Sự thay đổi này không chỉ giúp kết quả thi phản ánh đúng năng lực học sinh (HS) mà còn góp phần tạo nền tảng công bằng hơn cho tuyển sinh ĐH, đồng thời định hướng lại việc dạy và học nhằm phát triển nhân lực cân bằng giữa STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) và khoa học xã hội.
Năm 2025, điểm trung bình giữa các môn có sự chênh lệch lớn. Các môn khoa học xã hội như giáo dục kinh tế và pháp luật (7,69 điểm), ngữ văn (7,00 điểm), địa lý (6,63 điểm), lịch sử (6,52 điểm) đều đạt điểm khá cao, trong khi toán chỉ đạt 4,78 điểm, sinh học 5,78 điểm và hóa học 6,06 điểm. Riêng công nghệ nông nghiệp đạt 7,72 điểm nhưng số lượng thí sinh (TS) lựa chọn rất ít.
Đến năm 2026, bức tranh đã thay đổi theo hướng cân bằng hơn. Một số môn STEM tăng điểm đáng kể, nổi bật là toán tăng từ 4,78 lên 5,65 điểm (18,2%) – mức tăng cao nhất trong các môn thi; công nghệ công nghiệp tăng 12,26%; hóa học tăng 3,63% và sinh học tăng nhẹ.
Ngược lại, nhiều môn khoa học xã hội giảm điểm rõ rệt. Giáo dục kinh tế và pháp luật giảm mạnh nhất, từ 7,69 xuống 5,02 điểm (34,72%); địa lý giảm 23,08%; ngữ văn giảm 7,14%; lịch sử giảm 5,06%; tiếng Anh giảm 5,76%. Một số môn STEM cũng giảm điểm như vật lý (20,46%), tin học (10,47%) và công nghệ nông nghiệp (9,84%).
Nhờ những biến động theo hai chiều này, khoảng cách giữa môn có điểm trung bình cao nhất và thấp nhất đã thu hẹp từ gần 3 điểm năm 2025 xuống còn khoảng 1,9 điểm năm 2026. Phần lớn các môn tập trung trong khoảng 5 – 6,5 điểm, cho thấy phổ điểm giữa các lĩnh vực kiến thức đã cân bằng hơn, nâng cao tính công bằng trong đánh giá và tuyển sinh.
Sự cân bằng không có nghĩa là các môn đều “dễ” hay đều “khó”, mà quan trọng hơn là phổ điểm của từng môn phản ánh sát hơn năng lực thực tế của TS.
Một thay đổi đáng chú ý khác là phân bố điểm tuyệt đối. Năm 2025, các môn xã hội chiếm phần lớn số điểm 10. Riêng địa lý có tới 6.907 điểm 10; vật lý có 3.929; lịch sử 1.518; giáo dục kinh tế và pháp luật 1.451. Đến năm 2026, bức tranh hoàn toàn khác.
Toán vươn lên dẫn đầu với 4.208 điểm 10, cao gấp hơn 8 lần năm trước. Trong khi đó, địa lý chỉ còn 56 điểm 10; giáo dục kinh tế và pháp luật chỉ còn 2; vật lý giảm xuống còn 189; công nghệ công nghiệp tăng từ 4 lên 40 điểm 10. Tổng số điểm 10 của tất cả các môn giảm từ 15.331 xuống còn 7.881, tức giảm gần một nửa.
Điều này cho thấy đề thi năm 2026 đã hạn chế đáng kể tình trạng điểm cao quá nhiều ở một số môn, qua đó nâng cao giá trị của điểm 10 và tăng khả năng phân loại HS xuất sắc.
Trong nhiều năm, việc quá nhiều HS đạt điểm cao ở một số môn khiến các trường ĐH khó tuyển chọn. Khi hàng nghìn TS cùng đạt từ 9 đến 10 điểm sẽ mất dần khả năng phân loại.
Điều này đã được cải thiện ở phổ điểm năm 2026. Các môn từng có tỷ lệ điểm cao rất lớn nay đã trở về mức hợp lý hơn, trong khi các môn tự nhiên không còn phổ điểm quá thấp như trước. Điều đó giúp điểm số giữa các tổ hợp xét tuyển trở nên cân bằng hơn, giúp các trường ĐH dễ dàng xác định nhóm TS xuất sắc, khá, trung bình và yếu.
Mặc dù vẫn còn những khác biệt nhất định về đặc trưng từng môn học, nhưng nhìn tổng thể, phổ điểm đã tiến gần hơn tới sự cân bằng giữa các lĩnh vực khoa học xã hội và STEM.
Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính công bằng trong tuyển sinh, bởi điểm số không còn phụ thuộc quá nhiều vào việc lựa chọn môn nào “dễ đạt điểm cao”, mà phản ánh sát hơn năng lực học tập của TS. Dữ liệu tuyển sinh cũng trở nên đáng tin cậy hơn khi phổ điểm của các môn không còn quá chênh lệch.
Trường THPT chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn, thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, công bố điểm chuẩn vào lớp 10, chiều 12/6.
Điểm trúng tuyển là tổng điểm ba môn chung, gồm Văn, tiếng Anh, Toán, theo hệ số 1 và môn chuyên (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí) nhân hệ số 3. Thí sinh phải đạt tối thiểu 2 điểm ở các bài thi chung và 6 điểm ở bài thi chuyên mới được xét.
Lớp chuyên Văn tiếp tục lấy đầu vào cao nhất - 43,31 điểm. Điểm chuẩn chuyên Sử và Địa lý lần lượt là 42,99 và 41,26.
Các thí sinh trúng tuyển sẽ nhập học vào ngày 28/6.
Trường THPT chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn mới được thành lập năm 2019. Năm nay, khoảng 2.100 thí sinh cùng cạnh tranh vào 610 suất lớp 10 của trường, trong đó các lớp chuyên Văn, Sử, Địa lần lượt lấy 207, 202 và 201 học sinh. Năm ngoái, chuyên Văn dẫn đầu với điểm chuẩn 22,75/30.
Hôm nay 27.6, Trường ĐH VinUni tổ chức lễ tốt nghiệp cho 200 tân khoa năm 2026. Trong số đó, có 47 sinh viên K1 ngành y khoa. Đáng chú ý, có một tân bác sĩ đến từ Nhật Bản, đó là Yamada Homi.
Theo Trường ĐH VinUni, chương trình y khoa của nhà trường là chương trình chuẩn quốc tế, được ĐH Pennsylvania (Mỹ) đồng thiết kế và xác thực. Như vậy, đây là 47 bác sĩ đầu tốt nghiệp chương trình y khoa đạt chuẩn Mỹ được đào tại Việt Nam.
Theo TS Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH VinUni, trong số 47 tân bác sĩ K1, nhiều người đã đạt chứng chỉ USMLE của Mỹ, điều này mở ra cơ hội tiếp tục đào tạo và thực hành y khoa trong môi trường quốc tế.
Tương lai cũng rộng mở với tất cả số tân bác sĩ còn lại. Một trong những cánh cửa đó là các chương trình bác sĩ nội trú theo định hướng chuẩn ACGME-I của Mỹ do Trường ĐH VinUni cùng Vinmec phát triển: nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, chấn thương chỉnh hình, chẩn đoán hình ảnh…
Ngoài ra VinUni và Vinmec cũng đang tiếp tục mở rộng nhiều chương trình bác sĩ nội trú khác và hướng tới đạt chuẩn ACGME-I như cấp cứu, ngoại thần kinh - cột sống, nhãn khoa, tai mũi họng, nha khoa cùng các chuyên khoa sâu như tim mạch, hồi sức, lão khoa, y học di truyền, ung bướu và miễn dịch dị ứng.
Đồng thời, Hệ thống Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec luôn sẵn sàng chào đón các cử nhân điều dưỡng, các bác sĩ tân khoa VinUni với những cơ hội nghề nghiệp rộng mở, chế độ đãi ngộ hấp dẫn.
Bên hành lang buổi lễ, sinh viên người nước ngoài duy nhất của K1 y khoa, Yamada Homi, cho biết rất hào hứng trong thời gian học đại học ở VinUni. Trong suốt quá trình học, Homi không ngừng theo đuổi nghiên cứu bệnh học, ứng dụng AI trong y học, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động lãnh đạo và hợp tác quốc tế.
Những thành tựu của cô bao gồm vượt qua kỳ thi Basic Pathological Sciences, dẫn dắt nhiều sáng kiến sinh viên và tham gia các dự án nghiên cứu được ghi nhận trên trường quốc tế. Hiện Homi hướng tới chương trình đào tạo bác sĩ chuyên khoa giải phẫu bệnh tại Úc, với khát vọng đóng góp cho sự phát triển của y học thông qua nghiên cứu, trí tuệ nhân tạo và giáo dục y khoa.
Chia sẻ với tư cách là một phụ huynh, GS Lê Quang Cường, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, cho biết sau 6 năm chứng kiến "sự nghiệp" học hành của con gái, ông trở nên "mê cái chương trình này, mê cái kết quả này".
"Tôi cũng có dịp giảng dạy tại trường đại học y hàng đầu trong nước nên có điều kiện so sánh cách tiếp cận cách đào tạo của họ với VinUni thì thấy nhà trường thực sự đã tạo ra được một thế hệ bác sĩ có cách nhìn, cách xử lý vấn đề tốt hơn rất nhiều. Kết thúc khóa đào tạo, điều mà các tân bác sĩ đạt được không chỉ là những kiến thức mang tính chất lý thuyết đơn thuần mà còn có tầm nhìn, tầm bao quát và các bước giải quyết vấn đề hết sức rõ ràng. Tôi cho đấy là một thành công", GS Lê Quang Cường nói.
Cũng theo GS Lê Quang Cường, khi còn là thứ trưởng, ông được Bộ Y tế phân công phụ trách mảng đào tạo. Qua rất nhiều lần làm việc với các đoàn chuyên gia quốc tế (trong đó có các chuyên gia của ĐH Harvard, Mỹ), ông nhận thấy cốt lõi của chất lượng đào tạo y khoa chính là chương trình.
"Trước hết phải có một chương trình tốt đã rồi mới có các bước tiếp theo. Những người thiết kế, xây dựng chương trình là những người đầu tiên đóng góp vào sự thành công của một chương trình đào tạo", GS Lê Quang Cường chia sẻ.
Phát biểu tại buổi lễ, GS Glenn Gaulton, đại diện cho hàng trăm giảng viên tại ĐH Pennsylvania (UPenn) chung tay hỗ trợ VinUni xây dựng những chương trình đào tạo y khoa và điều dưỡng hàng đầu tại Việt Nam, cũng bày tỏ: "Tôi có thể hoàn toàn tin tưởng khẳng định rằng VinUni chia sẻ những chuẩn mực về sự xuất sắc, tinh thần cam kết và hệ giá trị mà chúng tôi luôn đề cao tại UPenn".
Đại học Quốc gia TP HCM (VNUHCM) là hệ thống đại học lớn nhất nước với quy mô hơn 100.000 sinh viên.
Hiện, 6 trong 8 trường thành viên đã công bố học phí năm học 2026-2027 với hệ đại học.
Ở nhóm chương trình chuẩn, học phí các trường khoảng 25-64 triệu đồng một năm, cao nhất ở trường Đại học Quốc tế (IU), thấp nhất ở trường Đại học An Giang (AGU).
Mức tăng phổ biến là từ 1 đến 15 triệu đồng, tương ứng khoảng 4-40% so với năm ngoái. Mức tăng cao nhất thuộc về ngành Thiết kế vi mạch của trường Đại học Công nghệ Thông tin (UIT). Chương trình chuẩn ngành này cao hơn các ngành còn lại gần 10 triệu đồng, dẫn đến chênh lệch lớn so với năm trước.
Với các chương trình tiên tiến, dạy học bằng tiếng Anh, học phí ở khoảng 49,5-88 triệu đồng, thấp nhất là trường Đại học Khoa học Tự nhiên, cao nhất ở Bách khoa. Mức tăng từ 3-8,5 triệu đồng, tỷ lệ 5-13%.
Chi tiết học phí các trường thành viên Đại học Quốc gia TP HCM năm 2026 như sau:
Năm nay, 8 trường thành viên Đại học Quốc gia TP HCM chuyển sang xét tuyển kết hợp điểm tốt nghiệp THPT, học bạ, đánh giá năng lực, thay vì xét riêng từng đầu điểm như trước.
Thí sinh từ 149 trường THPT diện ưu tiên xét tuyển được cộng tối đa 5 điểm nếu đạt 2 yêu cầu: học tối thiểu hai năm tại trường phổ thông, học lực trung bình cả 3 năm đạt loại tốt trở lên. Chính sách này sẽ duy trì đến năm 2028. Từ năm 2029, Đại học Quốc gia TP HCM chỉ cộng điểm với học sinh trường chuyên.