Dựa vào dữ liệu do Bộ GD-ĐT cung cấp, Báo Thanh Niên phân tích nguồn tuyển thực tế dựa trên số lượng thí sinh (TS) để dự báo điểm chuẩn. Dựa vào các nhóm yêu cầu đầu vào khác nhau của các cơ sở giáo dục ĐH (sau đây gọi chung là các trường), chúng tôi chia dữ liệu thành các nhóm tổ hợp tuyển sinh tương ứng với các khối thi truyền thống: khối A, khối B, khối C, khối D.
Theo quy định của Bộ GD-ĐT, TS chỉ chọn ngành, các trường sẽ lấy điểm tổ hợp cao nhất trong các tổ hợp của ngành để xét tuyển. Phần lớn TS dự thi 4 môn để được xét tốt nghiệp THPT (trừ TS tự do vì các em chỉ cần thi 3 môn để lấy điểm xét tuyển ĐH), trong đó có 2 môn bắt buộc là văn và toán. Trong khi đó, Bộ GD-ĐT yêu cầu thành phần môn tạo nên tổ hợp phải có văn hoặc toán, nên mỗi em có thể được xét đồng thời nhiều tổ hợp. Vì vậy, chúng tôi phân tích dữ liệu của nhóm tổ hợp này bằng hàm max (tổ hợp có điểm cao nhất của mỗi TS). Việc lấy mức điểm cao nhất phản ánh chính xác năng lực cạnh tranh thực tế của TS khi nộp hồ sơ.
Nhóm tổ hợp A00, A01, D07 tập trung nguồn tuyển chủ yếu cho khối ngành kỹ thuật (và cả công nghệ, kinh tế). So sánh với dữ liệu năm 2025, nhận thấy điểm chuẩn năm nay dự báo có sự biến động tùy theo từng dải điểm (phân khúc điểm). Với dải điểm từ 25 đến 30 (thường là khung điểm chuẩn của nhóm ngành tốp 1 ở trường tốp 1), lượng TS đạt các mức điểm trong phân khúc này năm 2026 lao dốc rất mạnh (giảm từ 16 – 45%). Mốc từ 27 điểm trở lên giảm từ 7.719 xuống 4.607 em; mốc từ 25 điểm trở lên giảm từ 27.546 xuống 23.069 em. Nguồn tuyển thiếu hụt nghiêm trọng khiến điểm chuẩn dự báo giảm mạnh từ 0,5 đến 1 điểm.
Với dải điểm từ 23 đến 25 (nhóm ngành tốp 2 của trường tốp 1), nguồn tuyển ổn định, đồ thị biểu diễn nguồn tuyển gần như đi ngang. Dù mốc từ 24 điểm trở lên năm nay giảm nhẹ (6%) nhưng từ mốc 23 điểm trở lên cả 2 năm gần như bằng nhau tuyệt đối (hơn 60.800 em). Vì vậy, nhóm trường tốp 2 sẽ có mức điểm chuẩn giảm nhẹ hoặc đi ngang (có thể giảm khoảng 0,25 điểm).
Với các trường tốp giữa (từ 20 đến 23 điểm), lượng TS trượt khỏi mốc điểm cao rơi xuống vùng này, nguồn tuyển ở đây phình to ra (tăng 2 – 3%). Cụ thể, lượng TS dồn ở khúc 20 – 22 điểm năm nay đông hơn năm ngoái khoảng vài nghìn em. Sự dồn ứ này khiến độ cạnh tranh tăng lên, dự báo điểm chuẩn tăng nhẹ (từ 0,25 đến 0,5 điểm).
Với trường tốp dưới (dưới 20 điểm), tổng lượng TS đạt mức điểm trung bình giảm đều (4 – 8%), thấp hơn năm ngoái (mốc từ 15 điểm trở lên giảm gần 23.000 em). Do đó, điểm chuẩn dự báo sẽ hạ nhẹ (từ 0,25 đến 0,5 điểm) để đảm bảo tuyển đủ chỉ tiêu.
Cả 3 môn thi cấu thành nên tổ hợp D01 là toán, văn, tiếng Anh đều có phổ điểm biến động so với năm 2025. Trong đó, phổ điểm môn văn sụt giảm diện rộng so với 2025. Tỷ lệ TS đạt từ 7 điểm trở lên giảm từ hơn 59% xuống chỉ còn 44%, điểm trung bình từ 7 rơi xuống 6,5. Sự sụt giảm của một môn thi tự luận bắt buộc sẽ kéo theo toàn bộ mặt bằng điểm của tổ hợp D01 dịch chuyển xuống mức thấp hơn. Môn tiếng Anh tuy phổ điểm thấp hơn hẳn năm ngoái nhưng ở phân khúc điểm cao (từ 7 trở lên) số TS bằng tương đương năm ngoái. Dù vậy, phổ điểm môn toán tốt hơn năm ngoái đã kéo phổ điểm chung của tổ hợp lên.
Nếu so sánh trong nội vi tổ hợp D01 trong 3 năm (2024, 2025, 2026) chúng tôi nhận thấy phổ điểm năm nay tương đương 2025, thậm chí nguồn tuyển còn tăng ở mốc từ 19 điểm trở lên (tăng 6%). Điều đáng nói, càng lên mốc điểm cao, nguồn tuyển càng tăng. Mốc 21,5 điểm, nguồn tuyển tăng 30%. Mốc 24 điểm, là mức điểm chuẩn thông thường của các ngành tốp trên, nguồn tuyển tăng 69%. Mốc 25 điểm, nguồn tuyển tăng 88%. Do đó, với những trường hoặc ngành tốp trên mà nguồn tuyển chủ yếu là TS dùng tổ hợp D01, điểm chuẩn dự báo sẽ tăng mạnh.
Nếu mở rộng nguồn tuyển sang các tổ hợp A00, A01 (do những trường xét chủ yếu tổ hợp D01 thường mở rộng nguồn tuyển sang 2 tổ hợp này) chúng tôi nhận thấy ở mức điểm thấp TS D01 có nhiều lợi thế. Chẳng hạn, ở mức từ 17,5 đến 21 điểm, nếu các trường cùng xét 3 tổ hợp này không đặt điểm chênh thì danh sách trúng tuyển sẽ bị TS D01 “tràn” vào. Nếu lấy điểm của tổ hợp A00 làm gốc, ở mức 17,5 điểm, D01 có điểm chênh lên 3,25; ở mốc 20 điểm, A01 có nguồn tuyển ngang mốc 21,5 điểm của D01 (chênh 1,5 điểm); mốc 21 mức chênh giảm xuống còn 1 điểm.
Từ mốc 24 điểm, TS D01 bắt đầu “thiệt” so với TS tổ hợp A00. Ở mốc này, A00 có nguồn tuyển tương đương D01 mức điểm 23,75. Lên 25 điểm, mức chênh là 0,5; mốc 26 mức chênh 0,75; mốc 27 là 1 (phần “thiệt” là TS sử dụng tổ hợp D01). Do đó, nếu lấy điểm chuẩn ở mức 25 mà không đặt điểm chênh cho giữa tổ hợp A00 với D01, TS trúng tuyển bằng tổ hợp A00 chiếm đa số.
Phân tích dữ liệu điểm thi 3 năm nay của tổ hợp C00, chúng tôi nhận thấy có sự sụt giảm nguồn tuyển cực kỳ rõ rệt trong năm 2026. Đường lũy kế biểu diễn số lượng TS năm 2026 nằm thấp hơn một khoảng rất xa so với năm 2025 trên toàn bộ dải điểm từ 15 đến 29. Ở mọi mốc xét tuyển, số lượng TS cạnh tranh đều vơi đi đáng kể (giảm hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn TS tùy theo từng dải điểm).
Với những trường tốp đầu (điểm chuẩn từ 26 trở lên), điểm chuẩn sẽ giảm rất mạnh, do nguồn tuyển năm nay giảm mạnh, chỉ còn 11% so với năm ngoái. Các mốc điểm thấp hơn, tỷ lệ giảm của nguồn tuyển “đỡ” hơn nhưng vẫn ở mức chênh nhau hàng trăm ngàn TS. Chẳng hạn, ở mốc 24 điểm, nguồn tuyển năm nay chỉ bằng 24% của năm ngoái.
Những năm trước, điểm chuẩn nhiều ngành lấy tổ hợp C00 lên đến 27 – 29 điểm, nhưng năm nay nhiều khả năng không còn ngành nào có mức điểm chuẩn này. Cụ thể, ở mốc 27 điểm, năm ngoái cả nước có 9.243 TS đạt thì năm nay chỉ có 534 em; mốc 28 năm ngoái có 2.380 em đạt thì năm nay chỉ vỏn vẹn 44 em.
Với các trường tốp giữa và dưới, điểm chuẩn có thể giảm sâu lên đến 3 – 4 điểm nếu nguồn tuyển chủ yếu phụ thuộc vào TS C00. Dữ liệu cho thấy nguồn tuyển mốc 22 điểm năm ngoái tương đương nguồn tuyển 18,25 của năm nay.
Trái ngược với C00, phân tích dữ liệu tổ hợp B00 qua 3 năm cho thấy phổ điểm năm nay có phần nhỉnh hơn so với năm 2025. Ở phân khúc điểm từ trung bình đến khá – giỏi (từ mốc 15 đến 24,5), đường lũy kế biểu diễn nguồn tuyển năm 2026 luôn nằm cao hơn một chút so với năm 2025. Ở mốc 20 điểm, nguồn tuyển năm nay cao hơn năm ngoái 20%. Từ mốc 23 đến mốc 26 điểm, nguồn tuyển năm nay cao hơn năm ngoái trên dưới 30%.
Với khung 27 – 28 điểm (ngành y khoa các trường tốp trên thường có mức điểm chuẩn trong khung này), nguồn tuyển năm nay cao hơn năm ngoái từ 44 – 95%. Cụ thể, mốc 28 điểm năm ngoái cả nước chỉ có 311 em đạt được thì năm nay có 605 em. Xét nguồn tuyển tương đương nhau thì mốc 28,5 điểm năm nay bằng 28 điểm năm ngoái. Con số này cho thấy nhiều khả năng điểm chuẩn ngành y khoa cao nhất có thể lên đến 28 – 28,5 điểm, thậm chí nhiều hơn do các trường y dược ngày càng đẩy mạnh xu hướng tuyển thẳng.
Đợt tập dượt đăng ký xét tuyển đã kết thúc, thí sinh bước vào giai đoạn then chốt của mùa xét tuyển đại học 2026. Theo các chuyên gia, việc xây dựng kế hoạch đăng ký nguyện vọng và chọn đúng ngành học phù hợp quan trọng không kém kết quả thi.
Sau khi hệ thống kết thúc đợt đăng ký xét tuyển thử và xóa toàn bộ dữ liệu, các chuyên gia tuyển sinh khuyến nghị thí sinh không nên nóng vội mà cần tập trung rà soát thông tin, tìm hiểu ngành học và xây dựng chiến lược nguyện vọng phù hợp trước khi bước vào đợt đăng ký chính thức. Thời điểm này thí sinh cần ưu tiên ba việc: kiểm tra dữ liệu cá nhân, hoàn thiện các minh chứng phục vụ xét tuyển và chuẩn bị phương án sắp xếp nguyện vọng.
TS Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên viên chính Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT), lưu ý thí sinh cần kiểm tra kỹ các thông tin trên hệ thống tuyển sinh như họ tên, ngày sinh, khu vực ưu tiên, đối tượng ưu tiên, kết quả học tập và các dữ liệu liên quan đến xét tuyển. Thí sinh sử dụng tài khoản đã được cấp để xử lý thông tin (nhập, sửa, xem) thông tin của thí sinh trên hệ thống. Những sai sót tưởng chừng nhỏ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của thí sinh.
"Đây cũng là thời điểm thí sinh cần hoàn thiện các minh chứng liên quan đến phương thức xét tuyển đã đăng ký. Với những em sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, điểm thi đánh giá năng lực hoặc các chứng nhận khác, cần kiểm tra dữ liệu đã được cập nhật đầy đủ hay chưa. Chỉ cần dành thời gian rà soát thông tin từ bây giờ, thí sinh có thể tránh được nhiều rủi ro khi bước vào giai đoạn đăng ký nguyện vọng chính thức", ông Hùng nói.
Đối với diện xét tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển, các chuyên gia lưu ý thí sinh cần hoàn tất hồ sơ theo đúng thời hạn của từng trường, đồng thời vẫn nên chuẩn bị phương án đăng ký nguyện vọng trên hệ thống chung để chủ động trong mọi tình huống.
Về nguyên tắc xét tuyển, ông Hùng cho biết việc xét tuyển được thực hiện bình đẳng giữa các phương thức và tổ hợp xét tuyển, không phụ thuộc thứ tự nguyện vọng đăng ký. Trường hợp nhiều thí sinh bằng điểm ở cuối danh sách, các cơ sở đào tạo sẽ áp dụng tiêu chí phụ; nếu vẫn bằng nhau sẽ ưu tiên thí sinh có điểm cộng thấp hơn, sau đó mới xét đến thứ tự nguyện vọng.
TS Nguyễn Quốc Anh, Phó hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ TP.HCM, cho rằng sau khi hệ thống đăng ký thử kết thúc và xóa toàn bộ dữ liệu, thí sinh cần tận dụng khoảng thời gian này để xây dựng kế hoạch xét tuyển phù hợp.
Theo ông, trước hết thí sinh cần xác định rõ ngành học, trường học yêu thích nhất; đồng thời nghiên cứu kỹ điểm chuẩn các năm gần đây, chỉ tiêu tuyển sinh và phương thức xét tuyển của từng cơ sở đào tạo.
"Khi sắp xếp nguyện vọng, thí sinh nên đặt ngành, trường yêu thích nhất ở vị trí cao nhất. Đừng xếp nguyện vọng theo tâm lý an toàn bởi hệ thống chỉ công nhận nguyện vọng cao nhất đủ điều kiện trúng tuyển", ông Quốc Anh nói.
Ông khuyến nghị thí sinh chia nguyện vọng thành ba nhóm gồm "mơ ước", "phù hợp" và "an toàn" để cân bằng giữa cơ hội vào ngành học yêu thích và khả năng trúng tuyển.
Cùng quan điểm, ThS Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng tuyển sinh và công tác sinh viên Trường đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM), cho rằng thí sinh không nên đưa một ngành ít yêu thích lên trên chỉ vì cho rằng cơ hội trúng tuyển cao hơn.
Hệ thống xét tuyển hiện nay xử lý theo thứ tự ưu tiên nguyện vọng của thí sinh; nếu đã trúng tuyển ở nguyện vọng cao hơn thì các nguyện vọng sau sẽ không còn được xét tiếp. "Nguyện vọng 1 phải là ngành học mà nếu trúng tuyển thí sinh thực sự muốn theo học", ông Tiến lưu ý.
Theo ông Tiến, bên cạnh việc cân nhắc khả năng trúng tuyển, thí sinh cần lựa chọn ngành học dựa trên năng lực, sở thích, điều kiện gia đình và xu hướng nghề nghiệp thay vì chỉ chạy theo thương hiệu trường. Một ngành học phù hợp có thể mang lại kết quả tốt hơn so với việc theo học một ngành không phù hợp chỉ vì trường nổi tiếng.
ThS Phùng Quán, chuyên gia tuyển sinh Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM), khuyên thí sinh không nên xem điểm chuẩn các năm trước là căn cứ duy nhất để chọn ngành. "Điểm chuẩn chỉ là kết quả của một mùa tuyển sinh. Khi nhiều trường áp dụng xét tuyển tổng hợp và thay đổi công thức tính điểm, việc đối sánh với các năm trước không còn hoàn toàn chính xác", ông Quán nói.
Bên cạnh đó, thí sinh cũng cần phân biệt rõ giữa tên ngành và nội dung đào tạo thực tế. Nhiều ngành có tên gọi tương tự nhau nhưng chương trình học, định hướng nghề nghiệp và chuẩn đầu ra rất khác biệt giữa các trường. Thay vì chỉ hỏi "ngành nào dễ đậu", thí sinh nên đặt câu hỏi "ngành nào phù hợp với mình nhất".
Việc chọn đúng ngành học quan trọng hơn việc chọn đúng trường học. Một quyết định phù hợp ngay từ đầu có thể giúp người học tiết kiệm thời gian, chi phí và tránh tình trạng chuyển ngành hoặc bỏ học giữa chừng.
Trước thực tế này, nhà trường phải thay đổi dạy học thế nào và cần trang bị năng lực gì cho người học, ngay từ tiểu học?
Chị Phương Anh, có con học tiểu học ở P.An Phú Đông, TP.HCM, giúp con dò bài kiểm tra cuối năm học. Cầm một xấp đề cương các môn của các con, chị chưa nói con đọc thuộc ngay mà nêu câu hỏi. "Vì sao con phải học bảng cửu chương? Ví dụ ở phép nhân 3x9=27, có thể diễn giải bằng phép cộng được không?", chị hỏi bé lớp 3. Tới phần ôn tập viết sáng tạo, chị nói con lập sơ đồ tư duy bố cục để với bất cứ đề bài nào con cũng có thể triển khai. "Sợ nhất là trẻ cầm đề cương bài văn mẫu về học thuộc ra rả, nhưng đến khi ra một đề bài khác, các con "bế tắc", người mẹ cho hay.
Chị chia sẻ thêm: "Khi học hiểu, học sinh (HS) có khả năng tìm tòi, ứng biến trước các tình huống. Ví dụ khi con hiểu về phép cộng, phép nhân, hiểu bản chất về diện tích, chu vi, con sẽ thấy việc học toán thật thú vị chứ không phải chỉ ra rả học thuộc làu làu công thức nhưng không hiểu ý nghĩa bài toán mình vừa làm được".
Thầy Nguyễn Tấn Sang, giáo viên (GV) Trường tiểu học Nguyễn Văn Trân, xã Hưng Long, TP.HCM, khẳng định điều quan trọng ở bậc tiểu học không phải là nhồi nhét trước kiến thức của cấp THCS, THPT mà là trang bị cho các em bộ công cụ về phương pháp tư duy, khả năng tự học và kỹ năng giải quyết vấn đề. Cách làm của thầy Sang là giúp HS hiểu bản chất vấn đề thay vì ghi nhớ máy móc. Điều này được tiến hành trong các tiết học, hoạt động trải nghiệm, thảo luận nhóm, trò chơi học tập, đặt câu hỏi mở để HS suy nghĩ, tìm nhiều cách giải quyết khác nhau.
"Ví dụ trong môn toán lớp 2, thay vì chỉ yêu cầu HS thực hiện phép tính, tôi đưa ra các tình huống là các bài toán gần gũi trong cuộc sống để HS phân tích, lựa chọn cách giải phù hợp. Trong môn tiếng Việt, các em được khuyến khích bày tỏ suy nghĩ cá nhân, liên hệ thực tế và sáng tạo trong cách diễn đạt. Các môn học khác cũng tăng cường hoạt động quan sát, khám phá, trải nghiệm để HS tự tìm ra kiến thức dưới sự hướng dẫn của GV", thầy Sang cho hay.
Tại Trường tiểu học Nguyễn Trường Tộ, P.Xóm Chiếu, TP.HCM, các em HS được khuyến khích đặt các câu hỏi cho GV. Thầy Phan Anh Tuấn, Hiệu trưởng nhà trường, nêu ví dụ trong môn toán, thay vì chỉ dạy công thức, thầy cô tạo các tình huống gần gũi với cuộc sống để HS tìm cách giải quyết và lý giải vì sao chọn cách làm đó. Trong môn tiếng Việt, GV không chỉ dừng lại ở việc giúp HS đọc đúng, hiểu nội dung văn bản mà còn chú trọng phát triển năng lực đọc hiểu, bày tỏ quan điểm cá nhân và liên hệ thực tiễn.
"Chẳng hạn, khi học một bài đọc có nội dung về lòng trung thực, thay vì chỉ hỏi HS nhân vật trong bài đã làm gì, chúng tôi hỏi mở như "Nếu em ở trong tình huống đó, em sẽ lựa chọn như thế nào?"; "Em có đồng tình với cách xử lý của nhân vật không? Vì sao?". Hay sau khi đọc một câu chuyện về bảo vệ môi trường, HS không chỉ trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa mà còn được liên hệ với thực tế ở trường, ở khu dân cư của mình, đề xuất những việc làm cụ thể để giảm rác thải nhựa, giữ gìn vệ sinh chung… Mỗi HS có thể đưa ra một góc nhìn khác nhau và các em được khuyến khích giải thích, bảo vệ ý kiến của mình bằng những lý lẽ phù hợp", thầy Tuấn cho biết.
"Bản thân tôi cho rằng điều quan trọng nhất ở tiểu học không phải là dạy các em biết thật nhiều kiến thức, mà là hình thành cho các em khả năng đặt câu hỏi, biết tìm tòi, biết hợp tác và có tư duy độc lập. Khi có được những năng lực nền tảng đó, HS sẽ thích ứng tốt với các kỳ thi theo định hướng phát triển năng lực cũng như với một xã hội luôn thay đổi từng ngày", thầy Tuấn nói thêm.
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (gọi tắt là Chương trình mới) đã áp dụng 6 năm học qua và cho thấy những thay đổi trong cách tiếp cận, trang bị kiến thức, hình thành năng lực phẩm chất cho HS, như năng lực tự chủ - tự học; giao tiếp - hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề - sáng tạo. Song, thực tế cho thấy, để đổi mới không nằm ở khẩu hiệu, trước tiên GV phải là người không đi theo lối mòn an toàn.
Cô Nguyễn Yến Nhi, GV chủ nhiệm lớp 5, Trường tiểu học Thuận Kiều, P.Đông Hưng Thuận, TP.HCM, nêu so sánh với chương trình cũ - cô đọc - trò chép; còn chương trình mới, với mô hình lớp học đảo ngược, HS được giao nhiệm vụ tự đọc, tự tìm hiểu thông tin trước, sau đó lên lớp GV và HS cùng thảo luận.
"HS có thể trình bày nhiều cách giải bài toán, miễn ra đáp án đúng. Chúng tôi cũng dạy nhiều bài toán thực tế cho HS, như bài toán vận tốc, thời gian, cho HS tính thời gian di chuyển đến trường. Hay khi học về tỷ số phần trăm, GV nêu đề bài về các chương trình trình khuyến mại, giảm giá 10-20% của mặt hàng trong siêu thị. Còn với phần viết văn sáng tạo, các em được thoải mái đặt câu, phát triển vốn từ, trình bày ý kiến… miễn tuân thủ bố cục, bám sát chủ đề", cô Nhi nói.
Tuy nhiên, theo cô Nhi, không phải lúc nào HS cũng dám bày tỏ ý kiến khác biệt số đông, vẫn còn nhiều HS muốn "an toàn" nên viết những bài tập làm văn rập khuôn, đọc "na ná" nhau. Do đó, cô Nhi bày tỏ để xóa "học vẹt", khuyến khích khác biệt, thì chính GV cũng phải là người đổi mới và khuyến khích các em dám suy nghĩ, dám sai, dám phản biện.
Thầy Trần Thái, Hiệu trưởng, GV ngữ văn Trường tiểu học và trung học Athena Đà Lạt, P.Xuân Hương - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, cho hay những năm gần đây, chúng ta nói rất nhiều về đổi mới chương trình, sách giáo khoa và đổi mới kiểm tra đánh giá. Nhìn từ đề thi ngữ văn tốt nghiệp THPT 2026, điều thầy Thái quan tâm là chất lượng của đội ngũ GV, họ đã nâng tầm ra sao để giúp HS không chỉ thích ứng với những đề thi đánh giá năng lực, mà còn thích ứng với cuộc sống nhiều biến động.
"Nếu muốn HS có khả năng tư duy độc lập, GV phải là người có tư duy độc lập. Nếu muốn HS có góc nhìn rộng mở, GV phải là người có góc nhìn rộng mở. Nếu muốn HS học tập suốt đời, GV trước hết phải là những người học tập suốt đời. Một đề thi có thể thay đổi cách đánh giá HS. Nhưng chỉ có những người thầy không ngừng học hỏi và phát triển mới có thể thay đổi chất lượng của cả một nền giáo dục", thầy Thái nói.
Cô Hoàng Thị Chung, giáo viên (GV) Trường tiểu học Đền Lừ (P.Tương Mai, Hà Nội), cho biết cô có gần 30 năm trong nghề, đạt được rất nhiều thành tích như: GV giỏi cấp quận, chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, sáng kiến kinh nghiệm được giải cấp TP, giải thưởng cuộc thi thiết kế bài giảng cấp quốc gia… nhưng vẫn chưa được xét thăng hạng vì năm 2023 Q.Hoàng Mai (cũ) yêu cầu chỉ GV giữ chức vụ mới được thăng hạng. Do vậy, cô Chung có mong muốn những GV đủ điều kiện như cô được xét thăng hạng mà không bị gạt khỏi danh sách bởi những quy định do cơ sở tự đặt ra, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của GV.
Cô Vũ Thị Kim Tiến, GV Trường THPT Mê Linh (Hà Nội), chia sẻ năm 2017, cô tham gia kỳ thi thăng hạng do Sở Nội vụ Hà Nội tổ chức nhưng không đỗ. Đến năm 2023, cô nghe nói có đợt thi tuyển lần 2 và trường cô có 2 hồ sơ nộp để thi, còn lại chờ có đợt xét thì nộp. Tuy nhiên sau đó, Sở Nội vụ lại quyết định không thi mà chuyển sang xét tuyển.
Cũng theo cô Tiến, sau 1 đợt thi và 1 đợt xét, trường cô có 12 trường hợp được thăng hạng. Chủ yếu là những người chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa có bề dày thành tích, trong khi 2 phó hiệu trưởng, 5 tổ trưởng chuyên môn và 5 tổ phó chuyên môn, hàng chục GV khác có bề dày thành tích và kinh nghiệm dạy học từ gần 30 năm lại không được xét thăng hạng. Đây là việc làm bất bình đẳng, thiệt thòi cho các GV có tuổi, có nhiều cống hiến lại chịu ấm ức và bất công.
Tương tự, cô Hồ Thị Xuân Thu, GV Trường phổ thông liên cấp Khương Hạ (Hà Nội), cho biết: "Năm 2023, tôi và 4 thầy cô trong trường thừa điều kiện thăng hạng, danh sách đã được gửi lên. Sau đó, 5 GV bị nhà trường gạt lại, trong khi đó thầy hiệu phó của trường bị thiếu điều kiện lại được gửi đi xét thăng hạng và bị đánh trượt. Trường đã làm mất cơ hội thăng hạng của GV. Hai năm vừa qua đều không có đợt thăng hạng nào. GV rất thiệt thòi, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần".
Thầy Nguyễn Văn Đường, GV Trường THPT Phú Xuyên A (Hà Nội), cho biết trong năm 2023, khi nhiều trường THPT tại Hà Nội tạo điều kiện tối đa cho GV đủ điều kiện được thăng hạng thì tại đơn vị của thầy chỉ tiêu lại bị "bóp lại". Sau khi được xét thì số lượng GV được thăng hạng trong cả hai đợt (năm 2020 và 2023) cũng chưa đủ 50%. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng lớn ngay trong cùng một hệ thống giáo dục.
Nhiều ý kiến cho rằng với đồng lương GV eo hẹp, việc thăng hạng không chỉ là sự ghi nhận chuyên môn mà còn là nguồn động viên kinh tế thiết thực. Khi đã kịch trần lương hạng 3, thu nhập chững lại giữa bão giá, khiến những GV tâm huyết không khỏi chạnh lòng.
Thầy Nguyễn Văn Đường và nhiều GV Hà Nội cũng chỉ ra thực tế nhiều GV bị loại hồ sơ thăng hạng vì minh chứng "không thống nhất" và cho rằng đây là bất cập cần được làm rõ.
Theo quy định tại Thông tư 34/2021/TT-BGDĐT, hồ sơ xét thăng hạng GV phải đạt đủ 100 điểm. Việc đánh giá, chấm điểm, nhận xét và chịu trách nhiệm hồ sơ thuộc về hội đồng nhà trường, đứng đầu là hiệu trưởng, cùng với sự tham gia của các bộ phận chuyên môn và đoàn thể. Tuy nhiên, thực tế tại các trường THPT ở Hà Nội hiện nay cho thấy đang phát sinh nhiều bất cập.
Sở Nội vụ Hà Nội đã ban hành bảng tiêu chí chấm điểm hồ sơ với 3 nhóm tiêu chí chính, gồm: nhóm về đào tạo, bồi dưỡng; nhóm về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nhóm về thực hiện nhiệm vụ. Đáng chú ý, ở nhóm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, gồm nhiều tiêu chí mang tính định tính lại chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về cách hiểu và cách minh chứng. Điều này dẫn đến tình trạng mỗi GV chuẩn bị minh chứng theo một cách khác nhau, thiếu sự đồng bộ. Hệ quả là không ít GV bị loại hồ sơ ngay từ cấp trường với lý do "minh chứng chưa đủ sức thuyết phục".
Tuy nhiên, khi GV đề nghị làm rõ thế nào là thuyết phục, thì chính người đánh giá cũng không đưa ra được tiêu chí cụ thể. Việc đánh giá mang tính cảm tính, thiếu chuẩn hóa đã trực tiếp làm mất đi cơ hội thăng hạng của nhiều GV, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi về tính công bằng.
Nêu thực tế trên, thầy Đường cho rằng cần thiết phải quay lại đúng tinh thần Thông tư 34 của Bộ GD-ĐT khi xây dựng và áp dụng tiêu chí. Cụ thể, với các tiêu chí về trình độ đào tạo, văn bằng, chứng chỉ: minh chứng phải là các giấy tờ pháp lý rõ ràng. Với các tiêu chí về năng lực, mức độ đáp ứng yêu cầu và thực hiện nhiệm vụ: cần được hội đồng nhà trường xác nhận bằng biên bản đánh giá, nhận xét, thay vì yêu cầu GV cung cấp các minh chứng rời rạc, thiếu thống nhất. Một biên bản đánh giá có trách nhiệm của hội đồng sẽ đảm bảo tính chính xác, khách quan và thống nhất hơn nhiều so với việc mỗi GV tự chứng minh năng lực bằng các tài liệu khác nhau.
Cũng theo thầy Đường, trong trường hợp số lượng hồ sơ vượt quá chỉ tiêu, việc lựa chọn cần dựa trên nhóm tiêu chí về thực hiện nhiệm vụ, vốn đã được quy định rõ trong thông tư. Đây chính là căn cứ phản ánh thực chất năng lực và quá trình công tác của GV trong nhiều năm (ví dụ 6 năm gần nhất tại Hà Nội), từ đó giúp hội đồng có cơ sở khách quan để xét chọn, tránh cách hiểu tùy tiện dẫn đến việc loại bỏ những hồ sơ xứng đáng.
Thăng hạng không chỉ là vấn đề thủ tục, mà trực tiếp liên quan đến quyền lợi, động lực và sự công bằng trong đội ngũ nhà giáo. Vì vậy, việc hoàn thiện tiêu chí, cách thức đánh giá minh bạch, thống nhất là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Nhiều GV ở Hà Nội mong cấp có thẩm quyền quy định tỷ lệ xét thăng hạng tại các trường phổ thông phù hợp hơn; có kế hoạch thăng hạng cho GV thường xuyên theo chu kỳ ít nhất 3 năm/lần để GV đủ điều kiện có cơ hội được xét thăng hạng kịp thời, không bị bỏ lỡ quá lâu, tránh thiệt thòi cho GV.
Cô Lê Thị Nguyệt Nga, GV Trường THPT Kỹ thuật Việt Trì (Phú Thọ), nêu quan điểm: "GV không ngại tiêu chí cao, cũng không cần tiêu chí thấp. Công bằng không nằm ở việc nới tiêu chí mà nằm ở chỗ người đạt tiêu chí có thực sự được hưởng quyền lợi tương xứng hay không. Nếu câu trả lời vẫn là chờ chỉ tiêu, áp tỷ lệ thì mọi sự "nới lỏng" cũng chỉ dừng lại trên giấy".