Theo kết luận thanh tra, trong thời kỳ thanh tra năm 2023, 2024 và tính đến thời điểm 31/12/2025, Ban lãnh đạo PGBank Khánh Hòa đã bám sát các chỉ đạo, điều hành từ chính quyền địa phương, Ngân hàng Nhà nước và Hội sở chính. Đơn vị đã có những kế hoạch, chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm tăng trưởng nguồn vốn tại chỗ, dư nợ và đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đời sống của người dân cũng như các tổ chức kinh tế trên địa bàn. Nhìn chung, chi nhánh đã chấp hành đúng pháp luật và các quy định nội bộ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của PGBank Khánh Hòa vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế đáng lưu ý. Kết quả thanh tra chuyên đề tập trung vào các mảng hoạt động chủ chốt đã chỉ ra nhiều lỗ hổng trong quy trình vận hành của chi nhánh.
Trong hoạt động cấp tín dụng (cho vay, bảo lãnh), công tác thẩm định, xét duyệt quyết định cho vay chưa thực sự chặt chẽ và thiếu cơ sở chắc chắn. Đồng thời, chi nhánh chưa tuân thủ nghiêm túc việc kiểm tra giải ngân cũng như giám sát quá trình sử dụng vốn vay sau giải ngân của khách hàng.
Trong hoạt động bảo lãnh và cam kết ngoại bảng khác, còn tồn tại một số sai sót, hạn chế trong quá trình thực hiện.
Trong xử lý và thu hồi nợ xấu ngoại bảng, PGBank Khánh Hòa chưa tuân thủ đúng quy định về theo dõi, quản lý và thu hồi nợ xấu. Chi nhánh cũng chưa có các biện pháp khẩn trương để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận với khách hàng và theo quy định pháp luật.
Trong công tác phòng, chống rửa tiền, vẫn còn những điểm hạn chế liên quan đến hoạt động phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Được biết, tính đến cuối năm 2025, PGBank Khánh Hòa có mạng lưới gồm 1 chi nhánh chính, 1 phòng giao dịch trực thuộc (Phước Hải) với tổng nhân sự 48 người. Ban lãnh đạo chi nhánh hiện có vị trí Giám đốc nhưng vẫn đang khuyết vị trí Phó Giám đốc. Dù cơ quan thanh tra chưa áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền đối với các vi phạm tại đây, nhưng để đảm bảo an toàn hệ thống và hạn chế rủi ro phát sinh, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 10 đã đưa ra các yêu cầu xử lý nghiêm túc.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Vào cuối tháng 3, khi xung đột Iran leo thang dẫn đến việc eo biển Hormuz bị đóng cửa đối với hoạt động vận chuyển, giá dầu Brent đã tăng vọt vượt mốc 100 USD/thùng. Trước diễn biến này, UOB đã nhanh chóng điều chỉnh giảm dự báo giá vàng xuống 4.400 USD/ounce trong quý 2/2026 và 4.600 USD/ounce trong quý 3/2026, do lo ngại áp lực giảm giá trong ngắn hạn xuất phát từ kỳ vọng lạm phát gia tăng.
Quan điểm thận trọng trong ngắn hạn đối với vàng này tỏ ra khá chính xác, khi hiện tại giá vàng đang dao động tích lũy quanh mức 4.500 USD/ounce. Nguyên nhân là do lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng, phản ánh lo ngại ngày càng gia tăng về lạm phát trong bối cảnh giá dầu thô cao hơn. Trong bối cảnh tích lũy này, hoạt động giao dịch và đầu cơ đã hạ nhiệt, thể hiện qua: lượng vàng lưu trữ trên sàn COMEX sụt giảm, và khối lượng giao dịch của quỹ ETF vàng chuẩn (GLD) cũng giảm. Ngoài ra, còn tồn tại một số yếu tố cản trở ngắn hạn đối với giá vàng, bao gồm hoạt động bán vàng của các ngân hàng trung ương như Nga và Thổ Nhĩ Kỳ cũng như nỗ lực của Ấn Độ nhằm giảm lượng mua vàng để hạn chế áp lực suy yếu của đồng INR.
Do đó, giai đoạn tích lũy quanh mức 4.500 USD/ounce hiện nay được xem là rất quan trọng và cần thiết, giúp giá vàng thiết lập nền tảng ổn định trước khi các yếu tố hỗ trợ dài hạn với vai trò tài sản trú ẩn an toàn quay trở lại trong những tháng tới.
Nhìn chung, dù duy trì quan điểm thận trọng trong ngắn hạn, UOB tiếp tục đánh giá tích cực về triển vọng dài hạn của vàng. Dự báo cập nhật đối với giá vàng như sau 4.600 USD/ounce trong quý 3/2026, 4.800 USD/ounce trong quý 4/2026, 5.000 USD/ounce trong quý 1/2027, 5.200 USD/ounce trong quý 2/2027.
Tin Gốc: Thanh Niên

Làm việc với Ban Chính sách, chiến lược T.Ư và các cơ quan liên quan về đánh giá nguồn lực phát triển đất nước gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và xác lập mô hình tăng trưởng mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ ra thực trạng nhiều nguồn lực quốc gia đang "mắc kẹt" trong thủ tục, tranh chấp, tâm lý sợ trách nhiệm và phối hợp thiếu đồng bộ. Các động lực truyền thống như: tăng vốn đầu tư, mở rộng tín dụng, khai thác đất đai, lao động giá rẻ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bằng ưu đãi đang dần bộc lộ giới hạn khi đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi tăng trưởng chất lượng cao, dựa trên năng suất và sức cạnh tranh bền vững.
Trước đó, phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã nêu rõ: Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới.
Từ những quan điểm trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu số hóa và giải phóng nguồn lực đang bị mắc kẹt; tập trung nguồn lực cho các cực tăng trưởng, dự án và ngành có sức lan tỏa cao, không dàn trải, không bình quân; phát triển doanh nghiệp (DN), thị trường vốn và nguồn lực trong dân; lấy năng suất, khoa học-công nghệ (KH-CN), dữ liệu và nhân lực chất lượng cao làm động lực chính.
Rất tâm đắc về tư duy nguồn lực mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, TS Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, khẳng định đây là chủ trương, quyết sách có tầm nhìn chiến lược, phù hợp với xu thế thời đại và đòi hỏi cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước ta trong giai đoạn mới. Việc đặt KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển cho thấy chúng ta quyết tâm xây dựng một phương thức phát triển mới, giảm phụ thuộc vào các lợi thế truyền thống như lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên. Sau gần 40 năm Đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng mô hình tăng trưởng cũ dựa vào vốn và lao động giản đơn đang dần bộc lộ hạn chế. Năng suất lao động của ta vẫn còn thấp so với các nước phát triển, tốc độ tăng năng suất có dấu hiệu chững lại, và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu. Muốn vượt lên, phải dựa vào động lực mới là tri thức và sáng tạo. Đây chính là chìa khóa để VN bứt phá và tránh nguy cơ tụt hậu trong thập niên tới.
Quan điểm này không chỉ đúng đắn về mặt chủ trương mà còn có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc. Trên thế giới, KH-CN và đổi mới sáng tạo từ lâu đã trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Những quốc gia vươn lên mạnh mẽ đều dựa vào sức mạnh công nghệ và tri thức.
Ông Khải dẫn chứng: Hàn Quốc từ một nước nghèo đã trở thành cường quốc công nghiệp nhờ đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu - phát triển (R&D). Hàn Quốc hiện chi hơn 5% GDP cho R&D, thuộc hàng cao nhất thế giới. Singapore cũng nằm trong nhóm dẫn đầu toàn cầu về đổi mới sáng tạo (xếp hạng 5/139 nền kinh tế theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025), minh chứng cho tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách khuyến khích sáng tạo. Gần đây, Trung Quốc xác định chiến lược tự lực về công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn. Nước này liên tục tăng cường đầu tư cho KH-CN với tỷ lệ chi R&D năm 2024 đạt 2,68% GDP (tăng từ 2,38% năm 2021). Sự tập trung đó nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ, tạo động lực tăng trưởng mới và cạnh tranh vị thế siêu cường trong tương lai.
"Những bài học quốc tế trên cho thấy muốn phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số, không có con đường nào khác ngoài phát triển mạnh mẽ KH-CN và đổi mới sáng tạo. Đối với VN, việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và số hóa càng mang ý nghĩa sống còn. Giai đoạn từ nay đến 2030 đặt ra yêu cầu phát triển mới: phải tăng tốc để phấn đấu tăng trưởng hai con số, nâng sức chống chịu trước bất định toàn cầu. Trong bối cảnh rủi ro thương mại, địa chính trị khó dự báo, bài toán cốt lõi của chúng ta là đầu tư công phải nhanh hơn, nhưng quan trọng nhất là "thông minh hơn", ưu tiên hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và nâng cao đời sống người dân bền vững", TS Trần Văn Khải nhấn mạnh.
Theo PGS-TS, đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường ĐH Sài Gòn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ, mô hình tăng trưởng mới phải dựa nhiều hơn vào năng suất, KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu… Hay có thể hiểu rằng cần phải huy động triệt để nguồn lực của đất nước để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Nguồn lực của đất nước không chỉ là vật chất như vốn, đất đai mà còn phải bao gồm những nguồn lực phi vật chất khác, gồm sự sáng tạo, đổi mới, tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Đồng thời, việc huy động triệt để nguồn lực còn bao gồm cả việc tận dụng thời gian chứ không phải chậm trễ, có nghĩa là mọi việc phải được giải quyết triệt để, nhanh chóng. Chẳng hạn, việc chậm sử dụng đất đai là một sự lãng phí nguồn lực rất lớn. Nhưng với nhiều địa phương, cán bộ không dám làm vì sợ trách nhiệm, đùn đẩy và chỉ chờ cấp trên quyết, chậm đưa các nguồn lực đi vào sử dụng cũng là một sự lãng phí.
Song song, VN đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững, thực chất thì phải dựa vào KH-CN, tăng năng suất lao động dựa trên đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số. Khi hàm lượng KH-CN, hàm lượng tri thức gia tăng thì cũng đồng nghĩa ít làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực của đất nước. Để kinh tế cả nước tăng trưởng cao thì các địa phương đều phải tăng trưởng, phải huy động được mọi nguồn lực trong xã hội, khuyến khích phát triển tất cả thành phần kinh tế. VN phải phát huy được hết tất cả tiềm năng và lợi thế của từng khu vực kinh tế, từng địa phương, từ vùng xuôi đến miền núi.
PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh: để tập hợp và phát huy nguồn lực của cả nước thì từng nhà, từng khu vực đều phải có sự quyết tâm thực hiện. Từng công chức, viên chức ở các cơ quan nhà nước phải cùng thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ để giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, DN nhanh chóng hơn. Ngay cả việc cả nước đang thúc đẩy đầu tư hạ tầng giao thông, từ đường cao tốc đến đường thủy nội địa, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao… cũng là một sự kết nối các nguồn lực từ các địa phương. Các địa phương, các khu vực sẽ có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau tốt hơn. Từ đó tạo nên nguồn lực tổng hợp, sức mạnh chung để khai thác hết tiềm năng, lợi thế của cả nước.
Phân tích rõ hơn khái niệm cộng hưởng nguồn lực mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa nêu, TS Nguyễn Việt Hùng, nguyên Trưởng khoa Xây dựng Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM, nói rằng nguồn lực và sức mạnh quốc gia phải được xem xét một cách tổng hòa trên tất cả các phương diện: từ sức mạnh vật chất cho đến sức mạnh tinh thần; kết nối những truyền thống từ quá khứ, thông qua những đặc trưng của hiện tại và hướng tới dự báo những giá trị của tương lai. Sức mạnh tổng hợp quốc gia là sự hợp thành của cả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối nội lẫn đối ngoại. Đó là tổng thể giá trị, hay còn gọi là sức mạnh mềm của một quốc gia.
Muốn đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển nhanh và bền vững, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã xác định trụ cột chính là KH-CN, tri thức và chuyển đổi số. Khi chúng ta dựa trên nền tảng của KH-CN và tri thức, thì về bản chất, nó chính là thuộc về sức mạnh tinh thần. Vì vậy, VN buộc phải cộng hưởng nguồn lực vật chất với nguồn lực tinh thần. Ở đó, sức mạnh cốt lõi là tinh thần, nhưng luôn cần phải có sức mạnh vật chất đi kèm để đảm bảo và quyết định.
Đơn cử, trong kỷ nguyên dựng nước và giữ nước của cha ông ta, bên cạnh truyền thống văn hóa Văn Lang hay Đông Sơn, chúng ta luôn phải gắn liền với nền văn minh lúa nước. Chính hạt lúa, củ khoai trong phương thức sản xuất văn minh nông nghiệp Sông Hồng ấy đã trở thành bệ phóng vững chắc để sức mạnh của kỷ nguyên Đại Việt được thăng hoa.
Thực tiễn lịch sử cũng đã chứng minh nguồn lực quốc gia bao gồm cả yếu tố vật chất lẫn tinh thần. Trong đó, vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, nhưng tinh thần lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Có những đất nước, những quốc gia dân tộc xét về mặt nguồn lực, tiềm lực vật chất có thể thua kém một quốc gia đối đầu khác, nhưng họ vẫn tồn tại độc lập, tự chủ suốt hàng nghìn năm mà không bị xâm lược, đô hộ hay bị đồng hóa.
"Ngày hôm nay cũng vậy, VN là một nước đang phát triển và đang ôm một hoài bão lớn của cả dân tộc: bước vào kỷ nguyên vươn mình để phát triển nhanh và bền vững. Chúng ta lấy đổi mới KH-CN một cách sáng tạo và đẩy mạnh chuyển đổi số làm động lực chủ yếu để phát triển. Nếu biết cộng hưởng tất cả các sức mạnh vật chất và tinh thần lại với nhau - trong đó lấy tinh thần làm nguồn lực "thăng hoa", tạo ra niềm hứng khởi cho toàn quốc gia, dân tộc - thì sẽ mang tới sức mạnh động viên và khơi dậy nguồn lực nội sinh rất cao. Mỗi người dân VN sẽ cùng được thổi bùng lên khát vọng làm giàu, độc lập, tự chủ, đưa đất nước vươn lên thành cường quốc", TS Nguyễn Việt Hùng chỉ rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu tập trung xây dựng gói thể chế khơi thông nguồn lực. Trong xây dựng thể chế, phải dứt khoát bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Đồng thời tập trung nguồn lực cho các cực tăng trưởng, dự án và ngành có sức lan tỏa cao, không dàn trải, không bình quân; phát triển DN, thị trường vốn và nguồn lực trong dân; lấy năng suất, KH-CN, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao làm động lực chính.
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, việc phân bổ nguồn lực đầu tư của đất nước nói chung cần dựa trên tiêu chí hiệu quả. Song song, các địa phương đầu tàu tăng trưởng của cả nước phải được đẩy mạnh, phát huy thông qua thể chế đặc biệt. Chẳng hạn như TP.HCM, Hà Nội phải có thể chế tương thích để phát huy hết tiềm năng, lợi thế cũng như phân bổ nguồn lực tương xứng. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết cắt giảm điều kiện kinh doanh trong nhiều lĩnh vực ngành nghề, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Điều này cũng là thể chế hóa cụ thể chủ trương mà Đảng đề ra là đột phá mạnh mẽ về thể chế để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực. Khi thực hiện đúng các chiến lược trên với tư duy mới cũng đồng nghĩa là xóa bỏ đi tư duy "không quản được thì cấm" vẫn còn hiện hữu đâu đó. Chỉ khi mỗi địa phương, mọi người dân chung sức phát huy được hiệu quả, tiềm năng, lợi thế của từng mảnh đất, thực sự phát huy tối đa nội lực, cả nước mới có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững.
TS Nguyễn Việt Hùng cũng cho rằng VN không thiếu tài nguyên, không thiếu nhân lực có khát vọng, có nền tảng 40 năm đổi mới và môi trường quốc tế ổn định. Tuy nhiên, nguồn lực thời gian qua đang bị kìm hãm bởi nhiều nguyên nhân.
Đầu tiên là điểm nghẽn thể chế. Hệ thống quy định, chế độ chính sách và thủ tục hành chính còn chồng chéo, bất cập. Chính cái "vướng thể chế" này đang "bó" quyền dân chủ trong xã hội, không phát huy được năng lực tự thân của các thành phần kinh tế. Cùng với đó, tài nguyên quốc gia rất phong phú nhưng đang bị khai thác không hiệu quả, quản lý lỏng lẻo gây thất thoát lớn…
Từ phân tích trên, ông Hùng nhấn mạnh cần hiểu đúng sự thay đổi tư duy cốt lõi về "nguồn lực" theo tinh thần mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Đó là cái đã có, đang có thì phải mở trói để phát triển; cái nào làm tốt thì phát huy, cái nào chưa tốt thì rút kinh nghiệm. Với cái chưa có thì phải nghiên cứu, sáng tạo và thử nghiệm; trên tinh thần đó, đột phá tư duy từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo môi trường để nguồn lực cộng hưởng. Các nguồn lực đang bị bó bởi thể chế thì việc đầu tiên cần làm là phải đột phá thể chế theo hướng kiến tạo, để "tạo gió cho cánh buồm" phát triển. Cùng với đó, xóa bỏ định kiến, khơi dậy "gen khát vọng" của tất cả mọi tầng lớp người dân để họ cùng làm giàu, tự chủ và đưa đất nước đi lên.
Việc đánh giá con người và các thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân cũng phải sòng phẳng, công bằng, ngay cả trong công tác thi đua khen thưởng. Những sáng tạo, khát vọng làm giàu phải được bảo hộ bằng pháp luật nghiêm minh, công khai, minh bạch, sòng phẳng; được nuôi dưỡng từ môi trường thủ tục hành chính pháp lý thuận lợi, mang tính động viên, khơi dậy để mọi người đem tài trí ra phục vụ đất nước. Đó chính là nguồn lực cực lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến đối với dự thảo sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 25/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Theo Ngân hàng Nhà nước, sau hơn 12 năm triển khai, công tác thu hồi, tuyển chọn và phân loại tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông trong hệ thống ngân hàng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Dù vậy, quá trình thực hiện vẫn phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, đặc biệt liên quan đến việc xác định các yếu tố bảo an khi xét đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Bên cạnh đó, quy định về hình thức niêm yết mẫu tiền tại điểm giao dịch theo Thông tư 25 hiện hành được đánh giá là còn hạn chế, gây khó khăn cho các đơn vị triển khai. Ngoài ra, việc giám định tiền qua hai cấp trong một số trường hợp cũng khiến thời gian xử lý kéo dài.
Dự thảo sửa đổi một số quy định như giao Ngân hàng Nhà nước khu vực và các đơn vị thu đổi sẽ có trách nhiệm thực hiện thu, đổi ngay cho khách hàng có nhu cầu, không giới hạn số lượng và không yêu cầu thủ tục giấy tờ. Quy định này áp dụng với các trường hợp tiền hư hỏng do nguyên nhân khách quan hoặc lỗi kỹ thuật phát sinh trong quá trình in, đúc của nhà sản xuất. Đối với tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông phát sinh trong quá trình bảo quản, khách hàng sẽ nộp hiện vật cho Ngân hàng Nhà nước khu vực hoặc đơn vị thu đổi để xem xét. Dự thảo cũng bổ sung và làm rõ các điều kiện xét đổi trong trường hợp này. Theo đó, tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông phải không xuất phát từ hành vi hủy hoại. Với các tờ tiền bị cháy, thủng hoặc rách mất một phần, diện tích còn lại phải đạt từ 60% trở lên so với diện tích tờ tiền cùng loại. Trường hợp tiền được can dán, diện tích tối thiểu phải đạt tối thiểu 90% so với diện tích tờ tiền cùng loại và đảm bảo nguyên gốc, nguyên bố cục một tờ tiền (mặt trước, mặt sau; trên, dưới; bên phải, bên trái), đồng thời nhận biết được các yếu tố bảo an.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định riêng đối với tiền polymer bị cháy hoặc co biến dạng do tiếp xúc với nhiệt độ cao thì diện tích còn lại tối thiểu phải bằng 30% so với diện tích tờ tiền cùng loại và còn giữ nguyên bố cục một tờ tiền, đồng thời nhận biết được ít nhất hai trong các yếu tố bảo an như yếu tố hình ẩn trong cửa sổ nhỏ, mực không 2 màu phát quang, phát quang hàng seri, dây bảo hiểm, dải màu vàng lấp lánh, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh in nổi, mực đổi màu, hình định vị, hình bóng chìm. Nếu không đủ điều kiện thu đổi, đơn vị thu đổi trả lại cho khách hàng và thông báo lý do...
Tin Gốc: Thanh Niên

