UBND tỉnh Khánh Hòa vừa công bố bản điều chỉnh quy hoạch tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Một trong những nội dung trong quy hoạch đang thu hút sự quan tâm của dư luận đó là việc phát triển loại hình thủy phi cơ tại các vịnh biển trên địa bàn tỉnh này.
Theo quy hoạch, Khánh Hòa sẽ phát triển bến du thuyền, cảng hành khách quốc tế, dịch vụ du lịch biển và thủy phi cơ tại Bắc Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh.
Trong khi đó, dịch vụ bay thủy phi cơ ngắm vịnh Hạ Long đã bị dừng từ 1-4-2026.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Phạm Bích Ngọc – Nghiên cứu viên cao cấp, Phó trưởng Phòng Kinh tế vĩ mô và phát triển doanh nghiệp, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới – cho rằng loại hình thủy phi cơ hướng tới phân khúc khách cao cấp, những người sẵn sàng chi trả để đổi lấy trải nghiệm ngắm cảnh từ trên cao, rút ngắn thời gian di chuyển.
Theo bà Ngọc, một trong những vấn đề cần đặc biệt lưu ý đối với mô hình này là yêu cầu về quốc phòng- an ninh, việc khai thác thủy phi cơ phải được quy hoạch rõ ràng, xác định cụ thể các khu vực được phép hoạt động nhằm bảo đảm vừa phát triển du lịch, vừa không ảnh hưởng các nhiệm vụ khác.
Từ câu chuyện ở Hạ Long, bà Ngọc đánh giá nguyên nhân khiến mô hình thủy phi cơ không duy trì được là do chi phí vận hành quá lớn, trong khi quy mô thị trường còn hạn chế nên doanh nghiệp khó có thể nâng giá dịch vụ lên quá cao để bù đắp chi phí vì vậy việc phát triển thủy phi cơ tại Khánh Hòa cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, tránh đầu tư ồ ạt ngay từ đầu.
“Nên triển khai thủy phi cơ theo từng giai đoạn, với lộ trình phù hợp, gắn với nhu cầu thực tế của thị trường và khả năng khai thác của doanh nghiệp.
Chỉ khi hình thành được một hệ sinh thái du lịch đồng bộ thì thủy phi cơ mới có thể phát triển bền vững và khi đó thủy phi cơ phải được định vị là một sản phẩm du lịch trải nghiệm cao cấp, không phải một phương tiện vận tải đại trà” – bà Ngọc nói.
TS Nguyễn Đức Trí – Trưởng Khoa Du lịch, Đại học Kinh tế TP.HCM – cho rằng loại hình thủy phi cơ cần phải có đội ngũ chuyên nghiệp, đồng thời phải có đội ngũ sale chất lượng để tìm kiếm nguồn khách hàng hiệu quả.
Theo ông Trí, hiện nay nhu cầu của du khách bắt đầu đi vào chiều sâu. Trước đây, du khách chỉ tham quan, ăn uống trong khi hiện tại du khách muốn có những trải nghiệm vừa có tính giải trí vừa mang tính thể thao, vì vậy dịch vụ thủy phi cơ rất phù hợp để đáp ứng nhu cầu này.
Để phát triển hiệu quả thủy phi cơ, ngành du lịch và Khánh Hòa cần phải xin phép các khu vực có thể hoạt động, đồng thời giai đoạn đầu nên tổ chức thí điểm trong khu vực nhất định rồi mới nhân rộng.
Ông Nguyễn Phi Hồng Nguyên – Chi hội phó Chi hội Lữ hành, Hiệp hội Du lịch Khánh Hòa – cho rằng hiện nay du lịch thủy phi cơ ở Việt Nam vẫn đang gặp một số vướng mắc liên quan đến an ninh- quốc phòng.
Nếu tháo gỡ tốt các vướng mắc, loại hình du lịch thủy phi cơ sẽ là một trong những xu hướng mới, thu hút dòng khách cao cấp đến Khánh Hòa.
Nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí Nature ngày 11/6 cho thấy, một trong những nghĩa địa cá voi lớn và sâu nhất từng được biết tới dưới đáy Ấn Độ Dương không chỉ là nơi an nghỉ của vô số xác cá voi suốt hàng triệu năm, mà còn là hệ sinh thái đặc biệt nuôi dưỡng nhiều sinh vật biển.
Phát hiện "nghĩa địa" trải dài 1.200km dưới đáy biển
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng tàu lặn có người lái để khảo sát một khu vực hẻo lánh ở phía Đông Nam Ấn Độ Dương.
Dưới độ sâu từ 5.000m đến 7.000m, họ phát hiện hàng loạt bộ xương cá voi nằm rải rác trên khu vực dài khoảng 1.200km.
Những bộ hài cốt cổ xưa nằm xen lẫn với xác cá voi hiện đại, cho thấy nơi đây liên tục tiếp nhận xác cá voi trong ít nhất 5 triệu năm qua.
Phần lớn các bộ xương thuộc về nhóm cá voi mõm kiếm vốn là loài cá voi có hộp sọ kéo dài thành chiếc mõm hẹp giống cá heo. Đây là nhóm động vật lặn sâu hàng đầu thế giới và rất hiếm khi xuất hiện trên mặt nước nên giới khoa học vẫn biết rất ít về tập tính của chúng.
Nhiều xác cá voi mới chìm xuống đáy biển vẫn còn đủ tươi để thu hút vô số sinh vật ăn xác. Các chuyên gia ghi nhận sự xuất hiện của những loài giun ăn xương, ốc biển, sao biển tay dài, động vật thân mềm 2 mảnh vỏ. Nhiều sinh vật trong số này có thể là những loài hoàn toàn mới đối với khoa học.
Nhà cổ sinh vật học Olivier Lambert thuộc Viện Khoa học Tự nhiên Hoàng gia Bỉ nhận định, phát hiện này cho thấy xác cá voi mõm kiếm cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái biển sâu, tương tự như các loài cá voi lớn khác.
Chuyến thám hiểm đầy bất ngờ
Khu vực phát hiện nằm trong đới đứt gãy Diamantina, phía Tây Nam Australia. Đây là vùng đáy biển hình thành cách đây khoảng 30-40 triệu năm khi lục địa Australia và Nam Cực tách rời nhau.
Ông Peng Zhou, đồng tác giả nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và Kỹ thuật Biển sâu (Trung Quốc), cho biết việc tiếp cận khu vực này vô cùng khó khăn do độ sâu cực lớn.
"Ngay từ lần quan sát đầu tiên, tất cả chúng tôi đều hoàn toàn bất ngờ", ông nói.
Nhóm nghiên cứu sử dụng tàu nghiên cứu Tan Suo Yi Hao cùng tàu lặn Fendouzhe vốn là phương tiện từng chạm tới đáy vực Challenger Deep thuộc rãnh Mariana, nơi sâu nhất hành tinh vào năm 2020.
Điều khiến các nhà khoa học sửng sốt nhất là mật độ hóa thạch dày đặc chưa từng thấy.
Một số khu vực ghi nhận tới khoảng 760 bộ hài cốt trên mỗi km2. Sau khi phân tích dữ liệu, nhóm nghiên cứu ước tính có thể có cả triệu bộ hài cốt nằm trên đáy vùng biển này. Con số thực tế thậm chí có thể lớn hơn, do nhiều bộ xương bị vùi lấp dưới lớp trầm tích.
Các chuyên gia cũng tìm thấy bộ hài cốt của loài cá voi mõm kiếm hiện đại nằm cạnh hóa thạch của những họ hàng đã tuyệt chủng.
Vậy vì sao xác cá voi lại tập trung ở một nơi?
Theo các nhà nghiên cứu, địa hình hình chữ V đặc trưng của đới đứt gãy Diamantina có thể là nguyên nhân chính.
Khu vực này được cho là hành lang di cư hoặc môi trường sinh sống của nhiều loài cá voi.
Cá voi mõm kiếm thường lặn rất sâu. Khi vượt quá độ sâu khoảng 3.000m, chúng có nguy cơ kiệt sức hoặc mắc hội chứng giảm áp dẫn tới tử vong. Sau khi chết, dòng chảy và địa hình dưới đáy biển sẽ đưa xác cá voi về cùng một khu vực.
Do lớp trầm tích dưới đáy gần như không dịch chuyển, các bộ xương được bảo tồn nguyên vẹn trong thời gian dài. Qua hàng triệu năm, khoáng chất biển sâu bám vào xương, biến chúng thành hóa thạch.
Giới chuyên gia cho rằng, "nghĩa địa cá voi" này có thể còn chứa rất nhiều hóa thạch chưa được khám phá và sẽ tiếp tục mang lại những phát hiện quan trọng về lịch sử tiến hóa của động vật biển trong tương lai.
Trao đổi với PV Báo Thanh Niên bên lề Hội chợ Du lịch quốc tế Thailand Travel Mart Plus (TTM+) 2026 diễn ra tại Pattaya, lãnh đạo Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) cho biết Việt Nam tiếp tục là một trong những thị trường trọng điểm của nước này trong khu vực ASEAN.
Bà Pattaraanong Na Chiangmai, Phó thống đốc phụ trách tiếp thị quốc tế khu vực châu Á và Nam Thái Bình Dương của TAT, cho rằng cách tiếp cận du lịch hiện nay đã khác rất nhiều so với trước đây. Nếu trước đây, mỗi quốc gia chỉ tập trung làm sao để thu hút khách quốc tế đến điểm đến của mình thì hiện nay du lịch cần được phát triển theo hướng hai chiều, tạo ra sự kết nối giữa người dân các quốc gia.
Lãnh đạo TAT cho biết, năm 2026 đánh dấu 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan. Đây là cơ hội để hai nước thúc đẩy hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực du lịch thông qua các biên bản ghi nhớ giữa cơ quan quản lý, hãng hàng không và doanh nghiệp lữ hành. Trong thời gian qua, TAT đã ký kết hợp tác với Vietnam Airlines, Vietjet cùng nhiều doanh nghiệp du lịch nhằm thúc đẩy trao đổi khách, chia sẻ dữ liệu thị trường và xây dựng các sản phẩm du lịch chung. Ngoài các chương trình xúc tiến thương mại du lịch truyền thống, Thái Lan đang đặc biệt chú trọng khai thác những điểm giao thoa văn hóa giữa hai quốc gia.
Một trong những hướng đi được nhắc đến là phát triển các tuyến du lịch gắn với cộng đồng người Việt tại Thái Lan, các địa danh liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Udon Thani, Nakhon Phanom và nhiều địa phương khác. Bà Pattaraanong nhận định, đây là thời điểm thích hợp để Việt Nam và Thái Lan đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, từ đó tạo thêm nhu cầu đi lại giữa người dân hai nước.
Ẩm thực cũng được xem là cầu nối tự nhiên giữa hai thị trường. Theo bà Permvongsenee Patsee, Giám đốc điều hành phụ trách khu vực ASEAN, Nam Á và Nam Thái Bình Dương của TAT, nhiều món ăn của Việt Nam và Thái Lan có nét tương đồng do quá trình giao lưu văn hóa kéo dài hàng trăm năm. Người Thái rất quen thuộc với phở, nem nướng hay các món ăn Việt Nam. Tương tự, nhiều món ăn Thái cũng được du khách Việt yêu thích, đây là lợi thế để thúc đẩy du lịch trải nghiệm và khám phá văn hóa.
Dù lượng khách Việt Nam đến Thái Lan gần đây có dấu hiệu chững lại, TAT vẫn đặt mục tiêu đón khoảng 850.000 lượt khách Việt trong năm 2026. Thái Lan đang tập trung vào nhóm khách có mức chi tiêu cao hơn, bao gồm khách MICE, khách doanh nhân, nhóm Millennial và thế hệ Gen Z yêu thích trải nghiệm mới. Khoảng cách địa lý gần, thời gian bay ngắn và chi phí hợp lý giúp Thái Lan tiếp tục là điểm đến hấp dẫn với khách Việt Nam, đặc biệt là nhóm khách trẻ.
Một trong những xu hướng được TAT nhấn mạnh tại TTM+ năm nay là du lịch bền vững. TAT đang thúc đẩy các doanh nghiệp du lịch nâng cấp theo hướng xanh và bền vững. Những khách sạn, nhà hàng đạt chứng nhận phát triển bền vững sẽ được ưu tiên tham gia các chương trình xúc tiến quốc tế của TAT.
Ngay tại TTM+ 2026, ban tổ chức cũng triển khai hàng loạt giải pháp như phân loại rác tại nguồn, tái chế vật liệu, hạn chế lãng phí thực phẩm và ưu tiên các đơn vị đạt chứng nhận du lịch bền vững.
Các nhà khoa học vừa công bố những thước phim tư liệu hiếm hoi về loài cá nhỏ có tên Parakneria Thysi (còn gọi là cá shellear) có kích thước từ 3,7 cm đến 4,8 cm tại hạ lưu sông Congo.
Theo Nature, đây là một trong những cuộc di cư khắc nghiệt nhất thế giới tự nhiên khi những con cá phải đối đầu trực tiếp với trọng lực và dòng nước xiết để chinh phục đỉnh thác cao tới 15 m.
Khác với đa số các loài cá di cư bằng cách nhảy qua các bậc thác, Parakneria thysi chọn phương thức "leo bộ". Hàng nghìn cá thể tập trung tại chân thác, tận dụng những rìa đá ẩm ướt để nhích từng cm lên cao. Chúng bắt đầu cuộc hành trình vào cuối mùa mưa, sử dụng những mấu nhỏ ở vây ngực và vây bụng để bám vào đá, lắc phần thân sau tạo lực đẩy và trườn lên.
Trung bình mỗi con cá mất 9 giờ 45 phút để hoàn thành hành trình. Tuy nhiên, thời gian này gần như hoàn toàn dành cho việc nghỉ ngơi, bao gồm 9 lần nghỉ dài một giờ và 30 phút tạm dừng ngắn, tổng cộng chỉ có 15 phút di chuyển. Trong suốt thời gian đó, chúng phải đối mặt với nguy cơ bị dòng nước cuốn trôi hoặc trở thành mồi cho các loài chim hoặc hoạt động đánh bắt.
Theo tạp chí Scientific Reports, các nhà khoa học đã ghi nhận hoạt động này bốn lần vào năm 2018 và 2020. Động lực đằng sau cuộc di cư này là bản năng duy trì nòi giống. Phía trên các thác nước dựng đứng là vùng thượng lưu yên bình, ít kẻ thù săn mồi và dồi dào nguồn thức ăn (như tảo và vi sinh vật trên đá). Việc vượt thác giúp cá Shellear chiếm lĩnh một môi trường sống độc quyền, nơi các loài cá săn mồi lớn hơn không thể tiếp cận.
Mùa di cư được cho là bắt đầu từ đầu tháng 4 và kết thúc vào tháng 5 hằng năm, khi mực nước giảm xuống vào cuối mùa mưa. Cá sẽ leo thác vào khoảng từ 16h đến 18h, trùng với thời điểm mặt trời lặn, trong khi số lượng ít nhất được ghi nhận vào lúc mặt trời mọc.
Dù sở hữu khả năng thích nghi phi thường nhưng loài cá này vẫn phải đối mặt với nhiều nguy cơ đến từ việc đánh bắt và tưới tiêu của con người.
Phát hiện về hoạt động của loài cá này không chỉ làm phong phú thêm kho tàng về hệ sinh thái sông Congo - con sông sâu nhất thế giới, mà còn giúp các nhà quy hoạch môi trường có góc nhìn thận trọng hơn khi xây dựng các công trình thủy điện, tránh làm đứt gãy lộ trình di cư đặc biệt của loài cá này.
Mai Anh (Theo Nature, ZME Science, BBC Discover Wildlife)