Cô Hoàng Thị Chung, giáo viên (GV) Trường tiểu học Đền Lừ (P.Tương Mai, Hà Nội), cho biết cô có gần 30 năm trong nghề, đạt được rất nhiều thành tích như: GV giỏi cấp quận, chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, sáng kiến kinh nghiệm được giải cấp TP, giải thưởng cuộc thi thiết kế bài giảng cấp quốc gia… nhưng vẫn chưa được xét thăng hạng vì năm 2023 Q.Hoàng Mai (cũ) yêu cầu chỉ GV giữ chức vụ mới được thăng hạng. Do vậy, cô Chung có mong muốn những GV đủ điều kiện như cô được xét thăng hạng mà không bị gạt khỏi danh sách bởi những quy định do cơ sở tự đặt ra, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của GV.
Cô Vũ Thị Kim Tiến, GV Trường THPT Mê Linh (Hà Nội), chia sẻ năm 2017, cô tham gia kỳ thi thăng hạng do Sở Nội vụ Hà Nội tổ chức nhưng không đỗ. Đến năm 2023, cô nghe nói có đợt thi tuyển lần 2 và trường cô có 2 hồ sơ nộp để thi, còn lại chờ có đợt xét thì nộp. Tuy nhiên sau đó, Sở Nội vụ lại quyết định không thi mà chuyển sang xét tuyển.
Cũng theo cô Tiến, sau 1 đợt thi và 1 đợt xét, trường cô có 12 trường hợp được thăng hạng. Chủ yếu là những người chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa có bề dày thành tích, trong khi 2 phó hiệu trưởng, 5 tổ trưởng chuyên môn và 5 tổ phó chuyên môn, hàng chục GV khác có bề dày thành tích và kinh nghiệm dạy học từ gần 30 năm lại không được xét thăng hạng. Đây là việc làm bất bình đẳng, thiệt thòi cho các GV có tuổi, có nhiều cống hiến lại chịu ấm ức và bất công.
Tương tự, cô Hồ Thị Xuân Thu, GV Trường phổ thông liên cấp Khương Hạ (Hà Nội), cho biết: “Năm 2023, tôi và 4 thầy cô trong trường thừa điều kiện thăng hạng, danh sách đã được gửi lên. Sau đó, 5 GV bị nhà trường gạt lại, trong khi đó thầy hiệu phó của trường bị thiếu điều kiện lại được gửi đi xét thăng hạng và bị đánh trượt. Trường đã làm mất cơ hội thăng hạng của GV. Hai năm vừa qua đều không có đợt thăng hạng nào. GV rất thiệt thòi, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần”.
Thầy Nguyễn Văn Đường, GV Trường THPT Phú Xuyên A (Hà Nội), cho biết trong năm 2023, khi nhiều trường THPT tại Hà Nội tạo điều kiện tối đa cho GV đủ điều kiện được thăng hạng thì tại đơn vị của thầy chỉ tiêu lại bị “bóp lại”. Sau khi được xét thì số lượng GV được thăng hạng trong cả hai đợt (năm 2020 và 2023) cũng chưa đủ 50%. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng lớn ngay trong cùng một hệ thống giáo dục.
Nhiều ý kiến cho rằng với đồng lương GV eo hẹp, việc thăng hạng không chỉ là sự ghi nhận chuyên môn mà còn là nguồn động viên kinh tế thiết thực. Khi đã kịch trần lương hạng 3, thu nhập chững lại giữa bão giá, khiến những GV tâm huyết không khỏi chạnh lòng.
Thầy Nguyễn Văn Đường và nhiều GV Hà Nội cũng chỉ ra thực tế nhiều GV bị loại hồ sơ thăng hạng vì minh chứng “không thống nhất” và cho rằng đây là bất cập cần được làm rõ.
Theo quy định tại Thông tư 34/2021/TT-BGDĐT, hồ sơ xét thăng hạng GV phải đạt đủ 100 điểm. Việc đánh giá, chấm điểm, nhận xét và chịu trách nhiệm hồ sơ thuộc về hội đồng nhà trường, đứng đầu là hiệu trưởng, cùng với sự tham gia của các bộ phận chuyên môn và đoàn thể. Tuy nhiên, thực tế tại các trường THPT ở Hà Nội hiện nay cho thấy đang phát sinh nhiều bất cập.
Sở Nội vụ Hà Nội đã ban hành bảng tiêu chí chấm điểm hồ sơ với 3 nhóm tiêu chí chính, gồm: nhóm về đào tạo, bồi dưỡng; nhóm về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nhóm về thực hiện nhiệm vụ. Đáng chú ý, ở nhóm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, gồm nhiều tiêu chí mang tính định tính lại chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về cách hiểu và cách minh chứng. Điều này dẫn đến tình trạng mỗi GV chuẩn bị minh chứng theo một cách khác nhau, thiếu sự đồng bộ. Hệ quả là không ít GV bị loại hồ sơ ngay từ cấp trường với lý do “minh chứng chưa đủ sức thuyết phục”.
Tuy nhiên, khi GV đề nghị làm rõ thế nào là thuyết phục, thì chính người đánh giá cũng không đưa ra được tiêu chí cụ thể. Việc đánh giá mang tính cảm tính, thiếu chuẩn hóa đã trực tiếp làm mất đi cơ hội thăng hạng của nhiều GV, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi về tính công bằng.
Nêu thực tế trên, thầy Đường cho rằng cần thiết phải quay lại đúng tinh thần Thông tư 34 của Bộ GD-ĐT khi xây dựng và áp dụng tiêu chí. Cụ thể, với các tiêu chí về trình độ đào tạo, văn bằng, chứng chỉ: minh chứng phải là các giấy tờ pháp lý rõ ràng. Với các tiêu chí về năng lực, mức độ đáp ứng yêu cầu và thực hiện nhiệm vụ: cần được hội đồng nhà trường xác nhận bằng biên bản đánh giá, nhận xét, thay vì yêu cầu GV cung cấp các minh chứng rời rạc, thiếu thống nhất. Một biên bản đánh giá có trách nhiệm của hội đồng sẽ đảm bảo tính chính xác, khách quan và thống nhất hơn nhiều so với việc mỗi GV tự chứng minh năng lực bằng các tài liệu khác nhau.
Cũng theo thầy Đường, trong trường hợp số lượng hồ sơ vượt quá chỉ tiêu, việc lựa chọn cần dựa trên nhóm tiêu chí về thực hiện nhiệm vụ, vốn đã được quy định rõ trong thông tư. Đây chính là căn cứ phản ánh thực chất năng lực và quá trình công tác của GV trong nhiều năm (ví dụ 6 năm gần nhất tại Hà Nội), từ đó giúp hội đồng có cơ sở khách quan để xét chọn, tránh cách hiểu tùy tiện dẫn đến việc loại bỏ những hồ sơ xứng đáng.
Thăng hạng không chỉ là vấn đề thủ tục, mà trực tiếp liên quan đến quyền lợi, động lực và sự công bằng trong đội ngũ nhà giáo. Vì vậy, việc hoàn thiện tiêu chí, cách thức đánh giá minh bạch, thống nhất là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Nhiều GV ở Hà Nội mong cấp có thẩm quyền quy định tỷ lệ xét thăng hạng tại các trường phổ thông phù hợp hơn; có kế hoạch thăng hạng cho GV thường xuyên theo chu kỳ ít nhất 3 năm/lần để GV đủ điều kiện có cơ hội được xét thăng hạng kịp thời, không bị bỏ lỡ quá lâu, tránh thiệt thòi cho GV.
Cô Lê Thị Nguyệt Nga, GV Trường THPT Kỹ thuật Việt Trì (Phú Thọ), nêu quan điểm: “GV không ngại tiêu chí cao, cũng không cần tiêu chí thấp. Công bằng không nằm ở việc nới tiêu chí mà nằm ở chỗ người đạt tiêu chí có thực sự được hưởng quyền lợi tương xứng hay không. Nếu câu trả lời vẫn là chờ chỉ tiêu, áp tỷ lệ thì mọi sự “nới lỏng” cũng chỉ dừng lại trên giấy”.
Danh sách nằm trong kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội, công bố ngày 6/7. Theo đó, 20 trường từ mầm non đến giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên được chia theo cấp và mô hình 1, 2, 3, tương ứng với các mức độ: cơ bản, khởi động; nâng cao; mũi nhọn, dẫn dắt.
Mức độ 1 là các trường mới triển khai hoặc còn hạn chế về điều kiện đảm bảo. Yêu cầu ở mức độ này là tổ chức các hoạt động làm quen, giao tiếp, trải nghiệm bằng tiếng Anh; hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ này hàng ngày; từng bước dùng học liệu số và công nghệ trong giảng dạy.
Mức độ 2 dành cho trường đã có đủ điều kiện triển khai thường xuyên. Nhóm này mở rộng môi trường dùng tiếng Anh; tăng hoạt động trải nghiệm, giao lưu hoặc nội dung học bằng tiếng Anh...
Các trường có điều kiện thuận lợi cùng khả năng lan tỏa, hỗ trợ chuyên môn được xếp vào mô hình 3. Nhóm này có môi trường sử dụng tiếng Anh ở mức độ cao; tổ chức môn học, hoạt động bằng tiếng Anh; tăng hoạt động quốc tế; thực hiện vai trò hỗ trợ chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm cho trường khác.
Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030, tất cả trường học xây dựng và duy trì mô trường học, giao tiếp và sử dụng tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tế; phấn đấu 90% trường đạt mức độ 1, 35% mức độ 1 và 10% mức độ 3.
Tới năm 2035, số trường đạt ba mức độ lần lượt là 100%, 50 và 20%.
Tổng kinh phí dự kiến cho hai giai đoạn từ nay tới năm 2035 khoảng 4.500 tỷ đồng, từ ngân sách nhà nước, các chương trình, đề án liên quan, xã hội hóa.
Đề án "Đưa Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045" của Chính phủ được công bố hồi tháng 10/2025.
Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến đến năm 2035, 100% học sinh, sinh viên được học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Theo Bộ, để Tiếng Anh được dùng rộng rãi ở tất cả 50.000 trường học với khoảng 30 triệu học sinh, sinh viên, cả nước cần thêm 12.000 giáo viên tiếng Anh ở cấp mầm non, 10.000 giáo viên tiểu học, đồng thời bồi dưỡng ít nhất 200.000 thầy cô có khả năng dạy bằng tiếng Anh vào năm 2030.
Nhà trường phối hợp Trung tâm Khảo thí ủy quyền Cambridge VN290 tổ chức lễ trao chứng nhận CEEP, đồng thời triển khai hội thảo chuyên môn về giảng dạy tiếng Anh. Sự kiện thu hút đại diện các đơn vị giáo dục, trung tâm ngoại ngữ và giáo viên tại khu vực ven biển Phan Thiết (thành phố Phan Thiết, Bình Thuận cũ).
Chứng nhận CEEP do Cambridge University Press & Assessment cấp, ghi nhận Trường tiểu học, THCS và THPT Lê Quý Đôn đáp ứng các tiêu chuẩn giảng dạy và đánh giá tiếng Anh theo hệ thống Cambridge (Anh).
Theo ông Lưu Thăng Long, Hiệu trưởng nhà trường, việc được công nhận chứng nhận CEEP cho thấy đơn vị đã bước đầu hoàn thiện mô hình đào tạo theo chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, ông Long cũng nhấn mạnh, chứng nhận Cambridge đồng thời đặt ra yêu cầu khắt khe về chất lượng thực chất trong quá trình giảng dạy.
Đại diện nhà trường cho biết định hướng hiện nay là xây dựng chương trình tiếng Anh theo hướng phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ, thay vì học lệch về ngữ pháp hoặc chỉ chú trọng thi cử.
Những năm gần đây, nhà trường đã từng bước áp dụng các khung chương trình Cambridge, kết hợp đánh giá chuẩn hóa và tăng cường kỹ năng nghe - nói cho học sinh, qua đó đạt được những kết quả tích cực.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc chuyển đổi sang chuẩn Cambridge không chỉ dừng lại ở giáo trình hay chứng chỉ. Thách thức lớn nằm ở đội ngũ giáo viên, phương pháp giảng dạy và khả năng duy trì môi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên trong nhà trường.
Nếu không triển khai đồng bộ, chứng nhận Cambridge dễ trở thành hình thức. Điều này cho thấy, việc đạt chứng nhận mới chỉ là bước khởi đầu, đòi hỏi quá trình duy trì chất lượng giảng dạy lâu dài.
Trong khuôn khổ sự kiện, hội thảo do Cambridge VN290 tổ chức tập trung vào các xu hướng mới như tích hợp giảng dạy với đánh giá, phát triển tư duy ngôn ngữ và ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong lớp học. Đây là những nội dung thiết thực trong bối cảnh nhiều cơ sở giáo dục vẫn đang tìm hướng nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Anh.
Việc trở thành đối tác Cambridge cũng mở ra khả năng tổ chức các kỳ thi chứng chỉ quốc tế ngay tại địa phương, giúp học sinh giảm chi phí và tiếp cận chuẩn đánh giá toàn cầu sớm hơn.
Ở góc nhìn rộng hơn, một giáo viên chuyên Anh tại Phan Thiết cho rằng xu hướng chuẩn hóa tiếng Anh theo Cambridge đang lan rộng tại các trường phổ thông. Điều này phản ánh nhu cầu hội nhập ngày càng rõ, song cũng đặt ra yêu cầu về chất lượng thực chất trong giảng dạy; việc theo đuổi chuẩn quốc tế cần đi kèm hiệu quả đào tạo thực tế.
Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ Online, tính đến ngày 12-5, gần 20 trường đào tạo khối ngành sức khỏe đã công bố dự kiến mức học phí năm học 2026 - 2027, với mức thu dao động từ 20 đến hơn 800 triệu đồng/năm, tùy theo ngành, trường đào tạo.
Trong đó Trường đại học VinUni dự kiến mức học phí cao nhất: hơn 815 triệu đồng/năm với ngành y khoa, chưa bao gồm khoản hỗ trợ 35% học phí do Tập đoàn Vingroup tài trợ.
Theo nhà trường, khoản hỗ trợ 35% này được tự động áp dụng cho tất cả sinh viên trúng tuyển và duy trì trong suốt toàn bộ thời gian học tập tại trường. Như vậy, học phí của ngành y khoa còn khoảng gần 530 triệu đồng/năm.
Hai trường có học phí ngành y khoa trên 100 triệu đồng là Đại học Phenikaa và Trường đại học Tân Tạo.
Trong các trường có học phí tăng mạnh, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam tăng học phí 102,9% với ngành dược học (từ 27,6 lên 56 triệu đồng/năm), hai ngành y khoa và y học cổ truyền đều tăng học phí trên 80% so với năm ngoái.
Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch tăng học phí ngành y khoa từ 55,2 lên 81 triệu đồng/năm (tăng hơn 46%)...
Một số trường như Trường đại học Đại Nam, Trường đại học Phan Châu Trinh, Trường đại học Y Dược Buôn Ma Thuột khi công bố học phí kèm theo cam kết không tăng học phí trong toàn khóa học.
Theo danh sách các chương trình đào tạo được đánh giá, công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng, do Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cập nhật đến ngày 28-2-2026, có gần 3.200 chương trình đào tạo đại học đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Theo nghị định của Chính phủ về học phí, mức trần (mức cao nhất được thu) năm học 2026 - 2027 từ 1,71 - 3,5 triệu đồng/tháng, áp dụng với các trường công lập chưa tự chủ. Nhóm trường tự chủ, tùy mức độ có thể thu học phí cao hơn trần 2 - 2,5 lần.
Với chương trình đạt kiểm định, các trường được tự xác định mức học phí.