Bác sĩ Nguyễn Phối Hiền, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM – cơ sở 3, cho biết vì quen thuộc nên nhiều người nghĩ rau má, atisô, nhân trần, rễ tranh và cam thảo uống sao cũng được. Thực tế, dược liệu và thảo mộc vẫn có tính vị, công năng và điểm cần lưu ý. Theo y học cổ truyền, một vị thuốc dùng đúng thể trạng có thể phù hợp, nhưng dùng sai người, sai lúc hoặc sai lượng sẽ khiến cơ thể khó chịu.
Rau má là loại nước mát được nhiều người chọn khi cảm thấy nóng bứt rứt, khô miệng hoặc muốn uống một món thanh mát trong ngày nóng. Theo y học cổ truyền, nước rau má thường được dùng với mục đích thanh nhiệt, lợi tiểu, hỗ trợ làm dịu cảm giác nóng trong người.
Tuy nhiên, theo bác sĩ Phối Hiền, rau má không nên được xem là thức uống uống càng nhiều càng tốt. Dùng lượng lớn hoặc dùng kéo dài có thể gây đầy bụng, tiêu lỏng, đau đầu hoặc khó chịu ở một số người. Người có tiêu hóa yếu, hay lạnh bụng, người có bệnh gan hoặc đang dùng thuốc điều trị dài ngày nên thận trọng.
Cam thảo có vị ngọt, dễ uống, thường được cho vào các loại nước mát để làm dịu vị và giúp nước uống dễ chịu hơn. Nhưng đây lại là một trong những vị cần lưu ý nhất khi dùng kéo dài.
Dùng cam thảo liều cao hoặc dùng thường xuyên trong thời gian dài có thể gây giữ nước, phù, tăng huyết áp, giảm kali máu và làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim. Người tăng huyết áp, bệnh tim, bệnh thận, người đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc thuốc tim mạch cần đặc biệt thận trọng. Không nên nghĩ cam thảo có vị ngọt, dễ uống thì chắc chắn an toàn.
Atisô thường xuất hiện trong các loại trà hoặc nước uống được giới thiệu là giúp dễ tiêu, thanh mát. Loại này có thể phù hợp với một số người hay đầy bụng, chậm tiêu sau bữa ăn, nhưng cũng không nên dùng theo kiểu uống thay nước lọc mỗi ngày. Dùng quá nhiều atisô có thể gây đầy hơi, chướng bụng hoặc khó chịu tiêu hóa.
“Người có bệnh lý đường mật, sỏi mật hoặc đang điều trị bệnh gan mật nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thường xuyên, vì không phải trường hợp nào liên quan gan mật cũng phù hợp để tự uống atisô”, bác sĩ lưu ý.
Nhân trần là vị thường gặp trong các loại nước uống thanh nhiệt, nhất là khi mọi người muốn dùng để “mát gan” hoặc “giải nhiệt”. Theo y học cổ truyền, nhân trần thường được dùng trong phạm vi thanh thấp nhiệt, lợi tiểu, hỗ trợ các biểu hiện liên quan thấp nhiệt khi có chỉ định phù hợp.
Điểm cần nhớ là nhân trần không phải nước uống dùng kéo dài hằng ngày cho mọi người. Người huyết áp thấp, người dễ lạnh bụng, hay tiêu lỏng, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú hoặc người đang dùng thuốc điều trị nên hỏi ý kiến nhân viên y tế trước khi dùng thường xuyên.
Rễ tranh có tính thanh nhiệt, lợi tiểu theo y học cổ truyền. Trong dân gian, rễ tranh thường được nấu nước uống trong những ngày nóng hoặc khi cảm thấy tiểu ít, nước tiểu vàng.
Tuy nhiên, vì có tính lợi tiểu, dùng nhiều rễ tranh có thể làm tăng số lần đi tiểu. Với người cao tuổi, người uống ít nước, người đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc người có bệnh thận, việc dùng tùy tiện có thể ảnh hưởng đến cân bằng nước trong cơ thể. Không nên dùng rễ tranh thay nước lọc mỗi ngày.
Theo bác sĩ Mai Phương Uyên, Viện Nghiên cứu và Tư vấn dinh dưỡng NERCI (TP.HCM), về an toàn thực phẩm, nước luộc rau có thể chứa một số chất tan ra từ rau, bao gồm oxalat, nitrat, một phần kali và có thể có cả tàn dư thuốc bảo vệ thực vật nếu rau không được rửa sạch hoặc nguồn rau không bảo đảm.
Với người khỏe mạnh, thỉnh thoảng dùng nước luộc rau thường không đáng lo. Tuy nhiên, một số nhóm cần thận trọng hơn, cụ thể:
Theo bác sĩ Uyên, người cao tuổi có thể uống nước luộc rau như một phần của bữa ăn nếu rau được rửa sạch, luộc vừa chín và không nêm quá mặn. Tuy nhiên, với người mắc bệnh thận mạn, suy tim, tăng huyết áp hoặc cần kiểm soát lượng nước và natri, không nên uống nước luộc rau tùy ý mà cần tuân theo hướng dẫn của bác sĩ.
Bác sĩ Phương Uyên cho hay, quan điểm “chất bổ của rau đều tan vào nước luộc rau” là chưa chính xác. Dù khi luộc, một phần vitamin tan trong nước như vitamin C, folate, một số vitamin nhóm B và một phần khoáng chất có thể hòa tan vào nước, nhưng không phải toàn bộ chất dinh dưỡng đều nằm trong nước luộc. Phần “xác rau” vẫn còn lại chất xơ, nhiều khoáng chất, các hợp chất thực vật có lợi và một phần vitamin. Vì vậy, nếu chỉ uống nước luộc mà bỏ phần rau thì sẽ mất đi lợi ích quan trọng nhất của rau là chất xơ.
“Rau giúp cung cấp chất xơ, tạo cảm giác no, hỗ trợ tiêu hóa, kiểm soát đường huyết, mỡ máu và góp phần giảm nguy cơ bệnh tim mạch, tăng huyết áp, béo phì. Nước luộc rau có thể là một phần của bữa ăn, nhưng không nên xem là ‘tinh chất rau’ hay dùng để thay thế khẩu phần rau hằng ngày”, bác sĩ Phương Uyên khuyên.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị người trưởng thành nên ăn ít nhất 400 g rau quả/ngày để giảm nguy cơ bệnh không lây nhiễm và bảo đảm lượng chất xơ cần thiết cho cơ thể.
Theo bác sĩ Phương Uyên, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) khuyến cáo mọi người nên chọn rau có nguồn gốc rõ ràng, rửa dưới vòi nước chảy, loại bỏ lá già, lá dập nát, không dùng xà phòng hay các loại hóa chất rửa rau không được khuyến cáo.
Khi chế biến rau, nên:
Tóm lại, nước luộc rau có thể là một phần của chế độ ăn lành mạnh, nhưng không thể thay thế giá trị dinh dưỡng của chính phần rau. Nên ưu tiên ăn cả rau, chế biến hợp lý và sử dụng nước luộc rau vừa phải, phù hợp với từng tình trạng sức khỏe, mới là cách mang lại lợi ích tối ưu.
TS.BS Mai Bá Tiến Dũng, Trưởng khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, tại hội thảo tập huấn chuẩn châu Âu về nam khoa ngày 5/6, cho biết thực tế lâm sàng gần đây ghi nhận số ca ung thư cơ quan sinh dục nam đến viện muộn ở mức đáng lo ngại.
Riêng ung thư dương vật, mỗi tuần bệnh viện phẫu thuật khoảng 5-6 ca. Tuy nhiên, đa số người bệnh nhập viện khi đã ở giai đoạn muộn (T3), rất hiếm trường hợp phát hiện sớm (T1). Trong khi đó, đến giai đoạn T3, cơ hội điều trị bảo tồn hầu như không còn, nhiều trường hợp bắt buộc phải cắt đoạn dương vật.
Theo bác sĩ Dũng, ung thư dương vật thường xuất hiện ở nam giới từ 40 tuổi trở lên, song gần đây ghi nhận xu hướng trẻ hóa rõ rệt. Bệnh viện từng tiếp nhận bệnh nhân mới 25 tuổi, nhiều trường hợp khoảng 28 tuổi đã phải phẫu thuật cắt đoạn do phát hiện muộn.
Mới đây, một nam bệnh nhân 28 tuổi sau điều trị ổn định và không tái phát đã tìm đến bác sĩ với mong muốn được tạo hình lại dương vật để có thể đứng tiểu tiện và cải thiện chất lượng sống. Các bác sĩ sau đó sử dụng vạt da cơ ở cánh tay quay để tái tạo cơ quan sinh dục cho người bệnh.
Dễ nhầm với sùi mào gà
Ung thư dương vật diễn tiến âm thầm, không phát triển ồ ạt. Ban đầu, người bệnh chỉ xuất hiện một nốt sẩn nhỏ ở vùng quy đầu hoặc dưới da quy đầu. Sau khoảng 6 tháng đến một năm, tổn thương lan rộng dần thành khối sùi lớn giống bông cải, dễ chảy máu. Nhiều trường hợp bị nhầm với sùi mào gà, dẫn đến điều trị không đúng cách và bỏ lỡ "thời gian vàng".
"Sùi mào gà thường có chân khu trú rõ, trong khi tổn thương ung thư bám rộng, dễ chảy máu hơn", bác sĩ Dũng giải thích.
Ung thư tinh hoàn cũng có diễn tiến âm thầm tương tự. Trung bình mỗi tuần, Bệnh viện Bình Dân phẫu thuật 2-3 ca bệnh. Giai đoạn đầu thường không đau, người bệnh chỉ vô tình phát hiện khối cứng nhỏ trong tinh hoàn khi tắm hoặc đến khi tinh hoàn sưng lớn mới đi khám.
Do đó, bác sĩ khuyến cáo nam giới nên chủ động tự kiểm tra cơ quan sinh dục mỗi ngày khi tắm rửa, lộn da quy đầu để vệ sinh và quan sát các bất thường như nốt sùi, vết loét hoặc khối cứng. Với tinh hoàn, cần tự sờ nắn hai bên để phát hiện sớm khối u.
"Bác sĩ tốt nhất của mỗi người chính là bản thân mình", bác sĩ Dũng nói, cho biết các gói khám sức khỏe định kỳ hiện chưa bao gồm danh mục tầm soát chuyên sâu cho hai bệnh lý này.
Giữ khả năng làm cha cho bệnh nhân ung thư
Không chỉ đe dọa tính mạng, ung thư cơ quan sinh dục nam còn ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản. Theo bác sĩ Dũng, hóa trị và xạ trị - hai phương pháp điều trị quan trọng - có thể gây tổn thương nghiêm trọng tế bào sinh tinh, khiến người bệnh mất khả năng sản xuất tinh trùng. Vì vậy, bảo tồn khả năng sinh sản trước điều trị đang được xem là chiến lược bắt buộc và mang tính nhân văn.
Đối với trẻ dưới 15 tuổi, xu hướng hiện nay là lưu giữ tế bào mầm trong mô tinh hoàn để bảo tồn khả năng sinh sản. Trong trường hợp buộc phải xạ trị, bác sĩ ưu tiên kỹ thuật xạ trị khu trú hoặc di chuyển tinh hoàn ra ngoài vùng tia xạ nhằm giảm tổn thương hệ sinh tinh.
Với nam giới trưởng thành còn khả năng xuất tinh, giải pháp tối ưu là trữ đông tinh trùng trước điều trị để phục vụ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) sau này. Những trường hợp không thể xuất tinh do ung thư tinh hoàn hoặc ung thư cơ quan sinh dục có thể được phân lập tinh trùng trực tiếp từ mô tinh hoàn để lưu trữ.
Tuy nhiên, tỷ lệ tinh trùng hồi phục sau rã đông không đạt tuyệt đối. Theo bác sĩ Dũng, mức hồi phục 60-65% đã được xem là thành công. Hiện kỹ thuật trữ đông vi giọt (micro-droplet) được đánh giá là hướng đi triển vọng giúp ổn định chất lượng tinh trùng tốt hơn.
Thời gian tới, ngành niệu khoa Việt Nam dự kiến hợp tác với Hội Tiết niệu châu Âu nhằm triển khai các chương trình tầm soát, nghiên cứu và thống kê quy mô lớn đối với nhóm bệnh lý này.
Từ đó, bác sĩ lưu ý nếu ngủ ngáy kéo dài kèm mệt mỏi, buồn ngủ ban ngày, mọi người nên đi khám sớm để kịp thời phát hiện và điều trị các bệnh lý nguy hiểm liên quan.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Phạm Ánh Ngân, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3, ngáy là âm thanh khàn hoặc rè phát ra khi không khí đi qua các mô mềm ở cổ họng. Khi ta ngủ thiếp đi và chuyển từ giấc ngủ nông sang giấc ngủ sâu, các cơ ở vòm miệng (vòm họng mềm), lưỡi và cổ họng sẽ thư giãn.
Các mô trong cổ họng có thể thư giãn đến mức chặn một phần đường thở và rung lên. Đường thở càng hẹp, luồng không khí càng mạnh; điều này làm tăng sự rung động của mô, khiến tiếng ngáy càng to hơn.
Các yếu tố nguy cơ có thể góp phần gây ra chứng ngáy ngủ gồm:
Là nam giới: Có nhiều khả năng ngáy hoặc mắc chứng ngưng thở khi ngủ hơn nữ giới.
Thừa cân: Những người thừa cân hoặc béo phì có nhiều khả năng bị ngáy hoặc ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở.
Đường thở hẹp: Một số người có thể có vòm miệng mềm dài, amidan hoặc VA (amidan vòm) lớn, có thể làm hẹp đường thở và gây ngáy ngủ.
Uống rượu: Rượu làm giãn cơ họng, tăng nguy cơ ngáy ngủ.
Gặp vấn đề về mũi: Nếu bạn có khiếm khuyết cấu trúc ở đường thở, chẳng hạn như vẹo vách ngăn mũi, nghẹt mũi mạn tính, nguy cơ ngáy ngủ sẽ cao hơn.
Tiền sử gia đình có người ngáy ngủ hoặc mắc chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở: Yếu tố di truyền cũng là một nguy cơ tiềm ẩn.
Theo phân loại rối loạn giấc ngủ quốc tế (ICSD-3), ngủ ngáy có thể là biểu hiện của rối loạn hô hấp khi ngủ do tắc nghẽn, trong đó phổ biến nhất là hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA). Trong nhiều trường hợp, ngủ ngáy chính là dấu hiệu đầu tiên dễ nhận thấy của bệnh lý này.
Bác sĩ Ánh Ngân cho biết, nhiều nghiên cứu cho thấy OSA là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh động mạch vành. Người mắc OSA có nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn, xơ vữa động mạch tiến triển nhanh hơn và tăng nguy cơ tử vong lâu dài.
Nguyên nhân là do tình trạng thiếu oxy lặp đi lặp lại và giấc ngủ bị gián đoạn có thể làm tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, gây stress oxy hóa, viêm toàn thân, rối loạn chức năng mạch máu và thúc đẩy hình thành huyết khối - những yếu tố góp phần làm tổn thương mạch máu và tim.
“Trên thực tế, OSA không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành mà còn khiến tiên lượng sức khỏe kém hơn sau các biến cố tim mạch cấp hoặc sau can thiệp tái thông mạch máu. Vì vậy, nếu thường xuyên ngủ ngáy kèm theo các dấu hiệu như thức dậy vẫn mệt mỏi, buồn ngủ ban ngày, khó tập trung, hoặc đang mắc tăng huyết áp, bệnh tim mạch…, người bệnh nên đi khám sớm. Đây có thể là dấu hiệu cảnh báo một rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cần được phát hiện và điều trị kịp thời”, bác sĩ Ánh Ngân lưu ý.