Chiều 30.6, UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội nghị công bố hàng loạt quy hoạch quan trọng, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075; Quy hoạch chung Khu kinh tế ven biển Quảng Yên; Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn và quyết định công nhận Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I.
Tại hội nghị, tỉnh Quảng Ninh đã trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định thành lập cụm công nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 18 dự án với tổng vốn gần 45.000 tỉ đồng.
Trong đó, nổi bật là dự án Sản phẩm giải trí thông minh của Công ty TNHH Năng lượng & Linh kiện EV Foxconn Việt Nam tăng vốn hơn 9.200 tỉ đồng; Khu công nghiệp VSIP Quảng Ninh hơn 5.800 tỉ đồng; Khu công nghiệp Green Bay Tech 5.700 tỉ đồng; Khu công nghiệp Bạch Đằng II gần 4.800 tỉ đồng; Khu công nghiệp ven biển Quảng Yên 3.740 tỉ đồng và Khu công nghiệp An Hưng Quảng Ninh hơn 3.000 tỉ đồng.
Không chỉ tập trung vào công nghiệp, danh mục dự án còn trải rộng trên các lĩnh vực điện gió, logistics, đô thị, dịch vụ, du lịch sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, chế biến lâm sản và nuôi trồng thủy sản tại đặc khu Cô Tô, cho thấy định hướng phát triển cân bằng giữa công nghiệp, dịch vụ và kinh tế xanh của Quảng Ninh.
Theo định hướng quy hoạch mới, Quảng Ninh sẽ phát triển theo mô hình đô thị đa cực, đa trung tâm, tăng cường liên kết với Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh và khu vực biên giới phía bắc. Không gian phát triển tiếp tục gắn với hệ thống khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, cửa khẩu, cùng các trung tâm du lịch quanh vịnh Hạ Long.
Tại sự kiện, ông Trần Hồng Minh, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã trao Quyết định phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 và Quyết định công nhận Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đây là những nội dung được các chuyên gia trao đổi tại Workshop "Giảm phát thải: Cơ hội và Thách thức đối với doanh nghiệp" do VietinBank phối hợp với các đối tác tổ chức mới đây tại Hà Nội.
Workshop thu hút sự tham dự của nhiều đại diện doanh nghiệp khu vực phía Bắc cùng các chuyên gia, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ESG, kiểm kê khí nhà kính, tín chỉ carbon và tài chính bền vững.
Workshop diễn ra trong bối cảnh kinh doanh toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng khi các yêu cầu về phát triển bền vững ngày càng trở nên phổ biến. Nếu trước đây phát triển bền vững chủ yếu được xem như một chiến lược dài hạn nhằm nâng cao hình ảnh doanh nghiệp, thì hiện nay nhiều thị trường xuất khẩu đã bắt đầu đưa các tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào quá trình đánh giá và ra quyết định hợp tác thương mại. Tại thị trường Việt Nam, các quy định về kiểm kê khí nhà kính cũng đang được nghiên cứu và thiết kế để có thể chuyển dịch dần từ khuyến khích sáng bắt buộc.
Doanh nghiệp đứng trước nhiều thách thức
Tại workshop, các chuyên gia nhận định doanh nghiệp hiện đang chịu áp lực đồng thời từ ba nhóm đối tượng chính gồm cơ quan quản lý nhà nước, khách hàng trong chuỗi cung ứng và các nhà đầu tư, tổ chức tài chính.
Về mặt chính sách, Việt Nam đã đưa ra cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, đồng thời từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính, kiểm kê khí nhà kính và phát triển thị trường carbon. Điều này đặt ra những yêu cầu tuân thủ ngày càng cụ thể đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cũng đang phải đáp ứng các yêu cầu từ đối tác quốc tế về công bố dữ liệu phát thải, đánh giá ESG đối với nhà cung cấp hay báo cáo dấu chân carbon của sản phẩm.
Theo các chuyên gia tại workshop, dữ liệu phát thải và ESG đang dần trở thành một trong những tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc minh bạch dữ liệu ESG cũng ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tiếp cận nguồn vốn, khi nhiều tổ chức tài chính trên thế giới đang mở rộng các chương trình tài chính xanh và tài chính bền vững.
Xây dựng dữ liệu phát thải – Cơ hội cho doanh nghiệp
Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm tại workshop là kiểm kê khí nhà kính và quản trị dữ liệu phát thải. Theo các chuyên gia, bước đầu tiên để doanh nghiệp xây dựng lộ trình giảm phát thải là xác định được hiện trạng phát thải thông qua hoạt động đo lường và kiểm kê khí nhà kính.
Đại diện các đơn vị tư vấn và công nghệ cho biết nhiều doanh nghiệp hiện vẫn sử dụng các công cụ thủ công như Excel để thực hiện tính toán phát thải. Tuy nhiên, khi quy mô dữ liệu mở rộng, phương pháp này có thể phát sinh nhiều hạn chế như khó kiểm soát phiên bản, thiếu khả năng truy xuất dữ liệu và phụ thuộc lớn vào nhân sự.
Trong khi đó, các nền tảng số và giải pháp công nghệ có thể hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình thu thập dữ liệu, giảm sai sót trong quá trình nhập liệu và nâng cao khả năng kiểm chứng thông tin. Các chuyên gia tại workshop nhấn mạnh doanh nghiệp không nhất thiết phải xây dựng ngay một hệ thống hoàn chỉnh ngay từ đầu mà có thể bắt đầu từ các nguồn phát thải trọng yếu, từng bước mở rộng phạm vi thực hiện và hoàn thiện quy trình quản trị dữ liệu theo thời gian. Việc bắt đầu sớm, xây dựng dữ liệu nền tảng và cải thiện dần qua từng kỳ báo cáo được đánh giá là cách tiếp cận phù hợp đối với phần lớn doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Cho vay liên kết bền vững – Giải pháp tiên phong từ VietinBank
Cũng tại hội thảo, VietinBank đã giới thiệu tới cộng đồng doanh nghiệp sản phẩm Cho vay liên kết bền vững (Sustainability-Linked Loan - SLL). Đây là giải pháp đầu tiên trong chuỗi các giải pháp tài chính chuyển đổi mà VietinBank đang nghiên cứu xây dựng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Khác với các mô hình tín dụng truyền thống, cho vay liên kết bền vững là cấu trúc tài chính trong đó điều kiện vay – đặc biệt là lãi suất – được gắn trực tiếp với mức độ thực hiện các chỉ tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp. Việc VietinBank tiên phong triển khai cấu trúc này cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ vai trò ngân hàng "cấp vốn" sang ngân hàng "đồng hành" cùng hành trình xanh của doanh nghiệp.
Để tham gia chương trình, việc xây dựng hệ thống dữ liệu ESG, thực hiện kiểm kê khí nhà kính và minh bạch thông tin phát thải được xem là những yếu tố nền tảng. Kết quả kiểm kê và báo cáo phát thải không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu từ cơ quan quản lý, khách hàng và đối tác mà còn tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các sản phẩm tài chính bền vững của Ngân hàng. Cũng trong chương trình này, các đối tác của VietinBank sẵn sàng cung cấp các ưu đãi lớn cho doanh nghiệp đối với dịch vụ đo lường và kiểm kê khí nhà kính.
Theo ông Trần Hoài Nam, Phó Giám đốc Khối KHDN VietinBank, cấu trúc cho vay liên kết bền vững được Ngân hàng kỳ vọng sẽ trở thành mô hình phổ biến trên thị trường tài chính, góp phần lan tỏa tư duy phát triển có trách nhiệm và đồng hành cùng doanh nghiệp trên hành trình tạo lập giá trị lâu dài cho nền kinh tế.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Phát hiện nhiều tồn tại trong hoạt động cấp tín dụng và xử lý nợ tại PGBank Khánh Hòa

Theo kết luận thanh tra, trong thời kỳ thanh tra năm 2023, 2024 và tính đến thời điểm 31/12/2025, Ban lãnh đạo PGBank Khánh Hòa đã bám sát các chỉ đạo, điều hành từ chính quyền địa phương, Ngân hàng Nhà nước và Hội sở chính. Đơn vị đã có những kế hoạch, chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm tăng trưởng nguồn vốn tại chỗ, dư nợ và đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đời sống của người dân cũng như các tổ chức kinh tế trên địa bàn. Nhìn chung, chi nhánh đã chấp hành đúng pháp luật và các quy định nội bộ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của PGBank Khánh Hòa vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế đáng lưu ý. Kết quả thanh tra chuyên đề tập trung vào các mảng hoạt động chủ chốt đã chỉ ra nhiều lỗ hổng trong quy trình vận hành của chi nhánh.
Trong hoạt động cấp tín dụng (cho vay, bảo lãnh), công tác thẩm định, xét duyệt quyết định cho vay chưa thực sự chặt chẽ và thiếu cơ sở chắc chắn. Đồng thời, chi nhánh chưa tuân thủ nghiêm túc việc kiểm tra giải ngân cũng như giám sát quá trình sử dụng vốn vay sau giải ngân của khách hàng.
Trong hoạt động bảo lãnh và cam kết ngoại bảng khác, còn tồn tại một số sai sót, hạn chế trong quá trình thực hiện.
Trong xử lý và thu hồi nợ xấu ngoại bảng, PGBank Khánh Hòa chưa tuân thủ đúng quy định về theo dõi, quản lý và thu hồi nợ xấu. Chi nhánh cũng chưa có các biện pháp khẩn trương để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận với khách hàng và theo quy định pháp luật.
Trong công tác phòng, chống rửa tiền, vẫn còn những điểm hạn chế liên quan đến hoạt động phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Được biết, tính đến cuối năm 2025, PGBank Khánh Hòa có mạng lưới gồm 1 chi nhánh chính, 1 phòng giao dịch trực thuộc (Phước Hải) với tổng nhân sự 48 người. Ban lãnh đạo chi nhánh hiện có vị trí Giám đốc nhưng vẫn đang khuyết vị trí Phó Giám đốc. Dù cơ quan thanh tra chưa áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền đối với các vi phạm tại đây, nhưng để đảm bảo an toàn hệ thống và hạn chế rủi ro phát sinh, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 10 đã đưa ra các yêu cầu xử lý nghiêm túc.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.

