Cùng dự có Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Phó trưởng Ban Chỉ đạo; các thành viên Ban Chỉ đạo.
Phát biểu tại phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đạt nhiều kết quả, quan trọng, thực chất, đồng thời cho rằng còn rất nhiều công việc cần làm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh bối cảnh thế giới chuyển biến nhanh, phức tạp, trong khi yêu cầu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 mang khát vọng rất lớn, mục tiêu rất cao. Vì thế, công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế phải dự báo sớm, tham mưu nhanh, chính xác và hành động chủ động, phục vụ trực tiếp hơn cho phát triển, tự chủ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Ban Chỉ đạo cần phát huy cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, điều phối để xử lý những vấn đề lớn, mới, khó, liên ngành, liên lĩnh vực, vượt thẩm quyền một cơ quan cụ thể. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao cơ quan thường trực là Bộ Ngoại giao tiếp thu các ý kiến tại phiên họp, hoàn thiện văn bản theo hướng rõ thẩm quyền, rõ quy trình, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ cơ chế theo dõi, kiểm tra, thiết lập kỷ luật thực thi bằng phương châm 6 rõ (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền).
Về nhiệm vụ trước mắt cần tập trung trong 6 tháng cuối năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ cần hoàn thiện ngay các văn bản nền tảng để Ban Chỉ đạo vận hành thống nhất, hiệu quả; giao cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công thương, các ban, bộ, ngành, địa phương liên quan rà soát toàn diện việc thực hiện các cam kết, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế quan trọng; tổ chức sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết 59; chuẩn bị xây dựng Chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Ban Chỉ đạo bắt tay ngay vào công việc, quán triệt tinh thần “nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”, xây dựng Ban Chỉ đạo thực sự trở thành cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, điều phối thống nhất, đôn đốc quyết liệt, kiểm tra nghiêm minh, góp phần đưa đối ngoại và hội nhập quốc tế phục vụ thiết thực hơn cho phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc và nâng tầm VN trong kỷ nguyên mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Báo Thanh Niên giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường giữa Việt Nam và Ấn Độ:
1. Nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Shri Narendra Modi, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5 đến ngày 7.5.2026. Tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. Đoàn doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam cũng tham gia.
2. Ngày 6.5.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón chính thức tại Phủ Tổng thống; đặt vòng hoa tại Khu tưởng niệm Mahatma Gandhi; dự hội đàm, chiêu đãi của Thủ tướng Narendra Modi, cùng Thủ tướng Modi chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác; hội kiến và dự chiêu đãi của Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã phát biểu tại Hội đồng các vấn đề thế giới của Ấn Độ; dự và phát biểu tại Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Ấn Độ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng thăm Thành phố Mumbai và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo bang, tiếp một số doanh nghiệp; dự và phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ.
HỢP TÁC CHÍNH TRỊ
3. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi đã có cuộc hội đàm toàn diện trong không khí thân tình, cởi mở. Hai Lãnh đạo đã trao đổi về quan hệ song phương và vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm. Thủ tướng Modi chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm được Quốc hội khoá XVI tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam và bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những bước tiến vững chắc trong quá trình phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng Thủ tướng Narendra Modi về những thành tựu phát triển đất nước, nổi bật là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và hợp tác phương Nam toàn cầu. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh, việc làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước, với Ấn Độ là "tầm nhìn Ấn Độ phát triển vào năm 2047" và "mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao đến năm 2045".
4. Hai lãnh đạo chia sẻ quan điểm về những diễn biến mang tính bước ngoặt trong cục diện khu vực và toàn cầu, khẳng định nền tảng vững chắc của quan hệ hai nước dựa trên sự tin cậy, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, tầm nhìn chung và hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí tiếp tục nâng tầm quan hệ song phương Việt Nam - Ấn Độ lên Đối tác Chiến lược toàn diện tăng cường trên tinh thần "chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất", với mong muốn biến ý chí thành kết quả cụ thể.
5. Hai bên ghi nhận năm 2026 đánh dấu kỷ niệm 10 năm thiết lập Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ và nhất trí tổ chức kỷ niệm dưới các hình thức phù hợp. Hai bên hoan nghênh những tiến triển trong quan hệ song phương trong thập kỷ qua và nhất trí triển khai hiệu quả các kết quả đạt được nhân các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao gần đây, bao gồm Tuyên bố chung về tăng cường Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện tháng 8 năm 2024, Tầm nhìn chung Ấn Độ - Việt Nam vì Hòa bình, Thịnh vượng và Con người năm 2020, và kết quả của các cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước. Lãnh đạo hai nước nhất trí duy trì tiếp xúc thường xuyên ở tất cả các cấp, trong đó đặc biệt là tiếp xúc cấp cao.
6. Hai bên ghi nhận việc thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Ấn Độ - Việt Nam tại Quốc hội Ấn Độ, và hoan nghênh việc tăng cường hợp tác giữa Quốc hội hai nước; tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn nghị sĩ hai nước tại các diễn đàn đa phương, bao gồm Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
7. Hai bên đánh giá cao việc đối thoại và hợp tác thường xuyên trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác hiện có trong nhiều lĩnh vực; góp phần củng cố lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Trên tinh thần đó, hai bên nhấn mạnh Tham vấn Chính trị và Đối thoại Chiến lược, Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế, Thương mại và Khoa học là trụ cột quan trọng thúc đẩy quan hệ song phương; tổ chức thường xuyên các cơ chế về quốc phòng, an ninh, hàng hải, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, y tế, công nghệ thông tin và truyền thông, hợp tác mạng, khoa học, công nghệ, vũ trụ, năng lượng nguyên tử; đồng thời hướng tới thiết lập Đối thoại Chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng (2+2).
8. Lãnh đạo hai nước nhất trí xúc tiến triển khai hiệu quả Chương trình hành động Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2024 - 2028 và Tuyên bố chung này.
9. Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hợp tác giữa hai nền kinh tế đang phát triển nhanh; trong đó phối hợp chặt chẽ hơn giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy thương mại, đầu tư và hợp tác công nghệ. Trên nền tảng gia tăng thương mại song phương 10 năm qua, hai bên nhấn mạnh cần tiếp tục nâng cao hơn nữa thương mại hai chiều theo hướng cân bằng và cùng có lợi, nhất trí đặt mục tiêu đạt 25 tỉ USD vào năm 2030.
10. Hai bên nhất trí sẽ tạo thuận lợi hơn cho hàng hóa nước này tiếp cận thị trường nước kia, bao gồm nông sản. Hai bên hoan nghênh quyết định mở cửa thị trường cho sầu riêng Việt Nam và nho Ấn Độ, và nhất trí thúc đẩy việc mở cửa thị trưởng cho bưởi Việt Nam và lựu Ấn Độ thông qua xúc tiến tham vấn song phương để xử lý các vấn đề kỹ thuật.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy chuỗi cung ứng trong các lĩnh vực có chung lợi ích. Việt Nam khẳng định cam kết đa dạng hóa nguồn cung và tăng nhập khẩu từ Ấn Độ phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp thiết lập môi trường thể chế thuận lợi để tạo điểu kiện hơn cho doanh nghiệp hai nước, bao gồm vấn đề Giấy chứng nhận đáp ứng tiêu chuẩn. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy các cơ chế song phương để duy trì đối thoại mang tính xây dựng nhằm giải quyết các quan tâm chung.
12. Hai bên nhất trí thúc đẩy sớm hoàn tất việc rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA) trên tinh thần bảo đảm lợi ích chung, tạo thuận lợi thương mại và phù hợp với thông lệ thương mại toàn cầu hiện nay.
13. Hai bên nhất trí thúc đẩy đầu tư hai chiều, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, giao thông, sản xuất, logistics, năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh, xe điện và công nghệ thông tin, y tế, nông nghiệp và chế biến nông sản, thủy sản, du lịch và dịch vụ, và một số lĩnh vực khác. Hai bên nhất trí tăng cường liên kết giữa các hệ sinh thái khởi nghiệp và thúc đẩy hợp tác giữa các trung tâm đổi mới sáng tạo.
14. Hai bên đánh giá cao hợp tác nhiều thập kỷ qua giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực thăm dò dầu khí; trên cơ sở hợp tác cùng có lợi, hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa các hoạt động thăm dò và khai thác, bao gồm phát triển các giếng mới mà Ấn Độ quan tâm tham gia, trên cơ sở luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
15. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của thương mại điện tử và kinh tế số, nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực này thông qua chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), tham gia thương mại điện tử sâu và bền vững hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
16. Hai bên tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác y tế. Trên cơ sở các thành tựu của ngành dược phẩm Ấn Độ, hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp để thúc đẩy khả năng tham gia của các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc đấu thầu mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế công lập của Việt Nam từ năm 2027, trên cơ sở thoả thuận của hai bên. Ghi nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ, hai bên khuyến khích hợp tác chuyển đổi số trong ngành y, bao gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y tế.
17. Trên cơ sở lịch sử lâu đời và di sản phong phú của y học cổ truyền tại hai nước, hai bên nhất trí thúc đẩy trao đổi kiến thức, tăng cường hợp tác nghiên cứu và chia sẻ thực hành, khuyến khích liên kết giữa các cơ quan, tổ chức liên quan. Hai bên hoan nghênh tiến triển trong việc hoàn thiện Bản ghi nhớ về y học cổ truyền và đề xuất Bản ghi nhớ về việc thành lập Trưởng Bộ môn Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) tại Việt Nam.
18. Hai bên tái khẳng định hợp tác quốc phòng và an ninh là trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ; ghi nhận việc triển khai hiệu quả Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Đối tác Quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ đến năm 2030, cho đây là cơ sở định hướng hợp tác quốc phòng hai nước thời gian tới.
19. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác và mở rộng các hoạt động trong các lĩnh vực quốc phòng truyền thống và mới nổi, bao gồm đối thoại chính sách quốc phòng, diễn tập chung, tham vấn giữa các cơ quan tham mưu, nghiên cứu chung và đồng sản xuất các công nghệ quốc phòng mới, tăng cường các chuyến thăm của tàu hải quân và máy bay không quân, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình, chia sẻ thông tin, hợp tác thủy đạc, tổ chức triển lãm quốc phòng, xây dựng năng lực, thúc đẩy hợp tác công nghiệp quốc phòng, tăng cường an ninh và an toàn hàng hải, phối hợp trong các hoạt động tìm kiếm cứu nạn, trên cơ sở lợi ích và ưu tiên chung, đóng góp cho ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên nhất trí tăng cường mua sắm quốc phòng giữa hai nước.
20. Hai bên hoan nghênh việc triển khai ổn định các khoản tín dụng quốc phòng Ấn Độ dành cho Việt Nam, góp phần tăng cường năng lực quốc phòng của Việt Nam và thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.
21. Hai bên tỏ hài lòng về việc triển khai các thỏa thuận quốc phòng song phương, bao gồm Thỏa thuận Tương trợ Hậu cần, Bản ghi nhớ về Hỗ trợ và Hợp tác Tìm kiếm Cứu nạn Tàu ngầm, và Ý định thư về tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng.
22. Hai bên hoan nghênh lực lượng hải quân hai nước tiến hành thành công khảo sát thủy đạc chung vào tháng 5 năm 2025 ngoài khơi bờ biển Việt Nam, nhất trí thường xuyên tiến hành các hoạt động tương tự thời gian tới.
23. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ đào tạo cán bộ, nhân viên quốc phòng Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Kỹ thuật và Kinh tế Ấn Độ (ITEC), nâng cao năng lực thông qua các đội huấn luyện lục quân, hải quân và không quân Ấn Độ tại Đại học Thông tin liên lạc (TCU), Học viện Hải quân,
Trường Sĩ quan Không quân tại Nha Trang; hỗ trợ Việt Nam thành lập Công viên Phần mềm Lục quân tại Đại học Thông tin liên lạc, Nha Trang. Hai bên hoan nghênh đồng chủ trì Nhóm Công tác Chuyên gia về An ninh mạng trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM-Plus EWG) giai đoạn 2027 - 2030.
24. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác pháp luật và tư pháp, triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Luật pháp và Tư pháp Ấn Độ.
25. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Hội đồng An ninh Quốc gia Ấn Độ nhằm thực hiện các mục tiêu chung. Hai bên nhất trí mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chia sẻ thông tin, an ninh mạng, chống khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia, rửa tiền và lừa đảo trực tuyến. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, bao gồm Đối thoại An ninh Việt Nam - Ấn Độ.
26. Hai bên hoan nghênh tổ chức thành công Đối thoại Chính sách Không gian mạng Việt Nam - Ấn Độ lần thứ nhất để trao đổi về những diễn biến gần đây trong chính sách không gian mạng, đánh giá tình hình rủi ro mạng, xác định lĩnh vực hợp tác song phương, thảo luận các hoạt động xây dựng năng lực chung và phối hợp tại các diễn đàn đa phương về công nghệ thông tin và truyền thông.
27. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi kinh nghiệm và mở rộng hợp tác trong lĩnh vực an ninh, bao gồm thúc đẩy hợp tác đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ đào tạo chuyên môn, đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng ứng phó sự cố an ninh mạng, các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các hoạt động hợp tác khác trên cơ sở thống nhất chung.
28. Là các quốc gia ven biển có lịch sử giao lưu lâu đời, Việt Nam và Ấn Độ nhấn mạnh hợp tác hàng hải là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ song phương và nhất trí tăng cường hợp tác hàng hải. Hai bên ghi nhận Đối thoại An ninh Hàng hải đã góp phần củng cố lòng tin và nâng cao hiểu biết về các vấn đề cùng quan tâm và nhấn mạnh cần tổ chức thường xuyên. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ mời Việt Nam cử Sĩ quan liên lạc quốc tế tại Trung tâm Hợp nhất Thông tin khu vực Ấn Độ Dương (IFC-IOR) tại Gurugram, Ấn Độ, nhằm tăng cường nhận thức tình hình trên biển. Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh Việt Nam tham gia Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPOI) và tỏ mong muốn Việt Nam tăng cường hợp tác trong khuôn khổ sáng kiến này. Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với Ấn Độ và các đối tác khác trong khuôn khổ IPOI, đồng thời thúc đẩy sự bổ trợ giữa IPOI và Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP), và đẩy mạnh hợp tác thực chất trong Năm Hợp tác Hàng hải ASEAN - Ấn Độ 2026.
29. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác hải dương học, bao gồm xây dựng và vận hành các hệ thống quan trắc đại dương, quản lý dữ liệu, dự báo và cung cấp các dịch vụ biển, đào tạo, nâng cao năng lực và thúc đẩy nghiên cứu khoa học biển.
Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh hợp tác với Việt Nam trong xây dựng các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá tra, và tạo điều kiện cho hoạt động nhân giống và thu mua vẹm tại Ấn Độ.
30. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của công nghệ số và hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Trung ương Ấn Độ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về đổi mới tài chính và thanh toán số; nhất trí thúc đẩy kết nối các nền tảng thanh toán bán lẻ thông qua mã QR, qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch và giao dịch kinh doanh giữa hai nước.
31. Hai bên nhất trí đẩy mạnh hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và công nghệ mới nổi, bao gồm hạ tầng số, 6G, trí tuệ nhân tạo, ứng dụng công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân, khoa học biển, công nghệ sinh học, dược phẩm, vật liệu tiên tiến và khoáng sản thiết yếu; tập trung vào các sáng kiến mang tính thực tiễn như nghiên cứu chung, thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển sản phẩm trên cơ sở lợi ích chung.
32. Hai bên ghi nhận các mục tiêu của mỗi nước về khí hậu, phát triển bền vững, các ưu tiên về chuyển đổi năng lượng; nhất trí tăng cường hợp tác năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, các công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai. Hai bên ghi nhận vai trò của Sáng kiến Sứ mệnh Lối sống vì môi trường (Mission LiFE) và Liên minh Năng lượng mặt trời quốc tế (ISA). Ấn Độ hoan nghênh quan tâm của Việt Nam về việc tham gia Liên minh Nhiên liệu Sinh học Toàn cầu (GBA); ghi nhận tầm quan trọng của Liên minh Cơ sở hạ tầng chống chịu thiên tai (CDRI) trong việc tăng cường hợp tác quốc tế về ứng phó và giảm nhẹ thiên tai; khuyến khích tăng cường hợp tác ứng dụng công nghệ số và công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp thông minh, quản lý nguồn nước bền vững và kiểm soát ô nhiễm không khí.
33. Hai bên hài lòng ghi nhận tiến triển trong hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, nhất trí tăng cường triển khai các nội dung hợp tác được xác định tại Kỳ họp lần thứ 4 Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ về năng lượng nguyên tử. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam mời Ấn Độ tham gia vào lĩnh vực điện hạt nhân tại Việt Nam. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ cung cấp Cobalt-60. Hai bên nhất trí xem xét mô hình phù hợp để Ấn Độ tiếp tục cung cấp cho Việt Nam.
34. Hai bên ghi nhận tiến triển trong việc thiết lập Trạm dò tìm, thu nhận và xử lý dữ liệu ASEAN - Ấn Độ tại Việt Nam. Việt Nam nhất trí đẩy nhanh các thủ tục cần thiết để sớm hoàn thiện dự án này.
35. Hai bên hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Công ty Đất hiếm Ấn Độ (IREL) và Viện Công nghệ xạ hiếm thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM) về hợp tác trong lĩnh vực đất hiếm, và nhất trí triển khai sớm và đầy đủ thỏa thuận này.
36. Hai bên đánh giá cao quan hệ đối tác phát triển sâu rộng và có tác động thiết thực giữa hai nước, thông qua các Dự án Tác động Nhanh (QIP) trong khuôn khổ hợp tác Mekong - Sông Hằng, các chương trình học bổng Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật Ấn Độ (ITEC) và học bổng giáo dục. Hai bên hài lòng ghi nhận việc triển khai 66 dự án QIP do Ấn Độ tài trợ cho 32 trong tổng số 34 tỉnh thành của Việt Nam, mang lại tác động kinh tế-xã hội thiết thực cho địa phương và cộng đồng.
37. Hai bên nhấn mạnh chương trình ITEC là trụ cột quan trọng trong hợp tác phát triển. Việt Nam đánh giá cao Ấn Độ đã hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ Việt Nam thông qua chương trình ITEC, bao gồm các khoá đào tạo chuyên sâu, cũng như các học bổng của Hội đồng Giao lưu văn hoá Ấn Độ (ICCR).
38. Hai bên khuyến khích tăng cường trao đổi sinh viên, giảng viên và nghiên cứu giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức của hai nước; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Đại học Nalanda và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
39. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ rước Xá lợi Đức Phật sang Việt Nam tôn trí từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2025. Hai Lãnh đạo ghi nhận sự hưởng ứng sâu rộng của người dân Việt Nam đối với Xá lợi Đức Phật, phản ánh liên kết văn minh sâu sắc, di sản tinh thần chung và tình hữu nghị bền chặt giữa hai nước.
40. Hai bên ghi nhận du lịch là động lực quan trọng thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng trưởng kinh tế; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ hợp tác du lịch và nhất trí khuyến khích phát triển du lịch hai chiều bền vững, bao trùm, bao gồm du lịch văn hóa và di sản, du lịch y tế và chăm sóc sức khoẻ và các loại hình khác.
Thủ tướng Modi mời du khách Việt Nam tới thăm Con đường Phật giáo tại Ấn Độ. Hoan nghênh việc tăng cường các chuyến bay thẳng giữa hai nước, hai bên khuyến khích cơ quan hàng không dân dụng của hai nước trao đổi nhằm tăng cường hơn nữa kết nối hàng không.
41. Hai bên hoan nghênh việc ký Chương trình Hợp tác Văn hóa giai đoạn 2026 - 2030; nhất trí tiếp tục thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường kết nối nhân dân.
42. Nhấn mạnh mối liên kết văn minh giữa hai nước, Lãnh đạo hai nước khuyến khích tăng cường trao đổi giữa các học giả Phật học, tăng ni, người hành hương và sinh viên hai nước. Việt Nam đánh giá cao cam kết của Ấn Độ trong việc bảo tồn Di sản Thế giới UNESCO Mỹ Sơn, cũng như các hoạt động trùng tu, bảo tồn do Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ triển khai tại các khu A, H và K, dự án đang thực hiện tại các khu E và F, và tại Tháp Nhạn, tỉnh Đắk Lắk.
43. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam ủng hộ tổ chức Ngày Quốc tế Yoga hằng năm tại nhiều tỉnh, thành phố của Việt Nam. Hai bên ủng hộ tăng cường hợp tác hơn nữa giữa các cơ sở yoga hai nước, và thúc đẩy giao lưu văn hóa; nhất trí tăng cường trao đổi văn hoá giữa hai nước và thiết lập vị trí Giáo sư chuyên ngành Ấn Độ học tại Đại học Đà Nẵng và Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội
44. Hai bên hoan nghênh việc ký Bản ghi nhớ hợp tác giữa TP.HCM và thành phố Mumbai và khuyến khích tăng cường hơn nữa hợp tác và kết nối tương tự.
45. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác về nguồn nhân lực. Hai bên hoan nghênh thiết lập tham vấn lãnh sự nhằm xử lý các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có việc tạo thuận lợi di chuyển thị trường lao động.
46. Ghi nhận bối cảnh địa chính trị và kinh tế thế giới nhiều biến động, hai bên nhấn mạnh sự hội tụ chiến lược ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Ấn Độ nhằm thúc đẩy một trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế, trên cơ sở hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực và thế giới. Hai bên kêu gọi tăng cường tiếng nói và vai trò của các nước phương Nam trong quản trị toàn cầu.
47. Hai bên nhất trí tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương, trong đó có Liên hợp quốc. Tái khẳng định cam kết củng cố chủ nghĩa đa phương, hai bên ủng hộ mạnh mẽ cải cách các tổ chức quốc tế, bao gồm Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhằm bảo đảm tính đại diện và phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn hiện nay. Thủ tướng Modi đánh giá cao Việt Nam tiếp tục ủng hộ Ấn Độ trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khi cơ quan này được mở rộng.
48. Việt Nam hoan nghênh Ấn Độ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch BRICS năm 2026, Ấn Độ tái khẳng định cam kết ủng hộ Việt Nam trong vai trò đối tác BRICS.
49. Hai bên ghi nhận Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong Chính sách Hành động Hướng Đông, Tầm nhìn MAHASAGAR và Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Ấn Độ, góp phần thúc đẩy sự tham gia của Ấn Độ với Tiểu vùng Mekong, ASEAN và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên tái khẳng định tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở và dựa trên luật pháp quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự ủng hộ nhất quán của Ấn Độ đối với đoàn kết ASEAN và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực. Hai bên ủng hộ việc tiếp tục củng cố Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện ASEAN - Ấn Độ, bổ trợ cho quan hệ song phương của Ấn Độ với các nước thành viên.
50. Nhấn mạnh liên hệ giữa an ninh và thịnh vượng, hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không quân sự hóa và thực hiện tự kiềm chế, không có các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình hoặc gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Hai bên khẳng định UNCLOS là khuôn khổ pháp lý toàn diện điều chỉnh mọi hoạt động trên các vùng biển và đại dương; tiếp tục kêu gọi thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS, không làm phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các quốc gia, kể cả những quốc gia không phải là bên tham gia đàm phán.
51. Hai bên lên án mạnh mẽ chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện, trong đó có khủng bố xuyên biên giới. Hai bên kêu gọi chính sách không khoan nhượng với khủng bố, thúc đẩy các nỗ lực quốc tế phòng, chống khủng bố toàn diện và duy trì, bao gồm thông qua Liên hợp quốc và Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF). Hai bên kêu gọi việc ngăn chặn các mạng lưới tài trợ và cung cấp nơi trú ẩn cho khủng bố, triệt phá cơ sở hạ tầng khủng bố và nhanh chóng đưa các đối tượng khủng bố ra trước công lý.
52. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Thủ tướng Modi đã đón tiếp nồng hậu và chu đáo, và trân trọng mời Thủ tướng Modi thăm Việt Nam./.
New Delhi, ngày 06 tháng 5 năm 2026
Tin Gốc: Thanh Niên

PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo (Học viện Báo chí - Tuyên truyền) cho rằng khi nói "quan trọng hơn là để xây" thì không có nghĩa xem nhẹ việc "chống", mà là sự nhấn mạnh đặc biệt vào nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.
Thực tế trong công tác xây dựng Đảng, Đảng luôn coi trọng cả việc xây và chống, vừa kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín và thanh danh của Đảng, vừa ra sức xây dựng Đảng luôn thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong và sứ mệnh của Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, theo ông Bảo, thực tế công tác xây dựng Đảng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều biểu hiện tiêu cực, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến uy tín của Đảng mà còn khiến cho niềm tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút. Chính vì vậy, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quy định mới về công tác chính trị tư tưởng, Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường, làm tốt hơn nữa nhiệm vụ "xây".
PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo cho rằng khi mỗi cán bộ, đảng viên được rèn luyện nêu gương và tu dưỡng đạo đức suốt đời theo gương Bác Hồ, họ sẽ tự hình thành một "sức đề kháng tự nhiên" trước các luồng tư tưởng sai trái và ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, yêu cầu cần thiết đối với cán bộ, đảng viên là kiên định về mục tiêu, lý tưởng; luôn đặt lợi ích của dân tộc, giai cấp, nhân dân lên trên hết, trước hết và phải nêu gương đạo đức, tu dưỡng đạo đức suốt đời; nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.
Đồng quan điểm, ông Hoàng Ngọc Đạo, Trưởng khoa Lý luận cơ sở, Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh: xây về bản chất cũng có nghĩa là chống.
"Trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta sẽ xây dựng nhiều tấm gương, nhiều hình ảnh, nhiều việc làm tốt đẹp để xây dựng niềm tin lòng tin trong quần chúng nhân dân, trong cán bộ đảng viên và hình ảnh của VN trước bạn bè quốc tế. Chúng ta đẹp như vậy thì không có cái gì để kẻ thù nói xấu, tức là chống rồi", ông Đạo nói và nhấn mạnh tư duy này tương đồng với nguyên lý dùng sự tích cực để đẩy lùi tiêu cực một cách tự nhiên và bền vững.
Để công tác chính trị thực sự giữ vai trò "đi trước, mở đường", theo PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo, công tác chính trị, tư tưởng phải luôn làm tốt và thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ những thời cơ, vận hội cũng như khó khăn, thách thức, để từ đó luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định công cuộc đổi mới.
Cạnh đó, cần khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc; cùng chung tay chung sức quyết tâm xây dựng, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, làm rõ những âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, đặc biệt trên không gian mạng; từ đó nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại những toan tính của các lực lượng phản động, thù địch.
Công tác chính trị, tư tưởng, đặc biệt là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu cần chỉ ra những điểm nghẽn, nút thắt đặt ra cả về KT-XH, từ đó đề xuất những giải pháp từng bước tháo gỡ một cách có hiệu quả để tiếp tục phát triển.
Quy định mới về công tác chính trị, tư tưởng được ban hành với mục tiêu khắc phục hiệu quả tình trạng "nói không đi đôi với làm", hiểu rõ, nắm được đường lối, chủ trương nhưng không thực hiện; tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung; giải quyết dứt điểm tình trạng "luật đúng nhưng làm khó" đang gây lãng phí nguồn lực.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hải Phòng, thẳng thắn nhìn nhận trong không ít lĩnh vực, không thiếu chủ trương đúng, thậm chí rất đúng; không thiếu quy định pháp luật, cũng không thiếu các chương trình hành động được xây dựng công phu; nhưng khoảng cách từ "đúng" đến "được thực hiện" vẫn còn khá xa.
Một bộ phận cán bộ nắm rõ quy định, hiểu rõ yêu cầu nhưng triển khai chậm, né tránh, thậm chí đùn đẩy trách nhiệm. Điều này không chỉ làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách mà còn bào mòn niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Để khắc phục tình trạng này, bà Nga cho rằng cần tiếp cận từ cả 2 chiều: siết chặt trách nhiệm thực thi và đồng thời tạo dựng môi trường để cán bộ dám hành động. Theo đó, bà Nga đề nghị cần thiết lập một cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân rõ ràng, cụ thể và có thể đo lường được.
Mọi chủ trương, chính sách khi ban hành phải đi kèm với địa chỉ trách nhiệm: ai chịu trách nhiệm chính, ai phối hợp, thời hạn hoàn thành là khi nào, tiêu chí đánh giá ra sao. "Không thể để tình trạng báo cáo chung chung, "đúng quy trình" nhưng không phản ánh được hiệu quả thực chất", bà Nga nêu.
Cùng với đó, bà Nga cho rằng cần tăng cường cơ chế hậu kiểm và xử lý trách nhiệm. "Nếu "nói không đi đôi với làm" mà không có hệ quả rõ ràng thì rất khó tạo chuyển biến. Việc đánh giá cán bộ cần chuyển mạnh từ "đánh giá quá trình" sang "đánh giá kết quả", lấy sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo", bà Nga phân tích.
Tuy nhiên, theo nữ đại biểu, siết kỷ luật thôi là chưa đủ vì một nguyên nhân sâu xa của tình trạng "biết nhưng không làm" là tâm lý e ngại rủi ro, sợ sai, sợ trách nhiệm của không ít cán bộ. Do đó, bà đề nghị cần sớm hoàn thiện khung thể chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
"Trước hết là làm rõ ranh giới giữa "sai phạm vì vụ lợi" và "rủi ro trong quá trình đổi mới, sáng tạo". Những quyết định được đưa ra trên cơ sở vì lợi ích chung, có căn cứ, có quy trình, dù kết quả chưa như mong muốn, cần được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan", bà Nga kiến nghị.
TS Nguyễn Viết Chức, Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Văn hóa - xã hội, Ủy ban T.Ư MTTQ VN, thì cho rằng để khắc phục tình trạng "nói không đi đôi với làm" cần giải quyết 2 điểm mấu chốt: tăng cường công khai, minh bạch và phải thay đổi cách đánh giá cán bộ.
"Minh bạch, công khai là phương thuốc tốt nhất. Minh bạch không chỉ giúp cán bộ không dám làm sai, mà còn giúp họ tự tin làm đúng. Đây còn là cơ sở quan trọng để người dân có đủ căn cứ để mà tham gia giám sát, bảo vệ cán bộ", ông Chức nói và kiến nghị cần công khai, minh bạch tất cả quy trình, thủ tục hành chính cũng như tài sản cán bộ.
Về đánh giá cán bộ, TS Nguyễn Viết Chức đồng tình phải có cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm. "Chính phủ đã có nghị định về bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, song dường như vẫn chưa thực sự thẩm thấu vào đời sống.
Sau Hội nghị T.Ư 2, cần có đề án để tuyên truyền, triển khai đến từng cấp cơ sở, từng đảng viên, và với cả từng người dân. Người dân không thể đứng ngoài cuộc mà cần thực hiện giám sát, phản biện, đó cũng là cách thức để bảo vệ cán bộ", ông Chức nói.
Sau cùng, yếu tố con người vẫn là then chốt. Theo bà Việt Nga, cùng với hoàn thiện thể chế, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, có năng lực và có đạo đức công vụ.
Khi mỗi cán bộ ý thức rõ trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời được đặt trong một hệ thống thể chế minh bạch, công bằng, thì thông điệp "nói đi đôi với làm" sẽ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, mà trở thành chuẩn mực hành động trong bộ máy.
Nguồn: https://thanhnien.vn/de-cong-tac-chinh-tri-tu-tuong-thuc-su-di-truoc-mo-duong-185260406214102239.htm

Sáng 13.5, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã chủ trì cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo của Quốc hội về phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và Ban Chỉ đạo chuyển đổi số của Quốc hội.
Tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn giao Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến chỉ đạo hợp nhất 2 ban chỉ đạo thành một, đề xuất để Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt danh sách thành viên; sửa đổi, thay thế các nghị quyết có liên quan. Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ban Chỉ đạo phải sát sao công việc, không để công việc chậm, muộn; cương quyết thực hiện chủ trương "ai không tham gia, không đáp ứng được yêu cầu thì phải đứng sang một bên".
Về lan tỏa kết quả thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số - Quốc hội số", Chủ tịch Quốc hội yêu cầu Thường trực Ủy ban KH-CN và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Bộ KH-CN, Bộ Công an để triển khai. Về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giai đoạn 2026 - 2027, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, AI cần được tích hợp vào các quy trình nghiệp vụ trọng tâm của Quốc hội, gồm lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đối ngoại, công tác đại biểu, dân nguyện và các lĩnh vực liên quan.
Chủ tịch Quốc hội cũng yêu cầu xây dựng hệ sinh thái hợp tác trong và ngoài nước, kết nối Quốc hội với các nghị viện trên thế giới và cộng đồng AI tại VN. Tới đây sẽ nghiên cứu thành lập trung tâm AI riêng của Quốc hội để phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ lập pháp, giám sát tối cao, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và kết nối với các nghị viện trên thế giới.
Chủ tịch Quốc hội cũng chỉ rõ, Văn phòng Quốc hội tham mưu Ban Chỉ đạo lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiệm vụ chuyển đổi số, gắn với đổi mới phương thức làm việc, nâng cao chất lượng công việc, cải cách hành chính và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân. Chủ tịch Quốc hội yêu cầu, dữ liệu phải coi là tài sản chiến lược của Quốc hội, từ đó xây dựng và ban hành chiến lược dữ liệu số của Quốc hội và kế hoạch số hóa kho dữ liệu lưu trữ của Quốc hội; phải bảo đảm kết nối, chia sẻ với Trung tâm dữ liệu quốc gia và các hạ tầng kết nối dữ liệu của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu khẩn trương triển khai mạng mật và hệ thống điều hành tác nghiệp mật dùng chung trong khối các cơ quan của Quốc hội, hoàn thành trong quý 2/2026. Cùng đó, cần phát triển nguồn nhân lực số, văn hóa số và cơ chế thu hút chuyên gia; hoàn thiện quy chế, quy trình, cơ chế phối hợp và bộ tiêu chí đánh giá chuyển đổi số. Đối với các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội đề nghị tăng cường trách nhiệm tham gia trong quá trình thử nghiệm, đánh giá các hệ thống thông tin, ứng dụng số.
Tin Gốc: Thanh Niên
