Nằm trên giường bệnh để chạy thận nhân tạo tại một bệnh viện tuyến cuối ở TP.HCM, khuôn mặt hốc hác, cơ thể rã rời sau nhiều giờ lọc máu, anh N.T.C. (50 tuổi, TP.HCM) chậm rãi kể về hành trình hơn 15 năm chống chọi với căn bệnh suy thận.
Dù được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả 80% chi phí điều trị, mỗi tháng gia đình anh vẫn phải tự xoay xở thêm 2-3 triệu đồng, có tháng gần 4 triệu đồng. Với nhiều người, số tiền ấy có thể không quá lớn, nhưng với gia đình anh là khoản chi đè nặng suốt nhiều năm.
Mắc bệnh đã lâu, anh không còn khả năng lao động. Mọi chi phí sinh hoạt, thuốc men và điều trị đều dồn lên vai người vợ. Một mình chị vừa là lao động chính của gia đình, vừa lặng lẽ đồng hành cùng chồng trong những buổi chạy thận kéo dài để níu giữ sự sống.
Tương tự, chị N.T.K. có người thân đang chạy thận cấp cứu tại TP.HCM cho hay ban đầu người nhà chị được điều trị tại bệnh viện công lập, sau đó được chuyển sang bệnh viện tư nhân và chuyển về bệnh viện tỉnh để chạy thận.
Chị K. cho hay hiện chi phí cho mỗi ca chạy thận được BHYT chi trả nên người bệnh không phải đóng tiền điều trị trực tiếp. Tuy nhiên bệnh nhân vẫn phải tự mua nhiều loại vật tư và thuốc phục vụ quá trình lọc máu như dây dẫn, thuốc, màng lọc…
Theo chị, các khoản này không được bệnh viện cấp mà người bệnh phải tự mua rồi mang vào sử dụng. Có những tháng tổng chi phí chỉ khoảng 2-3 triệu đồng nhưng cũng có tháng lên đến 4-5 triệu đồng, tùy lượng thuốc và vật tư cần dùng.
Chạy thận nhân tạo định kỳ từ năm 16 tuổi, chị M.T. (ngụ phường Chợ Lớn, TP.HCM) đến nay đã trải qua hơn 30 năm gắn bó với máy chạy thận và là một trong những bệnh nhân có thời gian điều trị lâu nhất tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Chị T. cho biết dù được BHYT thanh toán 80% chi phí chạy thận, mỗi tháng chị vẫn phải tự chi trả khoảng 6-7 triệu đồng cho phần đồng chi trả và các khoản ngoài danh mục BHYT.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Nguyễn Minh Quân, Phó trưởng khoa nội thận – lọc máu, Bệnh viện Thống Nhất – cho biết hiện nay số lượng bệnh nhân phải lọc máu đang gia tăng ở cả người cao tuổi lẫn người trẻ.
Chất lượng điều trị lọc máu ngày càng được cải thiện giúp người bệnh sống lâu hơn. Trước đây nhiều bệnh nhân chỉ duy trì được 5-10 năm, nhưng hiện nay nhiều trường hợp có thể sống 15-20 năm hoặc lâu hơn.
Một bác sĩ đang là lãnh đạo khoa thận, bệnh viện tuyến cuối TP.HCM cho hay hiện nay dù bệnh nhân có thẻ BHYT đúng tuyến (được hưởng 100%), thế nhưng người bệnh vẫn phải tự chi trả thêm khoảng 1-3 triệu đồng/tháng tùy tháng.
Các khoản chi phí phát sinh ngoài danh mục này bao gồm như nâng cấp màng lọc (quả lọc) theo quy định tiêu chuẩn của BHYT để tiết kiệm chi phí, một quả lọc phải tái sử dụng (rửa lại) 6 lần.
Tuy nhiên để đảm bảo sức khỏe tốt nhất, giảm tối đa các biến chứng, người bệnh thường có nhu cầu chỉ tái sử dụng màng lọc từ 1 – 3 lần, hoặc dùng màng lọc một lần (màng lọc tốt). Phần chênh lệch này bệnh nhân phải tự bù.
Ngoài ra, còn vật tư tiêu hao và thuốc, dây lọc máu, kim chích, dịch lọc chất lượng cao, các loại thuốc đi kèm bắt buộc trong quá trình chạy thận (thuốc chống đông máu, thuốc kiểm soát huyết áp, nước muối sinh lý…). Bệnh nhân còn phải chi trả chi phí làm các xét nghiệm sàng lọc, kiểm tra định kỳ sau lọc máu và tiền khấu hao máy móc của bệnh viện.
“Trong trường hợp các bệnh viện công quá tải máy và không thể tiếp nhận, bệnh nhân buộc phải sang các bệnh viện tư nhân. Chi phí tại đây dao động từ 7-8 triệu đồng/tháng (gần như gấp đôi so với bệnh viện công)”, vị này cho hay.
Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, các chuyên gia đề xuất trước mắt BHYT nên nâng mức chi trả để người bệnh có thể điều trị ổn định, đồng thời giúp cả bệnh viện công và tư duy trì hoạt động chạy thận.
Ngày 15/5, tại Đà Nẵng, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) tổ chức hội nghị lấy ý kiến đề án Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030.
Ông Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, cho rằng khi nói về cấp cứu ngoại viện, không chỉ là xe cứu thương, tổng đài cấp cứu, hay một ê-kíp nhân viên y tế lên đường trong đêm, mà là nói về những phút đầu tiên quyết định sinh mạng con người.
“Có những trường hợp, ranh giới giữa sống và mất, giữa hồi phục và tàn phế, giữa một gia đình còn nguyên vẹn và một nỗi đau không thể bù đắp, chỉ được tính bằng từng phút”, Thứ trưởng Bộ Y tế bày tỏ.
Vì vậy, theo Thứ trưởng Bộ Y tế, cấp cứu ngoại viện không phải là phần việc nằm bên ngoài bệnh viện. Đó chính là cánh tay nối dài của bệnh viện, tuyến đầu của hệ thống điều trị và là nơi ngành y tế gặp người bệnh trong thời khắc mong manh nhất.
Theo Bộ Y tế, trong nhiều năm qua, hệ thống cấp cứu 115 và các lực lượng cấp cứu tại địa phương đã có nhiều nỗ lực, đặc biệt trong cấp cứu tai nạn giao thông, đột quỵ, nhồi máu cơ tim, ngừng tuần hoàn, thảm họa, dịch bệnh và các tình huống khẩn cấp.
Một số địa phương đã hình thành mô hình điều phối, bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối bệnh viện và huy động sự tham gia của nhiều lực lượng.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, hệ thống cấp cứu ngoại viện hiện nay còn phân tán, chưa đồng bộ, chưa liên thông, phương tiện và thiết bị còn thiếu, sự phối hợp giữa y tế, công an, phòng cháy, chữa cháy, quân đội, giao thông và chính quyền địa phương trong nhiều tình huống còn chưa thật sự nhịp nhàng…
Lãnh đạo Bộ Y tế cho rằng, người dân cần một hệ thống cấp cứu phản ứng nhanh, nhưng hệ thống ở nhiều nơi vẫn còn phản ứng theo từng điểm rời rạc. Người bệnh cần được điều phối thông minh ngay từ cuộc gọi đầu tiên, nhưng dữ liệu, tổng đài, phương tiện, bệnh viện tiếp nhận và lực lượng hiện trường chưa phải lúc nào cũng nằm trên cùng một mặt phẳng vận hành.
Đây chính là lý do Bộ Y tế xây dựng đề án Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030. Đề án này không chỉ nhằm nâng cấp một dịch vụ y tế, mà nhằm thiết lập một cấu phần rất quan trọng của hệ thống y tế hiện đại. Theo đó, cấp cứu phải đến với người dân nhanh hơn, đúng hơn, an toàn hơn và có tổ chức hơn.
Tại hội nghị, lãnh đạo Bộ Y tế yêu cầu đi thẳng vào 3 câu hỏi lớn để các đại biểu tham gia ý kiến hoàn thiện đề án.
Thứ nhất, mô hình tổ chức nào là phù hợp nhất với Việt Nam: vừa thống nhất, liên thông toàn quốc, vừa đủ linh hoạt cho đô thị lớn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, ven biển, hải đảo?
Thứ hai, cơ chế vận hành nào để khi người dân cần cấp cứu, từ cuộc gọi đầu tiên đến hiện trường, từ hiện trường đến bệnh viện tiếp nhận, mọi lực lượng liên quan đều phối hợp như một hệ thống, không phải như những mảnh ghép riêng lẻ?
Thứ ba, nguồn lực nào để hệ thống này vận hành bền vững bằng con người được đào tạo chuẩn, phương tiện đạt chuẩn, nền tảng số thống nhất, cơ chế tài chính rõ ràng và trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành?
Ung thư đại trực tràng là ung thư phát triển ở đại tràng hoặc trực tràng - phần cuối của ruột già. Bệnh thường khởi phát từ các polyp (khối tế bào nhỏ, lành tính) và có thể tiến triển thành ung thư theo thời gian. Yếu tố di truyền, lối sống và môi trường được cho là có liên quan.
Nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể đạt cao, đặc biệt ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, triệu chứng ban đầu thường nhẹ và dễ nhầm với rối loạn tiêu hóa hoặc nhiễm trùng đường ruột, vì vậy cần lưu ý các dấu hiệu cảnh báo sớm.
Thay đổi thói quen đại tiện
Một trong những dấu hiệu ung thư sớm là sự thay đổi rõ rệt trong thói quen đại tiện. Người bệnh có thể bị tiêu chảy hoặc táo bón thường xuyên hơn, hoặc xen kẽ giữa hai tình trạng này. Phân có thể nhỏ và mỏng hơn bình thường.
Những thay đổi này dễ bị nhầm với chế độ ăn uống, căng thẳng hoặc nhiễm trùng đường ruột. Tuy nhiên, nếu kéo dài hoặc tái diễn, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo khối u ảnh hưởng đến hoạt động của đại tràng.
Có máu trong phân
Máu trong phân là dấu hiệu không nên bỏ qua bất kể nguyên nhân là gì. Máu có thể xuất hiện dưới dạng đỏ tươi hoặc phân sẫm màu, đen như hắc ín do máu cũ.
Trong một số trường hợp, lượng máu rất ít, không nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có thể gây thiếu máu theo thời gian. Dù tình trạng này có thể liên quan đến bệnh trĩ hoặc nhiễm trùng, song vẫn cần loại trừ ung thư đại tràng, đặc biệt khi xuất hiện lặp lại hoặc kèm triệu chứng khác.
Đau hoặc khó chịu vùng bụng
Cảm giác khó chịu kéo dài ở bụng cũng là dấu hiệu sớm thường bị bỏ qua. Người bệnh có thể bị đau quặn, đầy hơi, chướng bụng hoặc cảm giác no kéo dài. Những biểu hiện này dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa thông thường. Tuy nhiên, nếu không liên quan đến ăn uống hoặc thay đổi lối sống và kéo dài dai dẳng, đây có thể là dấu hiệu của khối u gây kích thích hoặc tắc nghẽn trong đại tràng.
Mệt mỏi và suy nhược bất thường
Cảm giác mệt mỏi, yếu sức không rõ nguyên nhân cũng có thể là dấu hiệu tiềm ẩn của ung thư đại trực tràng, đặc biệt khi đi kèm các triệu chứng khác. Nguyên nhân có thể do chảy máu âm thầm trong đại tràng dẫn đến thiếu máu thiếu sắt.
Khi cơ thể thiếu hồng cầu, khả năng vận chuyển oxy giảm, gây mệt mỏi, khó thở và suy nhược. Những biểu hiện này dễ bị bỏ qua hoặc nhầm với căng thẳng, thiếu ngủ.
Sụt cân nhanh
Giảm cân không chủ ý là triệu chứng thường gặp ở nhiều loại ung thư, bao gồm ung thư đại tràng. Khi cơ thể phải chống lại ung thư, hệ miễn dịch hoạt động quá mức, đồng thời khối u có thể ảnh hưởng đến tiêu hóa và cảm giác thèm ăn. Nếu sụt cân đáng kể mà không thay đổi chế độ ăn hay vận động, nên đi khám. Dấu hiệu này thường xuất hiện muộn hơn nhưng đôi khi cũng có thể là cảnh báo sớm.
Phát hiện sớm ung thư đại trực tràng gặp khó khăn do các triệu chứng thường không đặc hiệu. Những biểu hiện như đau bụng, tiêu chảy hay thiếu máu cũng có thể xuất hiện trong nhiều bệnh lý khác như viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, ngộ độc thực phẩm hoặc viêm dạ dày ruột do virus.
Tuy nhiên, khi triệu chứng kéo dài hoặc bất thường, người bệnh nên đi khám để xác định nguyên nhân, ngay cả khi nghi ngờ chỉ là các bệnh lành tính như trĩ.
Theo khuyến nghị, người trưởng thành từ 45 đến 75 tuổi nên tầm soát định kỳ và có thể thực hiện sớm hơn nếu có yếu tố nguy cơ hoặc dấu hiệu nghi ngờ.
Ngày 4.7, tin từ Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ cho biết, các bác sĩ bệnh viện vừa phối hợp cùng Bệnh viện Tim mạch thành phố Cần Thơ phẫu thuật lấy thai cứu sống mẹ con sản phụ mang thai lần 2 trên nền bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp, biến chứng loạn nhịp thất rất nặng.
Trước đó, ngày 30.6, Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ, tiếp nhận sản phụ L.T.D.T (34 tuổi, ở tỉnh Vĩnh Long) nhập viện trong tình trạng mang thai 38 tuần 4 ngày, đau trằn bụng kèm theo các triệu chứng mệt mỏi, khó thở.
Qua thăm khám, các bác sĩ phát hiện thai nhi ở ngôi mông (tình trạng bé nằm dọc trong tử cung nhưng phần mông quay xuống dưới cổ tử cung, thay vì phần đầu - PV), tim thai phẳng... Đặc biệt, sản phụ có nhịp tim tăng rất cao lên đến 148 - 150 lần/phút, huyết áp 120/80 mmHg, có tiền sử tiểu đường thai kỳ tiết chế.
Trước sự phức tạp của ca cấp cứu, bệnh viện đã kích hoạt quy trình hội chẩn liên viện với Bệnh viện Tim mạch thành phố Cần Thơ. Kết quả siêu âm tim chuyên sâu xác định sản phụ mắc bệnh tim bẩm sinh Ebstein type B, hở van 2 lá và 3 lá mức độ 2/4, tăng áp lực động mạch phổi nhẹ, chức năng tâm thu thất trái giảm nhẹ, kết hợp điện tâm đồ (ECG) ghi nhận nhịp nhanh thất nguy hiểm.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hà Ngọc Uyên, Trưởng khoa Cấp cứu, Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ, nhận định bệnh tim bẩm sinh Ebstein là một dị tật nghiêm trọng của van 3 lá và thất phải, vô cùng hiếm gặp ở sản phụ cận ngày sinh. Khi bước vào giai đoạn chuyển dạ, sự thay đổi huyết động đột ngột kết hợp với tình trạng nhịp nhanh thất lên tới 150 lần/phút khiến bệnh nhân rơi vào nguy cơ suy tim cấp, sốc tim, ngưng tim hoặc thuyên tắc phổi do huyết khối bất cứ lúc nào.
"Bệnh nhân cần điều trị cắt cơn nhịp nhanh thất bằng thuốc truyền tĩnh mạch có thể ảnh hưởng đến thai nhi cho nên ê kíp phải chạy đua với thời gian, đưa ra chỉ định phẫu thuật lấy thai cấp cứu ngay lập tức; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng các phương án hồi sức tim mạch chuyên sâu ngay tại phòng mổ", bác sĩ Uyên nói.
Ngay sau đó, sản phụ được chuyển đến phòng mổ để thực hiện phẫu thuật lấy thai. Với sự phối hợp nhịp nhàng giữa ê kíp sản khoa, tim mạch và gây mê hồi sức, ca phẫu thuật đã thành công. Một bé trai nặng 3.240 gram chào đời an toàn. Sau phẫu thuật, sản phụ được chuyển về Khoa Phẫu thuật gây mê - Hồi sức tích cực - Chống độc để tiếp tục theo dõi điều trị chuyên sâu.
Qua ca cấp cứu trên, bác sĩ Uyên cũng lưu ý, đối với các thai phụ mắc bệnh lý tim bẩm sinh, đặc biệt là dị tật Ebstein, tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ diễn tiến nặng trong thai kỳ và lúc chuyển dạ do sự thay đổi đột ngột về huyết động của người mẹ. Do đó, việc chủ động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cần được lưu ý.
Cụ thể cần có sự tư vấn, tầm soát và đánh giá kỹ lưỡng từ các bác sĩ chuyên khoa tim mạch lẫn sản khoa trước khi lập kế hoạch có con. Sản phụ bắt buộc phải tuân thủ lịch khám thai định kỳ một cách nghiêm ngặt tại các cơ sở y tế chuyên khoa sâu - nơi có sự phối hợp liên chuyên khoa chặt chẽ và năng lực hồi sức cấp cứu cao. Ngay khi xuất hiện các triệu chứng như mệt mỏi kéo dài, hồi hộp đánh trống ngực, khó thở hoặc đau trằn bụng, sản phụ cần đến ngay bệnh viện để được thăm khám và xử trí kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm đe dọa đến tính mạng của cả mẹ và con.