PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo (Học viện Báo chí – Tuyên truyền) cho rằng khi nói “quan trọng hơn là để xây” thì không có nghĩa xem nhẹ việc “chống”, mà là sự nhấn mạnh đặc biệt vào nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.
Thực tế trong công tác xây dựng Đảng, Đảng luôn coi trọng cả việc xây và chống, vừa kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín và thanh danh của Đảng, vừa ra sức xây dựng Đảng luôn thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong và sứ mệnh của Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, theo ông Bảo, thực tế công tác xây dựng Đảng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều biểu hiện tiêu cực, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến uy tín của Đảng mà còn khiến cho niềm tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút. Chính vì vậy, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quy định mới về công tác chính trị tư tưởng, Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường, làm tốt hơn nữa nhiệm vụ “xây”.
PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo cho rằng khi mỗi cán bộ, đảng viên được rèn luyện nêu gương và tu dưỡng đạo đức suốt đời theo gương Bác Hồ, họ sẽ tự hình thành một “sức đề kháng tự nhiên” trước các luồng tư tưởng sai trái và ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, yêu cầu cần thiết đối với cán bộ, đảng viên là kiên định về mục tiêu, lý tưởng; luôn đặt lợi ích của dân tộc, giai cấp, nhân dân lên trên hết, trước hết và phải nêu gương đạo đức, tu dưỡng đạo đức suốt đời; nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.
Đồng quan điểm, ông Hoàng Ngọc Đạo, Trưởng khoa Lý luận cơ sở, Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh: xây về bản chất cũng có nghĩa là chống.
“Trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta sẽ xây dựng nhiều tấm gương, nhiều hình ảnh, nhiều việc làm tốt đẹp để xây dựng niềm tin lòng tin trong quần chúng nhân dân, trong cán bộ đảng viên và hình ảnh của VN trước bạn bè quốc tế. Chúng ta đẹp như vậy thì không có cái gì để kẻ thù nói xấu, tức là chống rồi”, ông Đạo nói và nhấn mạnh tư duy này tương đồng với nguyên lý dùng sự tích cực để đẩy lùi tiêu cực một cách tự nhiên và bền vững.
Để công tác chính trị thực sự giữ vai trò “đi trước, mở đường”, theo PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo, công tác chính trị, tư tưởng phải luôn làm tốt và thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ những thời cơ, vận hội cũng như khó khăn, thách thức, để từ đó luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định công cuộc đổi mới.
Cạnh đó, cần khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc; cùng chung tay chung sức quyết tâm xây dựng, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, làm rõ những âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, đặc biệt trên không gian mạng; từ đó nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại những toan tính của các lực lượng phản động, thù địch.
Công tác chính trị, tư tưởng, đặc biệt là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu cần chỉ ra những điểm nghẽn, nút thắt đặt ra cả về KT-XH, từ đó đề xuất những giải pháp từng bước tháo gỡ một cách có hiệu quả để tiếp tục phát triển.
Quy định mới về công tác chính trị, tư tưởng được ban hành với mục tiêu khắc phục hiệu quả tình trạng “nói không đi đôi với làm”, hiểu rõ, nắm được đường lối, chủ trương nhưng không thực hiện; tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung; giải quyết dứt điểm tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” đang gây lãng phí nguồn lực.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hải Phòng, thẳng thắn nhìn nhận trong không ít lĩnh vực, không thiếu chủ trương đúng, thậm chí rất đúng; không thiếu quy định pháp luật, cũng không thiếu các chương trình hành động được xây dựng công phu; nhưng khoảng cách từ “đúng” đến “được thực hiện” vẫn còn khá xa.
Một bộ phận cán bộ nắm rõ quy định, hiểu rõ yêu cầu nhưng triển khai chậm, né tránh, thậm chí đùn đẩy trách nhiệm. Điều này không chỉ làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách mà còn bào mòn niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Để khắc phục tình trạng này, bà Nga cho rằng cần tiếp cận từ cả 2 chiều: siết chặt trách nhiệm thực thi và đồng thời tạo dựng môi trường để cán bộ dám hành động. Theo đó, bà Nga đề nghị cần thiết lập một cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân rõ ràng, cụ thể và có thể đo lường được.
Mọi chủ trương, chính sách khi ban hành phải đi kèm với địa chỉ trách nhiệm: ai chịu trách nhiệm chính, ai phối hợp, thời hạn hoàn thành là khi nào, tiêu chí đánh giá ra sao. “Không thể để tình trạng báo cáo chung chung, “đúng quy trình” nhưng không phản ánh được hiệu quả thực chất”, bà Nga nêu.
Cùng với đó, bà Nga cho rằng cần tăng cường cơ chế hậu kiểm và xử lý trách nhiệm. “Nếu “nói không đi đôi với làm” mà không có hệ quả rõ ràng thì rất khó tạo chuyển biến. Việc đánh giá cán bộ cần chuyển mạnh từ “đánh giá quá trình” sang “đánh giá kết quả”, lấy sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo”, bà Nga phân tích.
Tuy nhiên, theo nữ đại biểu, siết kỷ luật thôi là chưa đủ vì một nguyên nhân sâu xa của tình trạng “biết nhưng không làm” là tâm lý e ngại rủi ro, sợ sai, sợ trách nhiệm của không ít cán bộ. Do đó, bà đề nghị cần sớm hoàn thiện khung thể chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
“Trước hết là làm rõ ranh giới giữa “sai phạm vì vụ lợi” và “rủi ro trong quá trình đổi mới, sáng tạo”. Những quyết định được đưa ra trên cơ sở vì lợi ích chung, có căn cứ, có quy trình, dù kết quả chưa như mong muốn, cần được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan”, bà Nga kiến nghị.
TS Nguyễn Viết Chức, Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Văn hóa – xã hội, Ủy ban T.Ư MTTQ VN, thì cho rằng để khắc phục tình trạng “nói không đi đôi với làm” cần giải quyết 2 điểm mấu chốt: tăng cường công khai, minh bạch và phải thay đổi cách đánh giá cán bộ.
“Minh bạch, công khai là phương thuốc tốt nhất. Minh bạch không chỉ giúp cán bộ không dám làm sai, mà còn giúp họ tự tin làm đúng. Đây còn là cơ sở quan trọng để người dân có đủ căn cứ để mà tham gia giám sát, bảo vệ cán bộ”, ông Chức nói và kiến nghị cần công khai, minh bạch tất cả quy trình, thủ tục hành chính cũng như tài sản cán bộ.
Về đánh giá cán bộ, TS Nguyễn Viết Chức đồng tình phải có cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm. “Chính phủ đã có nghị định về bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, song dường như vẫn chưa thực sự thẩm thấu vào đời sống.
Sau Hội nghị T.Ư 2, cần có đề án để tuyên truyền, triển khai đến từng cấp cơ sở, từng đảng viên, và với cả từng người dân. Người dân không thể đứng ngoài cuộc mà cần thực hiện giám sát, phản biện, đó cũng là cách thức để bảo vệ cán bộ”, ông Chức nói.
Sau cùng, yếu tố con người vẫn là then chốt. Theo bà Việt Nga, cùng với hoàn thiện thể chế, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, có năng lực và có đạo đức công vụ.
Khi mỗi cán bộ ý thức rõ trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời được đặt trong một hệ thống thể chế minh bạch, công bằng, thì thông điệp “nói đi đôi với làm” sẽ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, mà trở thành chuẩn mực hành động trong bộ máy.
Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19.12.1946 - 19.12.2026) và 60 năm Ngày Người ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược (17.7.1966 - 17.7.2026).
Dự và chủ trì lễ dâng hoa có ông Lê Quốc Phong, Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM, Trưởng ban Chỉ đạo hội thảo. Cùng dự có trung tướng Nguyễn Bá Lực, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; trung tướng Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược và lịch sử quốc phòng Việt Nam; thiếu tướng Trần Chí Tâm, Phó chính ủy Quân khu 7 cùng các đại biểu, nhà khoa học, cán bộ, sĩ quan quân đội.
Trong không khí trang nghiêm, các đại biểu đã dâng những đóa hoa tươi thắm trước tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao to lớn của Người trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu bày tỏ niềm xúc động, tự hào khi tham dự hội thảo khoa học có ý nghĩa sâu sắc, nhằm khẳng định giá trị lịch sử, tầm vóc thời đại của hai lời kêu gọi thiêng liêng của Người. Đây không chỉ là những văn kiện có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc mà còn là nguồn cổ vũ to lớn, hun đúc ý chí độc lập, tự chủ, tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Ngày 5.6, tại TP.HCM, Bộ Quốc phòng và Thành ủy TP.HCM sẽ đồng chủ trì hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng với chủ đề: "Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến - Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước - Ý chí bảo vệ độc lập, tự do với tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam".
Hội thảo sẽ tập trung làm rõ hoàn cảnh ra đời, nội dung cốt lõi, giá trị lịch sử và thời đại của hai lời kêu gọi; phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Đồng thời, các tham luận cũng luận giải giá trị lý luận, thực tiễn của ý chí bảo vệ độc lập, tự do gắn với tinh thần tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự tin dân tộc.
Từ đó, hội thảo đề xuất các giải pháp phát huy giá trị của hai lời kêu gọi trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong tình hình mới.
Theo ban tổ chức, hệ thống bài viết phục vụ hội thảo gồm 100 bài, trong đó có 5 bài phát biểu, báo cáo và 95 bài tham luận. Các tham luận bám sát chủ đề, có cách tiếp cận phong phú, góp phần làm rõ hơn bối cảnh lịch sử, giá trị tư tưởng và ý nghĩa thực tiễn của hai lời kêu gọi kháng chiến.
Phát biểu tại diễn đàn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đang đứng trước cơ hội lịch sử để nâng cấp lên kết nối chiến lược trong các chuỗi giá trị mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, hợp tác hai nước phải đặt trong dòng chảy của những trung tâm tăng trưởng năng động nhất và các xu thế tiên phong của thế giới như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và chuyển đổi xanh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ Việt Nam kiên định con đường phát triển dựa trên ổn định, hội nhập và đổi mới sáng tạo và đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam tập trung vào 3 trụ cột lớn: hoàn thiện thể chế hiện đại, minh bạch, tiệm cận chuẩn mực quốc tế; phát triển hạ tầng chiến lược đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng số, năng lượng và logistics; thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Việt Nam tiếp tục củng cố môi trường chính trị - xã hội ổn định, nâng cao chất lượng điều hành và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư hấp dẫn, mà còn là đối tác tin cậy, đồng hành lâu dài cùng doanh nghiệp quốc tế. Trong cấu trúc kinh tế khu vực đang định hình lại, Việt Nam và Ấn Độ không chỉ là hai nền kinh tế đang phát triển năng động, mà còn là hai cực quan trọng kết nối Đông Nam Á và Nam Á trong không gian Ấn Độ Dương Thái Bình Dương.
Nếu Việt Nam là cửa ngõ của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gắn với mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thì Ấn Độ là trung tâm của Nam Á, có vai trò ngày càng lớn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự kết nối giữa hai nền kinh tế vì vậy không chỉ mang ý nghĩa song phương, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường rộng lớn và các chuỗi giá trị đang hình thành.
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Ấn Độ trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Thực tiễn hợp tác gần đây cho thấy những tín hiệu tích cực. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng đầu tư tại Ấn Độ trong các lĩnh vực mới như xe điện, hạ tầng sạc và dịch vụ công nghệ.
Ngược lại, doanh nghiệp Ấn Độ tại Việt Nam đã tham gia vào nhiều lĩnh vực sản xuất, năng lượng và chế biến. Những bước đi này tuy còn khiêm tốn nhưng rất có ý nghĩa, thể hiện xu hướng chuyển từ giao dịch sang gắn kết, từ thương mại sang đầu tư và cùng phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ đã đến lúc hợp tác Việt Nam - Ấn Độ cần được nâng lên một tầm cao mới - không chỉ mở rộng về quy mô, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, chiều sâu và giá trị chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị cộng đồng doanh nghiệp hai nước tập trung vào các ưu tiên hợp tác đột phá: mở rộng thương mại theo hướng cân bằng và bền vững hơn, tận dụng tốt hơn tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế; thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực then chốt của tương lai như công nghệ thông tin, AI, bán dẫn, dược phẩm, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, logistics, trung tâm dữ liệu và nghiên cứu phát triển.
Đồng thời, tăng cường kết nối hạ tầng, logistics, hàng không và du lịch, tạo điều kiện để dòng hàng hóa, dòng vốn và nguồn nhân lực lưu chuyển thuận lợi hơn; đẩy mạnh hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển giao tri thức, phát huy thế mạnh bổ trợ giữa hai nền kinh tế.
Việt Nam cam kết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tăng cường đối thoại và tạo môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh lành mạnh. Việt Nam mong muốn không chỉ là nơi các doanh nghiệp đến đầu tư, mà là nơi các doanh nghiệp có thể phát triển lâu dài và gắn bó bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong các doanh nghiệp Việt Nam và Ấn Độ chủ động hơn, mạnh dạn hơn trong đầu tư, liên kết, chia sẻ công nghệ và mở rộng thị trường, biến những cuộc gặp, trao đổi, tiếp xúc thành những thỏa thuận, hợp đồng, dự án cụ thể. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng sẽ luôn đồng hành cùng với cộng đồng doanh nghiệp đưa các dự án, hợp đồng, thỏa thuận hợp tác trở thành những câu chuyện thành công mới trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.
Tại diễn đàn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và ông Shri Devendra Fadnavis, Thủ hiến bang Maharashtra, cùng lãnh đạo cấp cao hai nước đã chứng kiến lễ trao các thỏa thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp của hai bên.
Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố:
1. Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka từ ngày 7 đến ngày 8.52026. Ngày 8.5.2026, tại Phủ Tổng thống, Thủ đô Colombo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón trọng thể với 21 loạt đại bác chào mừng và hội đàm với Tổng thống Sri Lanka. Hai nhà lãnh đạo cũng đồng chủ trì gặp gỡ báo chí chung, dâng hoa tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Thư viện Công cộng Colombo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến và cùng Thủ tướng Harini Amarasuriya dự lễ khai mạc Diễn đàn Thương mại - Đầu tư - Du lịch Việt Nam - Sri Lanka tại Colombo; hội kiến Chủ tịch Quốc hội Jagath Wickramaratne và phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka.
2. Chuyến thăm tái khẳng định tình hữu nghị truyền thống và sự tin cậy hơn 55 năm qua được vun đắp dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, các giá trị và cam kết chung vì hòa bình, ổn định và phát triển. Quan hệ song phương càng được thúc đẩy bởi khát vọng chung về hòa bình, độc lập, tự cường, bởi tầm nhìn chung về an ninh, thịnh vượng kinh tế, phát triển bền vững, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
3. Tại hội đàm, Tổng thống Dissanayake gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhân dịp đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện sự tin tưởng và tín nhiệm sâu sắc. Tổng thống Dissanayake bày tỏ tin tưởng chắc chắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những thành tựu to lớn và phát triển bền vững hơn nữa.
Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi toàn diện và thực chất về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hài lòng trước sự phát triển của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước và chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện.
Với việc nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện, Hai nhà lãnh đạo cam kết tiếp tục củng cố và tăng cường hợp tác hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực. Việc nâng cấp này cũng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
4. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường tiếp xúc, trao đổi cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh, trong đó có giao lưu nhân dân để làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có.
5. Hai bên cũng nhất trí về tầm quan trọng và nhu cầu thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước thông qua trao đổi giữa các ủy ban, nhất là giữa nhóm nữ đại biểu quốc hội, nhóm đại biểu quốc hội trẻ; thúc đẩy thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Sri Lanka.
6. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011; khuyến khích các hoạt động hợp tác thực chất hơn, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc; nhất trí hợp tác trong các lĩnh vực như dịch vụ sửa chữa và mua sắm thiết bị quốc phòng; đẩy nhanh đàm phán, hướng tới ký kết các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng để tạo cơ sở hợp tác; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng.
7. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh và nhất trí triển khai hiệu quả cơ chế đối thoại an ninh; rà soát, cập nhật Thỏa thuận hợp tác về đấu tranh, phòng chống tội phạm ký năm 2009; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, khủng bố, nhập cư bất hợp pháp; mở rộng hợp tác an ninh hàng hải, cảnh sát và an ninh mạng.
8. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa hai nước thông qua việc đàm phán và ký kết bản ghi nhớ hợp tác mới giữa hai Bộ Tư pháp để thay thế bản ghi nhớ ký năm 2013 đã hết hiệu lực.
9. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác thương mại và đầu tư song phương. Hai bên nhất trí nâng cao hiệu quả thực chất cơ chế Tiểu ban Thương mại hỗn hợp và thực hiện các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường hợp tác thương mại, bao gồm tạo thuận lợi về thương mại, trao đổi thông tin và thúc đẩy doanh nghiệp. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng to lớn của việc mở rộng hơn nữa hợp tác kinh tế và nhất trí đạt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 1 tỷ USD vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, phía Việt Nam ghi nhận mong muốn của Sri Lanka về việc sớm trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
10. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư giữa hai nước. Phía Việt Nam đánh giá cao đầu tư của Sri Lanka tại Việt Nam; phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn thu hút thêm đầu tư từ Việt Nam. Hai bên sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hướng đến một số dự án mang tính biểu tượng trong các lĩnh vực như hạ tầng, viễn thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, bán lẻ, logistics, hạ tầng du lịch và năng lượng tái tạo.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa; thúc đẩy ký kết văn kiện hợp tác về chuyển đổi số; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển, cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin.
12. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến chia sẻ kiến thức và nâng cao năng lực. Hai bên cũng nhất trí tích cực triển khai kế hoạch công tác giai đoạn 2024 - 2026 trên cơ sở Bản ghi nhớ năm 2009 về Hợp tác phát triển nông nghiệp và chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.
13. Phía Sri Lanka đề nghị Việt Nam cung cấp phân bón phục vụ canh tác lúa gạo theo thỏa thuận cấp Chính phủ. Xét tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với cả hai nước và những thách thức hiện tại về nguồn cung, phía Việt Nam xem xét tích cực đề nghị này.
14. Ghi nhận mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tình hữu nghị lâu đời, các hoạt động giao lưu Phật giáo trải dài qua nhiều thế kỷ và bắt nguồn từ những giá trị chung cũng như di sản văn hóa phong phú, hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình giao lưu, quảng bá văn hóa, lịch sử và thể thao; tăng cường kết nối giữa các tổ chức Phật giáo; thúc đẩy đối thoại liên văn hóa và nghiên cứu tổ chức các diễn đàn, hoạt động hành hương và tiến tới đồng đăng cai các sự kiện Phật giáo khu vực và quốc tế.
15. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm triển khai hiệu quả các cơ chế song phương hiện có trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nhất trí hợp tác sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình giới thiệu về văn hóa, con người và lịch sử của hai nước.
16. Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác giáo dục, hai bên nhất trí khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu hai bên, triển khai việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh hai nước.
17. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những chuyển biến trong nỗ lực sớm đưa vào vận hành các đường bay thẳng giữa hai nước ngay trong năm nay, nhằm tăng cường kết nối, thúc đẩy hiệu quả hợp tác du lịch, thương mại và giao lưu nhân dân.
18. Sri Lanka và Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của thúc đẩy hợp tác giữa các hội hữu nghị, hội đoàn kết hai nước; nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, trong đó có giao lưu thanh niên, phụ nữ và mở rộng hơn nữa giao lưu nhân dân.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác khu vực và đa phương, đặc biệt là trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), coi đây là nền tảng quan trọng cho đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực chất về các vấn đề cùng quan tâm. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, bao gồm việc đồng chủ trì cuộc họp giữa kỳ của ARF về cứu trợ thiên tai gần đây và nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác trong quản lý thiên tai và hỗ trợ nhân đạo. Phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn trở thành Đối tác Đối thoại theo Lĩnh vực của ASEAN và cảm ơn sự ủng hộ liên tục của Việt Nam về vấn đề này.
20. Sri Lanka và Việt Nam tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tự do hàng hải, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế ổn định và hòa bình.
21. Hai bên nhất trí ủng hộ chủ nghĩa đa phương với vai trò trung tâm của Liên Hiệp Quốc; nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết (NAM), Hợp tác Nam - Nam, Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện Châu Á - Thái Bình Dương (APPF) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
22. Hai nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các thách thức toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu; nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động chung, đặc biệt là hỗ trợ các nước đang phát triển thông qua khả năng tiếp cận tài chính khí hậu và chuyển giao công nghệ. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng. Sri Lanka bày tỏ ủng hộ sáng kiến thành lập Trung tâm khu vực về chống tội phạm mạng của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) tại Hà Nội.
23. Nhân chuyến thăm, hai nước đã ký một số văn kiện hợp tác về an ninh, khoa học và công nghệ, tôn giáo, văn hóa, thông tin và truyền thông.
24. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Sri Lanka về sự đón tiếp trọng thị, thân tình và nồng hậu dành cho đoàn trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Sri Lanka.
1. Bản ghi nhớ giữa Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an Việt Nam và Học viện Cảnh sát quốc gia, Bộ Công an và các vấn đề Nghị viện Sri Lanka.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Khoa học - Công nghệ Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ Sri Lanka về các lĩnh vực khoa học và công nghệ.
3. Bản ghi nhớ giữa Bộ Dân tộc - Tôn giáo Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác văn hóa giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
5. Bản ghi nhớ hợp tác về hợp tác trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Y tế - Truyền thông đại chúng Sri Lanka.