Ngày 7-9/7, ghi nhận của phóng viên tại Khu du lịch sinh thái biển Ngân Hạnh, xã Hoằng Tiến (Thanh Hóa), cho thấy dự án nằm sát bãi biển Hải Tiến, giữa khu vực có các biệt thự nghỉ dưỡng và một số hạng mục như bể bơi, chòi nghỉ. Tuy nhiên, bên trong dự án vẫn còn hàng chục nghìn m2 đất để hoang, không được đầu tư phát triển đúng quy hoạch khiến khu vực này trông hoang vu, nhếch nhác.
Đại diện UBND xã Hoằng Tiến cho biết địa phương vừa tiếp nhận kết luận thanh tra của Thanh tra tỉnh đối với dự án.
“Xã sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai các nội dung khắc phục theo kết luận thanh tra, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để xử lý dự án theo quy định”, vị này nói.
Theo kết luận thanh tra, ngày 11/5/2004, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 1535/QĐ-UB thu hồi gần 149.000 m2 đất tại xã Hoằng Trường (nay thuộc xã Hoằng Tiến) giao cho Công ty TNHH Ngân Hạnh thực hiện dự án.
Đến năm 2019, UBND tỉnh chấp thuận cho doanh nghiệp chuyển nhượng khu A và B, diện tích khoảng 74.487 m2, cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Du lịch Đại Dương Xanh. Phần còn lại khoảng 68.311 m2 thuộc khu C và D tiếp tục do Công ty TNHH Ngân Hạnh quản lý.
Thanh tra tỉnh kết luận việc giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án không phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt tại thời điểm triển khai, chỉ phù hợp với quy hoạch chi tiết Khu du lịch sinh thái biển Hải Tiến đến năm 2015.
Đáng chú ý, dự án được giao đất nhưng chưa có văn bản hoặc quyết định của UBND tỉnh chấp thuận địa điểm, diện tích đầu tư cũng như quyết định cấp phép đầu tư theo quy định của pháp luật thời điểm đó.
Theo cơ quan thanh tra, đây là vi phạm trong quá trình triển khai dự án, trách nhiệm thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường), UBND huyện Hoằng Hóa (cũ, nay là UBND xã Hoằng Tiến) cùng các đơn vị, cá nhân liên quan giai đoạn 2003-2005.
Thanh tra cũng xác định UBND tỉnh giao 20.000 m2 đất có thu tiền sử dụng đất để xây dựng biệt thự chuyển nhượng hoặc cho thuê là không đúng đối tượng theo quy định pháp luật tại thời điểm giao đất.
Ngoài ra, Hội đồng thẩm định giá đất và các cơ quan liên quan xác định tiền sử dụng đất theo bảng giá đất của tỉnh thay vì thực hiện định giá theo quy định; thời điểm xác định, phê duyệt giá đất cũng không đúng quy định. Trách nhiệm thuộc Sở Tài chính, Hội đồng thẩm định giá đất và các cá nhân tham mưu giai đoạn 2004-2005.
Theo kết luận thanh tra, quá trình giải phóng mặt bằng dự án vẫn còn tồn tại kéo dài.
Công ty TNHH Ngân Hạnh và UBND xã Hoằng Tiến báo cáo đã hoàn thành giải phóng mặt bằng khu C và D. Tuy nhiên, hộ ông Nguyễn Hữu Hoàng dù đã nhận tiền bồi thường vẫn chưa di dời vì chưa được bố trí đất tái định cư.
Thanh tra nhận định UBND huyện Hoằng Hóa trước đây thu hồi đất của người dân khi chưa có mặt bằng tái định cư là không đảm bảo quy định của Chính phủ.
Ngày 5/6/2026, Công ty TNHH Ngân Hạnh có văn bản cam kết sau khi địa phương hoàn thành việc bố trí tái định cư cho hộ dân còn lại sẽ tập trung nguồn lực thi công các hạng mục còn dang dở, phấn đấu hoàn thành toàn bộ dự án trong quý IV/2028.
Theo quy hoạch được phê duyệt, khu C mới san lấp mặt bằng, xây tường rào nhưng chưa xây dựng bất kỳ công trình nào.
Tại khu D, doanh nghiệp mới xây dựng 18/27 căn biệt thự, khách sạn mới hoàn thành hai trên ba tầng, cùng một số hạng mục như bể bơi, hồ sen, chòi nghỉ và đường nội bộ. Nhiều công trình khác như nhà nghỉ dưỡng, nhà hàng dịch vụ biển và các công trình phụ trợ vẫn chưa được triển khai.
Thanh tra cho biết dự án được giao đất từ năm 2004, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các năm 2013 và 2019 với tổng diện tích hơn 136.639 m2.
Tuy nhiên, dự án đã hết thời hạn đầu tư từ quý IV/2021 nhưng đến nay vẫn còn khoảng 37.234 m2 đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không vướng giải phóng mặt bằng nhưng chưa được đầu tư xây dựng.
Cơ quan thanh tra xác định nhà đầu tư chậm đưa đất vào sử dụng, vi phạm quy định của Luật Đất đai năm 2024.
Để xảy ra các vi phạm kể trên thuộc về trách nhiệm của các tập thể, cá nhân thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Hoằng Hóa thời kỳ 2003-2005, lãnh đạo Sở Tài chính năm 2004. Cùng với đó, nhà đầu tư có trách nhiệm trong việc đầu tư xây dựng, chậm đưa đất vào sử dụng.
Sau giai đoạn tái cơ cấu và xử lý các vướng mắc pháp lý, CTCP Phát triển Nhà Thủ Đức (Thuduc House, HoSE: TDH) ghi nhận kết quả kinh doanh khởi sắc trong quý I/2026, đồng thời từng bước tái khởi động các dự án bất động sản và mở rộng thêm hoạt động thương mại nhằm cải thiện dòng tiền.
Theo báo cáo tài chính quý I/2026, Thuduc House ghi nhận doanh thu đạt 47,39 tỷ đồng, tăng 493,1% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 6,49 tỷ đồng, tăng 14,3%.
Trong kỳ, lợi nhuận gộp của doanh nghiệp đạt khoảng 11 tỷ đồng, tăng 126,3% so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động tài chính cũng tăng 66,1% lên 1,91 tỷ đồng.
Trong khi đó, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tăng 32,9%, lên 9,37 tỷ đồng. Các khoản mục còn lại biến động không đáng kể.
Thuduc House cho biết doanh nghiệp đã ghi nhận hơn 6 tỷ đồng doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản trong quý đầu năm, đánh dấu sự trở lại của lĩnh vực cốt lõi sau thời gian tái cơ cấu hoạt động.
Năm 2026, công ty đặt mục tiêu doanh thu khoảng 249,7 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 38,47 tỷ đồng. Với kết quả đạt được trong quý I/2026, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 16,9% kế hoạch lợi nhuận năm.
Tại thời điểm ngày 31/3/2026, tổng tài sản của Thuduc House đạt 686,8 tỷ đồng, tăng nhẹ 0,2% so với đầu năm.
Trong cơ cấu tài sản, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn nhất với 272,6 tỷ đồng, tương đương 39,7% tổng tài sản. Ngoài ra, doanh nghiệp còn ghi nhận 122,9 tỷ đồng các khoản phải thu dài hạn, 109,6 tỷ đồng bất động sản đầu tư và 87,3 tỷ đồng các khoản phải thu ngắn hạn.
Theo thuyết minh báo cáo tài chính, phần lớn tồn kho là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tại các dự án bất động sản.
Trong đó, dự án khu đô thị dịch vụ thương mại Long Hội ghi nhận giá trị hơn 165,7 tỷ đồng; dự án Golden Hill gần 149,9 tỷ đồng; dự án trung tâm thương mại Phước Long hơn 43,4 tỷ đồng và dự án khu nhà ở 6,5 ha phường Bình An khoảng 17,5 tỷ đồng.
Ở phía nguồn vốn, đến cuối quý I/2026, Thuduc House ghi nhận 214,33 tỷ đồng người mua trả tiền trước ngắn hạn, chiếm khoảng 31,2% tổng nguồn vốn. Khoản mục này chủ yếu bao gồm gần 199,4 tỷ đồng tiền tạm ứng chuyển nhượng dự án và vốn, bên cạnh các khoản tạm ứng xây lắp công trình và tiền trả trước mua căn hộ từ khách hàng.
Liên quan đến kế hoạch tái khởi động các tài sản còn lại, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, Chủ tịch HĐQT công ty Trần Thành Vinh cho biết doanh nghiệp đang rà soát một số quỹ đất và dự án dở dang tại khu vực quận 9 cũ và Bình Chánh để triển khai trở lại.
Song song với lĩnh vực bất động sản, công ty cũng đang từng bước mở rộng sang hoạt động phân phối hàng hóa như trái cây, hàng tiêu dùng và thiết bị điện tử.
Thêm một thông tin tích cực tới với doanh nghiệp trước đó, ngày 21/4/2026, Thuduc House công bố đã nhận văn bản từ Cục Thuế Tp.HCM về việc hủy toàn bộ các quyết định cưỡng chế thuế áp dụng đối với doanh nghiệp trong suốt 5 năm qua.
Theo đó, cơ quan thuế đã hủy bỏ các quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ban hành từ cuối năm 2020 và đầu năm 2021, đồng thời chấm dứt các biện pháp cưỡng chế hành chính như dừng làm thủ tục hải quan, ngừng sử dụng hóa đơn và phong tỏa tài khoản ngân hàng.
Các thông báo nợ thuế phát sinh trong giai đoạn từ tháng 12/2020 đến tháng 4/2025 liên quan khoản tiền chậm nộp trên số tiền gốc hơn 365,5 tỷ đồng cũng được xóa bỏ. Việc thi hành bản án đồng thời gỡ bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với việc chuyển dịch và thế chấp tài sản của doanh nghiệp.
Giai đoạn 2020-2021, Thuduc House từng bị ảnh hưởng bởi vụ án liên quan hoạt động xuất khẩu linh kiện điện tử. Tháng 3/2021, doanh nghiệp bị cưỡng chế ngừng sử dụng hơn 16.500 hóa đơn, khiến hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Năm 2021, công ty ghi nhận khoản lỗ kỷ lục 942 tỷ đồng.
Sau khi được Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Tp.HCM tuyên thắng kiện vào tháng 9/2025, tình hình tài chính của doanh nghiệp có dấu hiệu cải thiện. Cả năm 2025, Thuduc House ghi nhận doanh thu 253 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hơn 108 tỷ đồng, vượt đáng kể kế hoạch đề ra.
Ngày 8/7, tại phiên họp thứ 4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước năm 2027.
Tại phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày báo cáo thẩm tra dự thảo Nghị quyết về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2027 – 2030.
Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, Nghị quyết quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2027-2030 cho các bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương.
Về nguyên tắc, tiêu chí phân bổ dự toán ngân sách chi thường xuyên đảm bảo phù hợp với khả năng cân đối ngân sách Nhà nước giai đoạn 2027-2030, ưu tiên nguồn lực để thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, của Quốc hội, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước, cơ cấu lại ngân sách Nhà nước theo hướng giảm tỉ trọng của chi thường xuyên.
Tiêu chí phân bổ ngân sách rõ ràng, đơn giản, thuận lợi hơn trong thực hiện và kiểm tra, giám sát, đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch.
Căn cứ dự toán chi thường xuyên được tính theo quy định tại nghị quyết này, các bộ, cơ quan trung ương ban hành định mức phân bổ dự toán chi ngân sách cho đơn vị trực thuộc; các địa phương ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi thường xuyên cho các cơ quan, đơn vị thuộc cấp tỉnh và chính quyền địa phương cấp xã phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
Thẩm tra, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước giai đoạn 2027–2030.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ rà soát các quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ chi thường xuyên áp dụng đối với các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đảm bảo tính đầy đủ, khả thi, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội và tình hình thực tiễn, cũng như là khả năng cân đối ngân sách Nhà nước.
Kết luận nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất sự cần thiết ban hành nghị quyết và sẽ áp dụng cho dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước năm 2027, thay vì cả giai đoạn 2027-2030.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, việc quy định cho năm 2027 là phù hợp trong bối cảnh Chính phủ dự kiến trình Quốc hội xem xét sửa đổi, hợp nhất Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Đầu tư công tại kỳ họp tháng 10/2026 tới. Sau khi khuôn khổ pháp lý mới được hoàn thiện sẽ tiếp tục xem xét các quy định áp dụng cho giai đoạn 2028-2030, đồng thời đảm bảo thời kỳ ổn định ngân sách.
Lãnh đạo Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát hệ thống nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi thường xuyên đối với cả Trung ương và địa phương; cập nhật đầy đủ các chủ trương, nghị quyết mới của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, y tế và các lĩnh vực liên quan…
Đây là bước đi tiếp theo trong chiến lược mở rộng của Green SM tại Philippines thông qua mô hình hợp tác với các doanh nghiệp vận tải địa phương, kết hợp nền tảng công nghệ và tiêu chuẩn vận hành của Green SM với năng lực triển khai tại từng thị trường.
Các thỏa thuận có sự tham gia của 75 doanh nghiệp vận tải, hợp tác xã hoạt động tại nhiều tỉnh, thành phố Philippines như Metro Manila, Cebu, Davao, Iloilo, Cagayan de Oro, Cavite, Pampanga, Bacolod, Batangas, Baguio và Ozamiz. Đây đều là những khu vực người dân có nhu cầu di chuyển cao và ngày càng quan tâm tới các giải pháp giao thông xanh.
Theo kế hoạch hợp tác, các bên dự kiến triển khai đội xe thông qua cả hình thức đầu tư trực tiếp và thuê dài hạn 18.497 xe, bao gồm các mẫu VinFast VF 5/Herio Green và Limo Green được tối ưu cho vận tải hành khách công nghệ.
Lễ ký kết đánh dấu bước tiến mới nhất của Green SM trong quá trình triển khai nền tảng di chuyển thuần điện với tiêu chuẩn vận hành đồng bộ tại các đô thị trọng điểm trên khắp khu vực Đông Nam Á.
Trong lộ trình mở rộng này, Philippines đóng vai trò là một trong những thị trường then chốt. Tại đây, Green SM mở rộng theo mô hình hợp tác, kết hợp giữa hệ thống tiêu chuẩn vận hành tập trung và năng lực triển khai tại địa phương. Sau giai đoạn đầu với 2.500 xe hợp tác cùng Xentro Group, giai đoạn tiếp theo được kỳ vọng sẽ mở rộng đáng kể quy mô đội xe cũng như phạm vi hoạt động.
Theo mô hình này, Green SM cung cấp phương tiện điện, nền tảng công nghệ và hệ thống tiêu chuẩn dịch vụ, trong khi đối tác địa phương đảm nhiệm vận hành đội xe và quản lý tài xế. Cách tiếp cận này cho phép đảm bảo chất lượng dịch vụ, tiêu chuẩn an toàn và trải nghiệm người dùng đồng bộ, đồng thời linh hoạt thích ứng với điều kiện từng thị trường. Ngoài ra, mô hình cũng giúp tối ưu khả năng nhân rộng thông qua việc tận dụng mạng lưới vận tải hiện hữu, qua đó tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sang phương tiện điện diễn ra một cách có lộ trình và hiệu quả.
Ông Gio Colmenares, Tổng giám đốc Asia Prime Force Corporation, chia sẻ: "Thỏa thuận hợp tác này phản ánh một xu hướng chuyển dịch rộng lớn của ngành vận tải, nơi quy mô, hiệu quả và tính bền vững ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau. Nền tảng của Green SM mang lại một cách tiếp cận có cấu trúc trong việc triển khai xe điện, kết hợp giữa sự rõ ràng trong vận hành và tiềm năng tăng trưởng dài hạn. Chúng tôi không chỉ nhìn nhận đây là cơ hội tại Philippines, mà còn là một phần của sự chuyển đổi rộng hơn của hệ thống giao thông đô thị trong khu vực Đông Nam Á".
Bà Dave Baldoza, Giám đốc Điều hành Green EV Transport Corp và Green Fast Corporation, cho biết: "Đối với các hợp tác xã vận tải, chuyển đổi sang phương tiện điện không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà còn là bài toán phát triển bền vững lâu dài cho các thành viên. Mô hình của Green SM giúp chúng tôi hiện đại hóa đội xe trong khi vẫn đảm bảo sự ổn định vận hành và nguồn khách ổn định. Đây là cơ hội rõ ràng để các hợp tác xã tham gia vào giai đoạn phát triển tiếp theo của giao thông đô thị".
Bà Rachel Ann Villanueva, Chủ tịch Green Will Corporation, nhận định: "Việc mở rộng di chuyển điện đòi hỏi sự phối hợp đầu tư giữa phương tiện, hạ tầng và vận hành. Những mô hình hợp tác như thế này cho thấy cách các thành phần trong hệ sinh thái có thể cùng nhau thúc đẩy triển khai trên quy mô lớn. Chúng tôi nhận thấy tiềm năng rõ rệt để mô hình này thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi không chỉ tại Philippines, mà còn tại các đô thị đang phát triển trong khu vực."
Ông Nguyễn Văn Thanh, Tổng Giám đốc GSM Toàn cầu, chia sẻ: "Điện hóa giao thông không còn là xu hướng trong tương lai, mà đang diễn ra mạnh mẽ tại nhiều đô thị lớn trên thế giới. Đông Nam Á là một trong những khu vực năng động nhất cho quá trình chuyển đổi này. Để triển khai trên quy mô lớn, không chỉ cần công nghệ, mà cần những mô hình có thể vận hành đồng bộ giữa các thị trường, đồng thời linh hoạt theo điều kiện địa phương. Thông qua nền tảng và mô hình hợp tác, Green SM hướng tới thúc đẩy di chuyển điện một cách thực tiễn và bền vững, đồng thời duy trì tiêu chuẩn dịch vụ nhất quán trên toàn hệ thống".