Với SME, minh bạch dòng tiền không chỉ giúp mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, mà còn là nền tảng để vận hành hiệu quả hơn. Khi ngân hàng hiểu rõ dòng tiền, hợp đồng và dữ liệu giao dịch, các giải pháp dành cho doanh nghiệp cũng có thể được thiết kế sát hơn với nhu cầu thực tế.
Đó là lý do ACB xây dựng hệ giải pháp dành cho SME xoay quanh ba trụ cột: vốn phát triển, công cụ tối ưu và năng lực bứt phá, kết nối từ khả năng tiếp cận vốn, số hóa vận hành đến nâng cao năng lực tăng trưởng của doanh nghiệp.
Với nhiều SME, nhu cầu vốn thường phát sinh ở những thời điểm rất cụ thể: cần nhập nguyên vật liệu để thực hiện đơn hàng, cần vốn lưu động cho mùa cao điểm, cần tài trợ khi đã có hợp đồng đầu ra, hoặc cần nguồn lực để đầu tư nhà xưởng, máy móc, mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, rào cản phổ biến là doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có đủ tài sản đảm bảo tương ứng với nhu cầu vốn thực tế.
Ông Từ Tiến Phát, Tổng giám đốc ACB, cho rằng việc cấp vốn cho doanh nghiệp hiện nay không chỉ dừng ở tài sản đảm bảo, mà ngày càng dựa nhiều hơn vào dòng tiền, hợp đồng và phương án sử dụng vốn. Khi doanh nghiệp minh bạch về tài chính, sổ sách và dòng tiền, ngân hàng có thêm cơ sở để thiết kế các giải pháp vốn linh hoạt, phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.
Trên tinh thần đó, nhóm giải pháp vốn phát triển của ACB được thiết kế theo hướng linh hoạt hơn, dựa trên hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp. SME có thể tiếp cận các giải pháp như thấu chi, tài trợ hợp đồng trong nước, tài trợ hợp đồng xuất khẩu, tài trợ khoản phải thu, tài trợ theo chuỗi nhà cung ứng – nhà phân phối hoặc tài trợ dựa trên dòng tiền giao dịch. Với các doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư nhà xưởng, nhà máy sản xuất, đặc biệt trong khu công nghiệp, ACB cũng có thể xem xét các giải pháp vốn trung – dài hạn phù hợp với tiến độ và mục tiêu mở rộng.
Cách tiếp cận này giúp SME được đánh giá từ chính những gì doanh nghiệp đang vận hành: có hợp đồng gì, dòng tiền ra sao, khoản phải thu thế nào, phương án sử dụng vốn có rõ hay không. Nhờ đó, vốn không chỉ là khoản vay, mà trở thành nguồn lực được thiết kế sát hơn với chu kỳ kinh doanh và kế hoạch tăng trưởng của doanh nghiệp.
Với SME, tối ưu vận hành bắt đầu từ khả năng giảm thời gian, chi phí và sự phân tán trong các hoạt động tài chính hằng ngày. Ở trụ cột công cụ tối ưu, ACB tập trung đưa các nghiệp vụ thường xuyên lên nền tảng online, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong thanh toán, quản lý tài khoản, theo dõi giao dịch và kiểm soát dòng tiền.
Hiện gần 90% giao dịch thanh toán trong nước tại ACB đã được tự động hóa trên nền tảng online; khoảng 82% giao dịch tín dụng và 36% giao dịch bảo lãnh cũng được thực hiện trực tuyến, trong đó bảo lãnh online đang tăng nhanh. Những con số này cho thấy chuyển đổi số đã trở thành một phần trong cách ACB giúp doanh nghiệp rút ngắn quy trình, vận hành linh hoạt hơn và giảm phụ thuộc vào giao dịch trực tiếp.
Điểm quan trọng là giao dịch số không chỉ mang lại sự thuận tiện, mà còn tạo ra dữ liệu giúp ngân hàng hiểu doanh nghiệp tốt hơn. Dữ liệu từ thanh toán, tài khoản và giao dịch điện tử có thể hỗ trợ ngân hàng xếp hạng, chấm điểm tín dụng và đánh giá doanh nghiệp sát hơn qua dòng tiền, lịch sử giao dịch và khả năng thanh toán thực tế. “Khi có đủ dữ liệu, có doanh nghiệp không chỉ được cấp vài trăm triệu hay vài tỷ đồng, mà có thể được xem xét cấp vốn hàng chục tỷ đồng dựa trên dòng tiền”, ông Phát khẳng định.
Để thúc đẩy quá trình này, ACB đi kèm các chính sách ưu đãi như gói ưu đãi giao dịch 20 triệu đồng, miễn phí dịch vụ thanh toán trong nước, gói dịch vụ thanh toán nước ngoài trị giá 100.000 USD, cùng hỗ trợ phần mềm bán hàng, hóa đơn điện tử, chữ ký số và các giải pháp POS, Smart POS, Soft POS. Nhìn tổng thể, nhóm công cụ tối ưu không chỉ giúp SME tiết giảm chi phí, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp vận hành nhanh hơn, minh bạch hơn và sẵn sàng hơn cho các kế hoạch tăng trưởng.
Khi đã có nguồn lực vốn và công cụ vận hành, bài toán tiếp theo của SME là biến những nền tảng đó thành tăng trưởng thực tế. Với trụ cột năng lực bứt phá, ACB mở rộng vai trò đồng hành thông qua các giải pháp kết nối hệ sinh thái khách hàng, hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, mở rộng cơ hội tiếp cận khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp đang giao dịch với ngân hàng.
Bên cạnh đó, ACB hỗ trợ các hoạt động gắn với người lao động như chi lương, mở tài khoản và cung cấp các gói ưu đãi dịch vụ cho nhân viên, giúp doanh nghiệp giảm bớt khối lượng vận hành. Ngân hàng cũng triển khai các chương trình đào tạo, chia sẻ kiến thức về bán hàng, thương mại điện tử, tiếp thị số, quản trị kinh doanh và phát triển bền vững, qua đó giúp SME nâng cao năng lực quản trị trong bối cảnh mới.
Từ vốn phát triển, công cụ tối ưu đến năng lực bứt phá, hệ giải pháp của ACB cho thấy cách tiếp cận đồng hành với SME không chỉ dừng ở việc cấp vốn. Trong bối cảnh chính sách đang mở thêm cơ hội, doanh nghiệp muốn tăng trưởng cần hiểu đúng chính sách, minh bạch dữ liệu và có đối tác đồng hành đủ am hiểu để biến cơ hội thành kết quả kinh doanh cụ thể.
Để tìm hiểu thêm thông tin về các sản phẩm dịch vụ của ACB, doanh nghiệp tham khảo Tại đây hoặc đến các Chi nhánh/Phòng giao dịch ACB gần nhất hay Contact Center 24/7: 028 38 247 247
Trong tổng thể đó, đội ngũ Người đại diện giữ vai trò quan trọng, góp phần đưa các định hướng lớn của Tập đoàn đi vào thực tiễn hoạt động tại doanh nghiệp.
Kỷ luật thực thi: Yếu tố then chốt
Petrovietnam đang bước vào giai đoạn phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, với Chiến lược phát triển đến năm 2050 và kế hoạch 5 năm 2026-2030. Đây không chỉ là những định hướng dài hạn về quy mô, lĩnh vực hoạt động hay mục tiêu tăng trưởng, mà còn đặt ra yêu cầu mới về phương thức quản trị, văn hóa thực thi và năng lực tổ chức triển khai trong toàn Tập đoàn.
Trong định hướng đó, mục tiêu gia nhập Fortune Global 500 được xác định là mục tiêu chiến lược quan trọng. Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Ngọc Sơn khẳng định, đây là định hướng kiên định mà Tập đoàn quyết tâm thực hiện; vì vậy, các giải pháp và danh mục đầu tư trong quá trình thực thi chiến lược phải bảo đảm tính khả thi, độ chính xác và hiệu quả, đủ sức hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra.
Trong bối cảnh đó, kỷ luật thực thi chiến lược trở thành yếu tố then chốt. Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Ngọc Sơn yêu cầu toàn hệ thống kiên định nguyên tắc "tập trung trụ cột - ưu tiên danh mục - kỷ luật thực thi"; đồng thời duy trì, tối ưu các tài sản hiện có, nâng hiệu suất vận hành các công trình và phát huy tối đa dư địa của các chuỗi giá trị hiện hữu.
Việc thực thi chiến lược của Petrovietnam được cụ thể hóa trong hoạt động của từng đơn vị, từng lĩnh vực. Từ thăm dò khai thác dầu khí, công nghiệp khí, điện, lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật, vận tải, phân phối sản phẩm đến nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số và phát triển các trung tâm năng lượng, mỗi đơn vị đều là một mắt xích trong tổng thể chiến lược chung.
Ở lĩnh vực thăm dò khai thác, yêu cầu đặt ra là mở rộng hoạt động E&P quốc tế, thúc đẩy M&A, bảo đảm gia tăng trữ lượng và sản lượng trong dài hạn. Ở lĩnh vực khí, Petrovietnam cần tiếp tục định vị vai trò trong chuỗi giá trị khí LNG, đồng thời mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế. Trong lĩnh vực điện, các dự án mới phải được phát triển phù hợp với Quy hoạch điện 8 điều chỉnh và chiến lược chung của Tập đoàn. Cùng với đó là định hướng phát triển trung tâm năng lượng, lọc hóa dầu tích hợp tại Quảng Ngãi; phát triển trung tâm dịch vụ năng lượng tại Vũng Tàu; mở rộng kinh doanh dầu thô, sản phẩm dầu và nâng cao hiệu quả phối hợp trong các chuỗi giá trị.
Những yêu cầu đó đòi hỏi sự thống nhất cao giữa định hướng của Tập đoàn và hoạt động quản trị tại doanh nghiệp. Ở đây, Người đại diện phần vốn của Petrovietnam giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ thực hiện quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu vốn, mà còn là cầu nối để các chủ trương, định hướng, quy định và mục tiêu chiến lược của Tập đoàn được triển khai đúng hướng, đúng thẩm quyền và phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh.
Chất lượng hoạt động của Người đại diện có tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn của Petrovietnam tại doanh nghiệp. Trong các chuỗi giá trị lớn, vai trò phối hợp của Người đại diện càng cần được phát huy rõ hơn. Với chuỗi khí - điện hay chuỗi sản phẩm dầu mỏ từ sản xuất, vận chuyển đến phân phối, sự phối hợp giữa các đơn vị, giữa các Người đại diện có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả vận hành toàn chuỗi. Trong các lĩnh vực như điện lực, phân bón, xây lắp, hóa chất, dịch vụ kỹ thuật, trách nhiệm đại diện vốn cũng cần được gắn với hiệu quả chung của từng chuỗi giá trị.
Cùng với đó, việc xây dựng bộ chỉ tiêu KPI, chuẩn bị nguồn nhân sự kế nhiệm và tháo gỡ các vướng mắc trong phân cấp, phối hợp giữa Đảng và chính quyền sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ Người đại diện. Đây là yêu cầu đáng chú ý trong bối cảnh tổ chức đảng tại doanh nghiệp đã chuyển về địa phương, đặt ra những vấn đề mới về cơ chế phối hợp, thông tin và thực thi trách nhiệm.
Nâng cao chất lượng quản trị
Song song với yêu cầu thực thi chiến lược, Petrovietnam đang từng bước hoàn thiện mô hình quản trị theo thông lệ tiên tiến. Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Ngọc Sơn yêu cầu toàn Tập đoàn tiếp tục đổi mới mô hình quản trị theo hướng tiệm cận các nguyên tắc quản trị của OECD, coi đây là chuẩn mực nền tảng để hiện đại hóa quản trị, tăng cường minh bạch, nâng cao chất lượng điều hành và năng lực giám sát, phản biện, hỗ trợ ra quyết định.
Việc triển khai các nội dung liên quan đến quản trị doanh nghiệp (quản trị rủi ro, kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ) vượt trên cả tuân thủ pháp luật theo chuẩn OECD cho thấy yêu cầu quản trị trong Tập đoàn ngày càng đi vào chiều sâu. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao tính minh bạch, chất lượng ra quyết định, trách nhiệm giải trình, hiệu quả giám sát tại doanh nghiệp.
Đối với các đơn vị thành viên, áp dụng chuẩn mực quản trị theo OECD là quá trình củng cố môi trường quản trị doanh nghiệp vững mạnh, hiệu quả hơn. Thực tiễn hoạt động của các đơn vị trong lĩnh vực phân bón, vận tải, thăm dò khai thác, khoan và dịch vụ kỹ thuật cho thấy, việc áp dụng mô hình quản trịtheo thông lệ tốt đáp ứng chuẩn OECD giúp cho doanh nghiệp nâng được uy tín khi đưa sản phẩm dịch vụ đến với các thị trường quốc tế cũng như có nhiều lợi thế khi tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường...
Trong quá trình đó, sự phối hợp giữa Người đại diện với các ban chuyên môn của Tập đoàn có ý nghĩa quan trọng. Các ban chuyên môn vừa giữ vai trò tham mưu, hướng dẫn, vừa là đầu mối hỗ trợ Người đại diện trong xử lý các vấn đề thuộc thẩm quyền. Ngược lại, Người đại diện cũng là kênh phản ánh thực tiễn từ doanh nghiệp về Tập đoàn, giúp Petrovietnam nhận diện sớm khó khăn, vướng mắc, điều chỉnh cơ chế quản lý và nâng cao chất lượng điều hành.
Chuyển đổi số được xác định là một trụ cột quan trọng trong nâng cao hiệu quả hoạt động của Petrovietnam.
Từ kinh nghiệm chuyển đổi số tại Petrovietnam và các đơn vị thành viên như Tổng công ty CP Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR), Tổng công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC), có thể thấy chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà còn là động lực đổi mới phương thức quản trị, điều hành và ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Theo báo cáo thay đổi sở hữu mới nhất, bà Nguyễn Thiên Hương Jenny đã mua thêm 15,746 triệu cổ phiếu ACB trong phiên 12/6. Sau giao dịch, lượng cổ phiếu do bà Jenny sở hữu tăng từ hơn 135,6 triệu đơn vị lên hơn 151,4 triệu đơn vị, tương ứng tỉ lệ sở hữu tăng từ 2,64% lên 2,95% vốn điều lệ.
Bà Nguyễn Thiên Hương Jenny là con gái của bà Ngô Thu Thúy - Chủ tịch HĐQT CTCP Âu Lạc. Nhóm cổ đông liên quan đến Âu Lạc hiện gồm bà Ngô Thu Thúy, ông Nguyễn Đức Hinh, bà Nguyễn Thiên Hương Jenny, ông Nguyễn Đức Hiếu Johnny, bà Mai Phi Lan cùng các tổ chức liên quan.
Trước đó, ngày 5/6, ông Nguyễn Đức Hiếu Johnny cũng đã mua thêm gần 2 triệu cổ phiếu ACB, nâng lượng cổ phiếu nắm giữ lên 97,6 triệu đơn vị, tương đương 1,9% vốn điều lệ ngân hàng.
Sau các giao dịch mới nhất, tổng lượng cổ phiếu ACB do nhóm Âu Lạc nắm giữ đạt gần 492,7 triệu đơn vị, tương ứng 9,59% vốn điều lệ. So với thời điểm cuối tháng 3/2026, khi nhóm này lần đầu xuất hiện trong danh sách cổ đông lớn của ACB với tỉ lệ sở hữu 5,01%, lượng cổ phần nắm giữ đã tăng thêm hơn 235 triệu cổ phiếu.
Diễn biến này đưa nhóm Âu Lạc trở thành một trong những nhóm cổ đông trong nước có tỉ lệ sở hữu lớn nhất tại ACB. Xét về quy mô cổ phiếu nắm giữ, nhóm này hiện vượt xa nhiều cổ đông lớn đơn lẻ của ngân hàng.
Tại ĐHĐCĐ thường niên hồi tháng 4/2026, ông Trần Hùng Huy - Chủ tịch HĐQT cho biết, nhóm cổ đông Âu Lạc đã có thời gian dài hơn 20 năm gắn bó với ACB, có lúc trên 5%, có lúc dưới.
"Họ cũng có các cam kết dài hạn với Ngân hàng. ACB kỳ vọng họ sẽ có những đóng góp cho ACB trong thời gian sắp tới", ông nói.
Theo dữ liệu công bố, ông Trần Hùng Huy đang sở hữu hơn 176 triệu cổ phiếu, tương đương 3,43% vốn điều lệ. Trong khi đó, Dragon Financial Holdings Limited nắm khoảng 140,8 triệu cổ phiếu và Smallcap World Fund sở hữu hơn 112 triệu cổ phiếu.
Động thái gia tăng sở hữu diễn ra ngay trước thời điểm ACB thực hiện kế hoạch phân phối lợi nhuận năm 2025. Ngày 16/6 vừa qua, ngân hàng đã chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức với tổng tỉ lệ 20%, gồm 7% bằng tiền mặt và 13% bằng cổ phiếu.
Theo kế hoạch, ACB sẽ chi khoảng 3.595 tỷ đồng để thanh toán cổ tức tiền mặt cho cổ đông, tương ứng 700 đồng/cổ phiếu. Đồng thời, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 667,7 triệu cổ phiếu để trả cổ tức, qua đó nâng vốn điều lệ từ 51.366 tỷ đồng lên khoảng 58.044 tỷ đồng.
Về kết quả kinh doanh, quý I/2026, ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 5.400 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước. Tổng thu nhập đạt 8.900 tỷ đồng, tăng 13%, trong đó thu nhập lãi tăng 10% và thu nhập ngoài lãi tăng 23%.
Tổng tài sản của ngân hàng tiếp tục duy trì trên mốc 1 triệu tỷ đồng, với 97% là tài sản sinh lời. tỉ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) được kiểm soát ở mức 32%, thấp hơn năm trước, phản ánh hiệu quả vận hành được cải thiện.
Chiều nay 4.7, UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức hội nghị công bố quyết định điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 kết hợp xúc tiến đầu tư.
Hội nghị diễn ra tại Trung tâm Văn hóa - điện ảnh tỉnh Quảng Trị (cơ sở 2, phường Nam Đông Hà), với sự tham dự của lãnh đạo các ban, bộ, ngành trung ương; đại diện các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế; lãnh đạo một số địa phương của Lào, Thái Lan cùng hơn 500 đại biểu, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Nguyễn Văn Phương nhấn mạnh, Quảng Trị hôm nay có biển, có rừng, có biên giới; có hành lang Đông - Tây, có trục Bắc - Nam; có chiều sâu lịch sử, có khát vọng hòa bình và có điều kiện để vươn lên mạnh mẽ.
"Quy hoạch tỉnh Quảng Trị thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được điều chỉnh lần này là một dấu mốc rất quan trọng, đồng thời là công cụ để Quảng Trị từng bước hiện thực hóa định hướng chiến lược nêu trên, chuyển tầm nhìn thành định hướng phát triển cụ thể", ông Phương nhấn mạnh.
Theo quy hoạch mới, Quảng Trị xác định phát triển dựa trên 4 trụ cột chiến lược, gồm: năng lượng, logistics, du lịch và nông nghiệp xanh. Tỉnh cũng hình thành 3 hành lang kinh tế động lực, gồm: hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang Bắc - Nam phụ trợ phía tây và hành lang kinh tế Đông - Tây xuyên Á; 7 cực tăng trưởng cùng 2 vùng phát triển trọng điểm, tạo nền tảng phát triển hệ thống đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, trung tâm logistics và các khu du lịch trọng điểm.
Ông Hoàng Nam, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Trị, cho biết việc điều chỉnh quy hoạch không đơn thuần là hợp nhất quy hoạch của hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị trước đây mà hướng đến kiến tạo một mô hình phát triển mới phù hợp sau khi hợp nhất địa giới hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp.
Quy hoạch đặt mục tiêu đưa Quảng Trị trở thành cực tăng trưởng quan trọng của khu vực Bắc Trung bộ, là trung tâm năng lượng, logistics, kinh tế biển và du lịch, đồng thời là cửa ngõ kết nối Việt Nam với Lào, Thái Lan, Campuchia và Tiểu vùng Mê Kông mở rộng.
"Trong quy hoạch lần này, các nguồn lực phát triển của Quảng Trị được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, được kết nối bằng quy hoạch không gian, hệ thống hạ tầng và các chuỗi giá trị kinh tế", ông Nam nhấn mạnh.
Cụ thể, đến năm 2030, Quảng Trị phấn đấu trở thành tỉnh phát triển khá của khu vực Bắc Trung bộ, với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân trên 10%/năm; quy mô nền kinh tế khoảng 238.000 tỉ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt 180 - 200 triệu đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 trên 520.000 tỉ đồng; công suất nguồn điện hơn 15.000 MW; tỷ lệ đô thị hóa đạt 45 - 50%; đón 13 - 15 triệu lượt khách du lịch mỗi năm, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Đến năm 2050, Quảng Trị hướng tới trở thành tỉnh phát triển bền vững, là trung tâm năng lượng sạch, logistics, du lịch và kinh tế biển có vị thế trong khu vực Đông Nam Á.
Một trong những điểm nhấn của hội nghị là lễ trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và văn bản chấp thuận nghiên cứu, khảo sát dự án.
Cụ thể, tỉnh trao quyết định chủ trương đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 29 dự án với tổng vốn đăng ký 118.777 tỉ đồng (tương đương 4,712 tỉ USD), trong đó có 5 dự án FDI với tổng vốn hơn 9.117 tỉ đồng. Đồng thời, tỉnh chấp thuận nghiên cứu, khảo sát 4 dự án với tổng vốn đăng ký 75.803 tỉ đồng. Tổng nguồn vốn đăng ký đầu tư được trao tại hội nghị đạt 194.580 tỉ đồng (khoảng 7,719 tỉ USD).
Nhiều dự án quy mô lớn được trao quyết định dịp này, như: Nhà máy nhiệt điện LNG Quảng Trạch III, Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị, các dự án điện gió quy mô lớn, chuỗi dự án đô thị - du lịch của Sun Group, cùng nhiều dự án khu công nghiệp, logistics, du lịch nghỉ dưỡng và nông nghiệp công nghệ cao.
Thông qua hội nghị, Quảng Trị tiếp tục giới thiệu danh mục các dự án ưu tiên thu hút đầu tư giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời cam kết cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và đồng hành cùng doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai dự án với thông điệp: "Quảng Trị - Không gian mới, cơ hội mới".
Dịp này, hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Trị, các doanh nghiệp cũng đăng ký tài trợ 20 tỉ đồng cho chương trình hỗ trợ nhà ở dành cho người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ trên địa bàn.