Như vậy, theo quy định EVN sẽ phải rà soát, đánh giá lại các chi phí để báo cáo tới Bộ Công Thương trước ngày 25-7 tới.
Những nội dung phải báo cáo bao gồm: Sản lượng điện thương phẩm thực tế của quý trước và tổng sản lượng điện cộng dồn từ đầu năm cũng như ước sản lượng còn lại trong năm.
Xác định chi phí phát điện của quý trước liền kề, chi phí phát điện cộng dồn từ đầu năm (bao gồm cả chi phí mua điện từ các nhà máy cung cấp dịch vụ phụ trợ). Các chi phí khâu phát điện các tháng còn lại, các khoản chi phí khác chưa được tính vào giá bán lẻ điện bình quân.
Trên cơ sở đó, EVN sẽ được thực hiện điều chỉnh/giữ nguyên giá theo thẩm quyền. Cụ thể, nếu giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2%, EVN báo cáo Bộ Công Thương việc không điều chỉnh giá, lập hồ sơ gửi Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân được tính toán giảm từ 1% trở lên hoặc cần điều chỉnh tăng từ 2-5% so với giá hiện hành, EVN lập hồ sơ phương án giá báo cáo Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát và cho ý kiến. Bộ sẽ trả lời trong 15 ngày và EVN thực hiện điều chỉnh giá sau 5 ngày theo đúng quy định giá điện có thể điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần.
Giá bán lẻ điện bình quân đã được điều chỉnh lần gần đây nhất là ngày 10-5-2025, với mức tăng 4,8%, lên 2.204,0655 đồng/kWh (chưa gồm VAT).
Trong khi đó, báo cáo mới đây nhất của EVN cho hay năm 2025 tình hình tài chính của tập đoàn này khởi sắc khi thoát lỗ sang lãi.
Báo cáo gần đây nhất của EVN cho hay trong 6 tháng đầu năm, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 171,54 tỉ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ 2025.
Đây là mức tăng khá cao trong bối cảnh nhu cầu điện tăng mạnh để phục vụ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân do thời tiết nắng nóng.
Hệ thống điện vì thế liên tục lập kỷ lục với sản lượng điện ngày cao nhất đạt 1.215,4 triệu kWh (ngày 25-6), công suất cực đại đạt 57.537 MW (ngày 24-6). Hầu hết, các nguồn điện đều được huy động tối đa, trong đó có nguồn giá cao. Cụ thể, tổ máy chạy dầu Nhiệt điện Ô Môn, một số tổ máy tua bin khí đã chuyển nhiên liệu khí thiên nhiên sang DO để tăng công suất khả dụng hệ thống.
Trong cơ cấu nguồn, điện than chiếm tỉ trọng tới gần 55%, điện khí chiếm 8%, năng lượng tái tạo chiếm gần 13%, trong khi nguồn điện giá rẻ là thủy điện chỉ chiếm 21%. Với cơ cấu như vậy, chi phí giá thành sản xuất điện đang có yếu tố bất lợi hơn so với năm 2025 khi phải huy động những nguồn điện giá cao như than, khí và dầu.
Trả lời Tuổi Trẻ trước đó, ông Nguyễn Đình Phước – Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) – cho hay báo cáo tài chính riêng công ty mẹ – EVN được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế công ty mẹ – EVN năm 2025 là 39.762 tỉ đồng, góp phần giảm lỗ lũy kế còn 5.611 tỉ đồng.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế toàn tập đoàn là 51.881,9 tỉ đồng, không còn lỗ lũy kế hợp nhất đến hết năm 2025. Tuy nhiên, khoản chênh lệch tỉ giá chưa được ghi nhận vào chi phí sản xuất, ước tính còn khoảng 17.500 tỉ đồng. Trường hợp không thực hiện phân bổ tỉ giá trong năm 2025, giá điện đã có thể có cơ hội giảm nhờ giá thành giảm mạnh.
Tuy nhiên, sức ép tăng giá đang hiện hữu. Mức giá mua điện của EVN trong ba tháng đầu năm liên tục tăng, ghi nhận mức bình quân là 1.907,65 đồng/kWh, gấp đôi so với thời điểm tháng 11-2025 chỉ với 954,89 đồng/kWh. Nếu cộng thêm khoản chênh lệch tỉ giá, đây là áp lực không nhỏ cho tập đoàn này trong việc giữ ổn định giá điện.
Ông Nguyễn Đình Phước cho hay từ đầu năm 2026 tới nay, đã có những diễn biến khó lường, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của EVN. Điều này khiến chi phí mua điện từ các nhà máy điện của EVN tăng, gây áp lực lớn lên cân đối tài chính.
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn thuế với giao dịch tài sản mã hóa. Trong đó, nhà đầu tư là cá nhân có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa qua tổ chức cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân. Tỷ lệ được xác định là 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần. Quy định này áp dụng với mọi nhà đầu tư cá nhân, không phân biệt cá nhân cư trú hay không cư trú. Mức này tương đương cách tính thuế với giao dịch chứng khoán.
Nói với VnExpress, Luật sư Đào Tiến Phong, Giám đốc Hãng luật Investpush, đánh giá áp thuế dựa trên giá trị chuyển nhượng từng giao dịch là cách tính đơn giản và nhanh gọn. Ở góc độ chính sách, ông cho rằng đây là cách tiếp cận khá thận trọng và phù hợp với giai đoạn đầu: ưu tiên thiết lập được cơ chế thu và kiểm soát dòng tiền trước, thay vì theo đuổi ngay một mô hình đánh thuế theo lợi nhuận vốn, đòi hỏi hệ thống dữ liệu, chuẩn mực kế toán và cơ chế đối soát rất chặt chẽ.
Cách tính thuế thu nhập cá nhân với tài sản mã hóa được thiết kế tương tự chứng khoán, theo ông, xuất phát từ ba lý do chính.
Thứ nhất, đây là mô hình đã "chạy được" trong thực tế. Cơ chế này khấu trừ thuế trực tiếp trên giá trị chuyển nhượng qua công ty chứng khoán trong nhiều năm và cơ bản kiểm soát được dòng tiền, hạn chế thất thu.
Thứ hai, đặc điểm giao dịch của tài sản mã hóa khá gần với chứng khoán, ở góc độ kỹ thuật quản lý. Cả hai đều là tài sản có thể giao dịch liên tục, giá biến động theo thị trường và có thể phát sinh số lượng lớn lệnh trong thời gian ngắn. Nếu áp dụng cách tính thuế dựa trên lợi nhuận thực tế ngay từ đầu, cơ quan quản lý sẽ phải giải bài toán rất phức tạp về việc xác định giá vốn, lịch sử giao dịch, chuyển tài sản giữa các ví và các nền tảng khác nhau. Trong khi đó, cách đánh thuế trên giá trị chuyển nhượng giúp bỏ qua toàn bộ các yếu tố này và tập trung vào một điểm dữ liệu duy nhất: giá trị của giao dịch tại thời điểm phát sinh.
Thứ ba, việc áp dụng mô hình tương tự chứng khoán còn giúp tạo sự nhất quán trong hệ thống pháp luật thuế khi chưa đủ thời gian triển khai và trải nghiệm mô hình. Điều này rất quan trọng trong giai đoạn đầu khi mục tiêu ưu tiên là đưa thị trường vào khuôn khổ và tạo được thói quen tuân thủ.
Chủ một doanh nghiệp chuyên tiếp thị liên kết (affiliate) cho các sàn giao dịch lớn, có trụ sở tại TP HCM, cũng cho rằng áp dụng cách tính thuế tương tự chứng khoán tạo ra cách hiểu và cách vận dụng đơn giản, không chỉ với cơ quan quản lý mà còn với nhà đầu tư. Cách tính thuế dựa trên giá chuyển nhượng từng lần có thể giúp ghi nhận giá trị giao dịch và khấu trừ ngay tại tổ chức cung cấp dịch vụ. Điều này không khác so với cơ chế công ty chứng khoán khấu trừ thuế khi nhà đầu tư bán cổ phiếu đã được thực hiện thông suốt nhiều năm qua.
Tuy nhiên, ông cho rằng cần làm rõ thu thuế trên mỗi giao dịch chuyển thành tiền, hay mỗi lệnh trên sàn. Bởi khác với chứng khoán, giao dịch tài sản mã hóa không chỉ là bán ra để thu tiền, mà còn có thể trao đổi từ coin này sang coin khác (ví dụ từ Bitcoin sang Ether), bán ra stablecoin (ví dụ bán Bitcoin ra USDT), chuyển về ví nội bộ hoặc ví lạnh (thiết bị lưu trữ không kết nối mạng)...
"Nếu không làm rõ sự kiện chịu thuế (taxable event), nhà đầu tư sẽ đứng trước nguy cơ bị đánh thuế trùng", ông lo ngại.
Khi gửi góp ý cho Bộ Tài chính hồi tháng 9/2025, sàn giao dịch tiền số lớn nhất thế giới Binance từng cho rằng việc đánh thuế trên tổng giá trị giao dịch, ngay cả ở mức "có vẻ thấp", cũng làm giảm đáng kể động lực giao dịch. Điều này tác động tiêu cực đến ngành do thuế này đánh vào mọi giao dịch, ngay cả khi người bán đang chịu lỗ. Ngoài ra, việc này cũng khiến hoạt động giao dịch tần suất cao của một nhóm nhà giao dịch trở nên không khả thi vì họ thường thực hiện khối lượng lớn các giao dịch có biên lợi nhuận thấp thông qua thuật toán tự động.
Theo Binance, việc áp dụng thuế một cách đồng loạt đối với hoạt động này có thể dẫn đến nghĩa vụ thuế vượt quá lợi nhuận thực tế, từ đó làm suy giảm các giao dịch thường xuyên và làm giảm thanh khoản thị trường. Những tác động tiêu cực lan tỏa này đã được ghi nhận ở những khu vực pháp lý áp dụng thuế giao dịch tương tự.
Ví dụ, Indonesia áp thuế 0,22% đối với giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa. Trong năm 2023, thu ngân sách thuế tài sản mã hóa của đất nước vạn đảo giảm 63% sau khi cách tính thuế này được áp dụng vào tháng 5/2022, bất chấp giá Bitcoin tăng vọt.
Luật sư Đào Tiến Phong cũng cho rằng với những nhà đầu tư ngắn hạn, mức thuế 0,1% có thể ăn mòn đáng kể lợi nhuận của họ. Theo ông, vấn đề ở đây không nằm hoàn toàn ở mức thuế mà ở cơ chế đánh thuế theo giá trị giao dịch thay vì theo lợi nhuận thực tế. Cách làm này giúp cơ quan quản lý thu được thuế ngay, dễ kiểm soát và hạn chế tranh chấp, nhưng lại chưa phản ánh đúng bản chất thu nhập của nhà đầu tư.
"Trong thị trường có tần suất giao dịch cao như tài sản số, yếu tố này trở nên nhạy cảm hơn so với các thị trường truyền thống", ông nhận định.
Do đó, về dài hạn, khi thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam phát triển ổn định và hệ thống quản lý đủ năng lực theo dõi giá vốn, chi phí và lịch sử giao dịch, chuyên gia đề xuất nên cân nhắc chuyển dần sang mô hình đánh thuế dựa trên lợi nhuận thực tế. Đây cũng là cách mà nhiều thị trường lớn đang áp dụng để đảm bảo tính công bằng và tăng sức cạnh tranh.
Không ồn ào, không vội vã nhưng dòng vốn Thái Lan vào Việt Nam lại bền bỉ và ngày càng mở rộng. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), tính đến cuối tháng 4-2026, doanh nghiệp Thái Lan có 804 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 15,4 tỉ USD - tăng đáng kể so với mức hơn 14 tỉ USD cuối năm 2024 mà Hiệp hội Doanh nghiệp Thái Lan tại Việt Nam (ThaiCham) công bố. Trong khối ASEAN, Thái Lan hiện chỉ đứng sau Singapore về quy mô đầu tư vào Việt Nam.
Dấu ấn rõ nét nhất của dòng vốn Thái là hàng loạt thương vụ quy mô lớn liên tiếp diễn ra trong những năm gần đây. Tiêu biểu nhất là ThaiBev - tập đoàn đồ uống hàng đầu Thái Lan - từng gây tiếng vang vào năm 2017 khi chi khoảng 4,8 tỉ USD để gián tiếp sở hữu 53,6% vốn Sabeco.
Đến năm 2025, Fraser and Neave (F&N) - thành viên trong hệ sinh thái ThaiBev - tiếp tục chi khoảng 6.000 tỉ đồng để nâng tỉ lệ sở hữu tại Vinamilk lên 24,99%.
Mới đây, trong cuộc gặp với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Chủ tịch điều hành TCC Group kiêm Tổng giám đốc ThaiBev Thapana Sirivadhanabhakdi cho biết tập đoàn đang nghiên cứu triển khai thêm các lĩnh vực kinh doanh mới tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực bán lẻ, Tập đoàn BJC thuộc TCC Group vừa hoàn tất mua lại 100% cổ phần MM Mega Market Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc nội bộ, với giá trị khoảng 22,5 tỉ baht, tương đương hơn 717 triệu USD (khoảng 18.900 tỉ đồng).
Cũng trên thị trường bán lẻ, Central Retail thuộc Central Group hiện vận hành 43 đại siêu thị Go!, 16 siêu thị mini Go!, 9 siêu thị TOPS Market và 23 cửa hàng LanChi Mart trên toàn quốc.
Báo cáo tài chính quý 1-2026 của tập đoàn này cho thấy doanh thu từ Việt Nam đạt hơn 12.000 tỉ đồng, chiếm khoảng 23% tổng doanh thu và tăng 26% so với cùng kỳ năm trước - minh chứng rõ ràng cho tầm quan trọng của thị trường Việt Nam trong chiến lược khu vực của Central Retail.
Không dừng lại ở tiêu dùng và bán lẻ, vốn Thái còn thâm nhập sâu vào lĩnh vực công nghiệp và năng lượng. Sau hơn 30 năm hiện diện, Tập đoàn SCG đã đầu tư hơn 7 tỉ USD vào Việt Nam, vận hành 28 công ty và 50 nhà máy, tạo việc làm cho hơn 15.000 lao động. Những thương hiệu quen thuộc như nhựa Duy Tân, nhựa Bình Minh hay gạch men Prime đều nằm trong hệ sinh thái của SCG.
Trong lĩnh vực hóa dầu, Tổ hợp hóa dầu Long Sơn (LSP) - dự án trọng điểm của SCG - dù đang tạm dừng do ảnh hưởng từ chiến sự Trung Đông, vẫn đang đẩy nhanh dự án tích hợp thêm khí ethane với tổng vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD.
Trong lĩnh vực khu công nghiệp, Amata - có mặt tại Việt Nam từ năm 1994 - hiện quản lý khoảng 3.000 ha đất công nghiệp, thương mại và dịch vụ trên cả nước, đồng thời cam kết rót thêm khoảng 1,5 tỉ USD vào các dự án khu công nghiệp tại Việt Nam.
Về năng lượng, nhiều doanh nghiệp Thái Lan như Gulf Energy, B.Grimm, Super Energy đang hiện diện ngày càng tích cực. Nổi bật nhất là Super Energy Corporation với tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỉ USD, hiện vận hành 9 nhà máy điện mặt trời và một dự án điện gió tại Gia Lai.
Theo báo cáo của công ty tư vấn Grant Thornton, các tập đoàn Thái Lan ngày càng xem Việt Nam là trụ cột tăng trưởng trong danh mục khu vực và là động lực dài hạn cho tiêu dùng và nâng cấp công nghiệp, trong bối cảnh kinh tế trong nước dần bão hòa.
Với những cam kết rót vốn liên tục và chiến lược mở rộng quy mô của các tập đoàn lớn, dòng vốn Thái Lan vào Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới - cho thấy sức hút ngày càng lớn của thị trường Việt Nam cũng như tham vọng dài hạn của các nhà đầu tư xứ chùa vàng.
Người dẫn dắt thành công và lập nên đế chế 7-Eleven tại Nhật Bản
Sinh ra ở Nagano (Nhật Bản) năm 1932, ông Suzuki gia nhập ngành bán lẻ, làm việc cho Ito-Yokado vào năm 1963. Trước đó, ông làm việc tại một nhà bán buôn sách.
Còn 7-Eleven, cội nguồn thương hiệu này vốn bắt đầu từ Southland Ice Co. tại Dallas (Mỹ) vào những năm 1920, nơi ban đầu chỉ bán đá khối, thuốc lá và xăng dầu.
Bất chấp sự hoài nghi về ngành, ông Suzuki lúc bấy giờ đã mạnh dạn hợp tác với đối tác Mỹ để ra mắt 7-Eleven Nhật Bản vào năm 1973, khai trương cửa hàng đầu tiên tại Tokyo vào năm 1974.
"Khi tôi quyết định mang 7-Eleven về Nhật Bản, mọi người đều nói rằng sẽ không thành công đâu và phản đối ý tưởng này, từ các lãnh đạo, giáo sư đại học đến chuyên gia tư vấn. Nhưng tôi biết họ đã sai", Suzuki cho biết trong một cuộc phỏng vấn năm 2013.
Ông còn được biết đến là người tiên phong trong việc sử dụng dữ liệu để điều chỉnh hàng tồn kho và xây dựng mô hình kinh doanh tập trung vào các bữa ăn chế biến sẵn, biến các cửa hàng tiện lợi trở thành trụ cột của ngành bán lẻ Nhật Bản.
Những năm sau đó, 7-Eleven bùng nổ số lượng tại Nhật Bản và dần trở thành một phần không thể tách rời trong đời thường của người dân bản địa. Khách hàng đến đây không chỉ để mua sắm, mà còn để đóng tiền điện nước, in ấn tài liệu.
Thậm chí trong các trận động đất, 7-Eleven và các chuỗi cửa hàng tiện lợi khác còn đóng vai trò cứu trợ sống còn khi biến thành các trạm tiếp tế khẩn cấp, phân phối nhu yếu phẩm và nước sạch cho người dân.
Họ còn biến công ty mẹ tại Mỹ đang gặp khó thành chi nhánh của mình. Năm 2016, ông từ chức và rút khỏi 7-Eleven.
7-Eleven đang kinh doanh ra sao?
Về 7-Eleven, dù gặp khó khăn ở một số thị trường trọng điểm, tập đoàn vẫn sở hữu quy mô khổng lồ với 85.000 cửa hàng trên toàn cầu (25% số này ở Nhật Bản).
Tại Việt Nam, thương hiệu có mặt từ năm 2017 với tham vọng khai thác thị trường bán lẻ tiện lợi màu mỡ. Dù vậy, gần 10 năm trôi qua, 7-Eleven vẫn chưa thể đạt kế hoạch 1.000 cửa hàng.
Trao đổi với phóng viên báo Dân trí, ông Lương Tất Trung, Giám đốc Công nghệ 7-Eleven, cho biết: "Đặt kế hoạch là vậy, song làm rồi mới thấy nó khó. Sở dĩ chúng tôi chưa thể nhân rộng nhanh chóng do thương hiệu muốn đi đúng với chủ trương là làm tới đâu có lãi trên cửa hàng tới đó”.
Vị này cũng cho biết thêm đến nay 7-Eleven đang có hơn 100 cửa hàng tại Việt Nam và hơn 90% đang có lãi trên từng cửa hàng. 7-Eleven đang hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong nước để ứng dụng AI vào vận hành.