực thực tế của hộ kinh doanh, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ, nhóm học vấn thấp và nhóm lớn tuổi.
Ngoài ra, cần phát triển các công cụ hỗ trợ tuân thủ chi phí thấp và dễ sử dụng, như phần mềm kế toán đơn giản, hướng dẫn kê khai theo ngôn ngữ dễ hiểu và cơ chế hỗ trợ trực tiếp tại địa phương, thay vì giả định rằng đa số hộ kinh doanh có thể tự hấp thụ các quy định mới mà không cần trung gian hỗ trợ.
Ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh, chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh không nên dàn đều mà cần xác định rõ các nhóm ưu tiên.
Nhóm hộ phụ thuộc hoàn toàn vào hộ kinh doanh như nguồn sinh kế cần được ưu tiên trong các chính sách giảm sốc và tăng sức chống chịu; nhóm siêu nhỏ và dễ tổn thương cần được hỗ trợ về tuân thủ và quản trị cơ bản.
Nhóm có quy mô lớn hơn, khách hàng B2B (doanh nghiệp, tổ chức…, không phải người tiêu dùng cá nhân), hoặc nhu cầu ký kết hợp đồng và huy động vốn rõ hơn nên là đối tượng trọng tâm của các chương trình thúc đẩy chuyển đổi lên doanh nghiệp.
“Cách tiếp cận phân tầng như vậy sẽ hiệu quả hơn nhiều so với cơ chế chính sách bình quân áp dụng cho toàn bộ khu vực hộ kinh doanh”, ông Tuấn nói.
Ngày 26/6, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn (Vietnam National Multi-Project Wafer Coordination Center - VNMPW/CC) với sự tham dự của đại diện các doanh nghiệp công nghệ, tập đoàn bán dẫn quốc tế, viện nghiên cứu và các trường đại học trọng điểm trong lĩnh vực bán dẫn.
Đây là Trung tâm cấp quốc gia đầu tiên của Việt Nam hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, đóng vai trò kết nối nhu cầu nghiên cứu, thiết kế chip trong nước với hệ sinh thái sản xuất bán dẫn toàn cầu.
Hiện nay, Việt Nam chưa có năng lực sản xuất chip bán dẫn ở quy mô công nghiệp, trong khi hạ tầng nghiên cứu và sản xuất thử trong nước còn hạn chế. Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp thiết kế chip chủ yếu phải đặt sản xuất thử tại các nhà máy nước ngoài, làm gia tăng chi phí, kéo dài thời gian triển khai và hạn chế khả năng thương mại hóa sản phẩm.
Chi phí chuyển từ bản thiết kế sang sản xuất thử chip (tape-out) hiện dao động từ 30.000 - 200.000 USD cho mỗi thiết kế, trong khi thời gian chờ sản xuất thường kéo dài từ 12 - 24 tháng.
Trong khi đó, hệ sinh thái bán dẫn Việt Nam đang phát triển nhanh với khoảng 60 doanh nghiệp thiết kế chip, khoảng 7.000 kỹ sư thiết kế và 166 cơ sở giáo dục đại học triển khai các chương trình đào tạo về bán dẫn và lĩnh vực liên quan. Theo thống kê ban đầu, đã có 12 đơn vị đăng ký nhu cầu sản xuất thử khoảng 30.000 chip.
Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn được kỳ vọng sẽ tháo gỡ điểm nghẽn này. Thông qua mô hình Multi-Project Wafer (MPW) - cơ chế gộp nhiều thiết kế chip trên cùng một đợt chế tạo để giảm chi phí, trung tâm sẽ giúp rút ngắn thời gian phát triển sản phẩm, giảm chi phí sản xuất thử và thúc đẩy sự ra đời của các sản phẩm chip "Make in Vietnam".
Phát biểu khai mạc sự kiện, ông Nguyễn Khắc Lịch - Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, trong kỷ nguyên số, chip bán dẫn không chỉ là một linh kiện điện tử, mà là nền tảng của hầu hết các công nghệ chiến lược: Trí tuệ nhân tạo, điện toán hiệu năng cao, 5G, Internet vạn vật, robot, tự động hóa, xe điện, thiết bị thông minh, quốc phòng, an ninh và hạ tầng số quốc gia.
"Bán dẫn vì vậy đã trở thành một trong những thước đo quan trọng về năng lực công nghệ, năng lực sản xuất, năng lực đổi mới sáng tạo và mức độ tự chủ chiến lược của mỗi quốc gia", ông Nguyễn Khắc Lịch cho hay.
Ông cũng cho biết, ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Năm 2025, doanh thu ngành đạt trên 21 tỷ USD; thu hút hơn 14 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài với trên 240 dự án; hình thành khoảng 60 doanh nghiệp thiết kế vi mạch và đội ngũ hơn 7.000 kỹ sư thiết kế bán dẫn.
Việt Nam đang từng bước tham gia vào các công đoạn quan trọng của chuỗi giá trị toàn cầu, từ thiết kế, đóng gói, kiểm thử đến nghiên cứu phát triển và sản xuất chip chuyên dụng.
Tuy nhiên, để đi sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, Việt Nam cần giải quyết một điểm nghẽn rất căn bản: năng lực hiện thực hóa bản thiết kế chip thành sản phẩm chip thực tế.
"Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn được thành lập nhằm góp phần tháo gỡ điểm nghẽn về sản xuất thử nghiệm, tạo cầu nối giữa thiết kế, chế tạo thử, đo kiểm, đánh giá và từng bước thương mại hóa sản phẩm chip", ông Nguyễn Khắc Lịch nhấn mạnh.
Theo Quyết định số 4386/QĐ-BKHCN, Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Cục Công nghiệp công nghệ thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ), có vai trò cung cấp hạ tầng dùng chung hỗ trợ toàn bộ quá trình từ thiết kế, sản xuất thử, đóng gói, kiểm thử đến thương mại hóa sản phẩm.
Trung tâm cung cấp công cụ thiết kế, hỗ trợ thẩm định và kiểm chứng thiết kế; làm đầu mối kết nối với các nhà máy chế tạo chip (Foundry), đơn vị đóng gói, kiểm thử và các đối tác công nghệ quốc tế để tổ chức sản xuất thử cho các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước.
Sau khi sản xuất thử, Trung tâm hỗ trợ đánh giá chất lượng chip, kết nối với các chương trình hỗ trợ của Nhà nước và các quỹ đầu tư nhằm thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm. Trong thời gian tới, Trung tâm sẽ từng bước xây dựng phòng thí nghiệm đánh giá, kiểm thử và phân tích sau chế tạo (Post-Silicon Lab).
Trung tâm được phát triển theo 3 giai đoạn. Giai đoạn 2026 - 2027, Nhà nước hỗ trợ 100% chi phí sản xuất thử nhằm thúc đẩy các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhóm thiết kế tham gia nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm sản phẩm chip bán dẫn, đồng thời từng bước hình thành năng lực vận hành mô hình MPW tại Việt Nam.
Giai đoạn 2028 - 2030, Trung tâm tiếp tục được hỗ trợ một phần chi phí sản xuất thử, đồng thời hoàn thiện hạ tầng dùng chung, hệ thống phòng thí nghiệm, công cụ thiết kế, môi trường kiểm thử và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật chuyên sâu, góp phần nâng cao chất lượng thiết kế và khả năng thương mại hóa sản phẩm.
Từ năm 2030 trở đi, Trung tâm hướng tới làm chủ các công nghệ tiên tiến, mở rộng hợp tác quốc tế và từng bước trở thành trung tâm hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn có uy tín tại Đông Nam Á, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị bán dẫn khu vực và toàn cầu.
Ngày 17.4, Tập đoàn Gemadept cùng hãng tàu CMA CGM (Pháp) chính thức tổ chức lễ động thổ dự án cảng nước sâu Gemalink giai đoạn 2 tại cụm cảng Cái Mép - Thị Vải (phường Tân Phước, TP.HCM).
Theo Tập đoàn Gemadept, dự án cảng nước sâu Gemalink giai đoạn 2 sau khi hoàn thành sẽ đưa công suất của cảng đạt hơn 3 triệu TEU/năm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng hàng hóa và tiếp nhận tàu lớn thông qua cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải.
Việc mở rộng Gemalink giai đoạn 2 cùng đối tác CMA CGM nằm trong lộ trình chiến lược 2026 - 2030 của Tập đoàn Gemadept, xoay quanh các trụ cột cốt lõi: khai thác cảng, port-logistics và vận tải thủy - biển.
Cảng Gemalink đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái cảng - logistics của Tập đoàn Gemadept và đối tác CMA-CGM, là một trong 19 cảng trên thế giới có thể tiếp nhận tàu container tải trọng lớn nhất hiện nay lên đến 250.000 tấn (tương đương 24.000 TEU).
Sau 5 năm đưa vào khai thác (2021 - 2025), tổng số chuyến tàu qua cảng Gemalink là hơn 2.000 chuyến, trong đó có gần 70% số chuyến tàu có tải trọng lớn từ 160.000 - 232.606 tấn. Cảng đã đạt sản lượng thông qua là 6,5 triệu TEU với mức tăng trưởng mỗi năm đều đạt 2 con số.
Với lợi thế là cảng nước sâu duy nhất tại khu vực Cái Mép đón được các tàu có tải trọng lớn nhất hiện nay, cảng Gemalink sẽ đóng vai trò quan trọng cửa ngõ của khu vực phía Nam trên tuyến hàng hải thế giới.
Trước đó, năm 2019, giai đoạn 1 cảng nước sâu Gemalink đã được khởi công. Giai đoạn 1, cảng này có cầu bến chính dài 800m. Cầu tàu được nối với bờ bằng 3 cầu dẫn. Năng lực xếp dỡ của giai đoạn 1 là 1,5 triệu TEU/năm.
Ở giai đoạn 2, cầu cảng chính dài 285m, tiếp nhận cỡ tàu 250.000DWT, cầu cảng thượng lưu dài 359m tiếp nhận cỡ tàu 150.000DWT, cầu cảng sà lan dài 390m tiếp nhận tàu/sà lan 5.661DWT.
Như vậy, toàn bộ dự án cảng nước sâu Gemalink có quy mô 1.150m cầu cảng bến chính, tổng diện tích 93ha.
Là cảng nước sâu duy nhất trong khu vực Cái Mép - Thị Vải có thể đầu tư mở rộng trong 5 năm tới cùng với sự đồng hành của CMA CGM, hãng tàu lớn thứ 3 thế giới, cảng Gemalink cả 2 giai đoạn sẽ đủ năng lực đáp ứng lượng hàng hóa tăng trưởng và đón nhận dòng hàng hóa trung chuyển từ các quốc gia trong khu vực, đưa cảng trở thành 1 trung tâm trung chuyển hàng đầu khu vực và duy trì vị thế là cảng nước sâu lớn nhất của cả nước.
Liên Bộ Công Thương - Tài chính vừa quyết định tăng giá bán lẻ xăng E5 RON92 lên mức 20.785 đồng/lít, tăng 1.426 đồng/lít so với kỳ điều hành trước. Giá xăng E10 RON95-III tăng 1.287 đồng/lít, lên mức tối đa 21.203 đồng/lít.
Giá dầu diesel 0.05S được giữ nguyên ở mức tối đa 21.866 đồng/lít. Dầu mazut 180CST 3.5S cũng giữ nguyên ở mức 15.030 đồng/kg.
Tại kỳ điều hành này, Bộ Công Thương tiếp tục trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu từ nguồn tạm ứng ngân sách nhà nước với mức 300 đồng/lít đối với xăng sinh học, 800 đồng/lít đối với dầu diesel và 800 đồng/kg đối với dầu mazut; đồng thời không chi sử dụng quỹ đối với các mặt hàng này.
Như vậy, giá xăng đã tăng sau 5 kỳ giảm liên tiếp gần đây. Hiện mặt bằng giá xăng dầu của Việt Nam vẫn đang ở mức thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 34, cho phép kéo dài thời gian miễn thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN), thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng (VAT) với xăng dầu đến ngày 30/9, tức là thêm 3 tháng so với quy định đang áp dụng.
Riêng thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng sẽ được thu trở lại từ ngày 1/7, cụ thể xăng khoáng mức 10%, E5 là 8% và E10 là 7%. Nghị quyết có hiệu lực đến ngày 30/9. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương đề xuất Chính phủ điều chỉnh thời gian áp dụng để phù hợp với diễn biến thị trường xăng dầu, yêu cầu điều hành kinh tế vĩ mô.
Theo Bộ Tài chính, việc gia hạn nhằm đa dạng hóa nguồn cung xăng dầu, bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời góp phần giảm chi phí vận tải, logistics, sản xuất kinh doanh, hỗ trợ kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bộ Công Thương cho biết mức giá mới được áp dụng từ 0h ngày 1/7. Các thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối xăng dầu được quyết định giá bán cụ thể nhưng không sớm hơn thời điểm này.