Chiều 14.7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt không phát triển từng nhà máy, từng địa phương hoặc từng loại sản phẩm biệt lập, chính sách phải tạo được liên kết chuỗi, thị trường ổn định, phân công hợp lý và hiệu quả tổng thể.
Nhà nước kiến tạo phát triển, định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, tổ chức thị trường và bảo đảm những năng lực thiết yếu, đồng thời không bao cấp trở lại, không làm thay doanh nghiệp.
Doanh nghiệp trực tiếp đầu tư, sản xuất, đổi mới, cạnh tranh và chịu trách nhiệm về hiệu quả. Bên cạnh đó cần phân vai đúng, phát huy thế mạnh của từng khu vực kinh tế, bảo đảm cạnh tranh minh bạch và không dùng chính sách để che lấp yếu kém quản trị.
Mọi lựa chọn phải căn cứ vào hiệu quả dài hạn, khả năng làm chủ hoặc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản trị, thị trường và phần giá trị giữ lại trong nước; không chạy theo quy mô, thứ hạng hình thức; không đầu tư dàn trải, trùng lặp; không đánh đổi chất lượng, an toàn, môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Về nhiệm vụ trước mắt, cần tập trung mở khóa thị trường, khai thác hiệu quả năng lực hiện có và xử lý các điểm nghẽn.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo Chính phủ khẩn trương xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn 2050. Chương trình phải xác định rõ mục tiêu, trọng tâm, lộ trình, nguồn lực, cơ chế tổ chức thực hiện; gắn kết với chiến lược đội tàu, vận tải thủy, cảng, logistics, năng lượng biển và quốc phòng – an ninh; khắc phục tình trạng chính sách phân tán, thiếu công cụ và thiếu sản phẩm đầu ra.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh và bảo hiểm phù hợp với đặc thù hợp đồng lớn, chu kỳ dài, rủi ro cao của ngành đóng tàu.
Cơ chế hỗ trợ phải có điều kiện, đúng đối tượng, gắn với đơn hàng, năng lực doanh nghiệp, phương án tài chính khả thi và quản trị minh bạch; không cấp vốn để bù lỗ, không tạo nợ xấu mới, không hợp thức hóa sai phạm cũ. Chính phủ cụ thể hóa các công cụ và quy trình kiểm soát theo thẩm quyền.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý về việc tổ chức lại thị trường trong nước, gắn nhu cầu phát triển đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu công vụ, dịch vụ ngoài khơi và quốc phòng – an ninh với năng lực công nghiệp trong nước trên nguyên tắc cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả.
Cùng đó, cần có chính sách phù hợp để khuyến khích sản phẩm trong nước đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành, tiến độ và chi phí vòng đời. Trước mắt cần coi sửa chữa, hoán cải, nâng cấp xanh, bảo trì và dịch vụ vòng đời là hướng quan trọng để khai thác năng lực hiện có, tạo dòng tiền và giữ lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Cần xử lý các tồn tại theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, chủ nợ, người lao động và các bên liên quan; bảo đảm kỷ luật, minh bạch, không thất thoát tài sản nhà nước; không xử lý cơ học làm mất hạ tầng, công nghệ, dữ liệu, quan hệ khách hàng và đội ngũ lao động kỹ thuật khó tái tạo.
Về nhiệm vụ lâu dài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ phải chuyển từ duy trì năng lực sản xuất sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải và đường thủy hiện đại, xanh, số, có khả năng tự chủ và cạnh tranh quốc tế.
Tinh thần chung là phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia bằng tư duy hệ sinh thái, lựa chọn có trọng tâm và kỷ luật thực thi; phát huy đúng vai trò của Nhà nước, các khu vực doanh nghiệp và hợp tác quốc tế; không cứu trợ dàn trải, không bao cấp trở lại, không đầu tư theo phong trào nhưng cũng không buông lỏng để mất năng lực công nghiệp chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo phải xử lý dứt điểm tồn tại, bảo toàn cái còn giá trị và tổ chức lại nhu cầu của đất nước thành thị trường có kỷ luật cho những doanh nghiệp thực sự có năng lực, có khả năng phát triển tốt.
Sáng 14.5, Ban Chỉ đạo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) tổ chức phiên họp lần thứ nhất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo, chủ trì phiên họp.
Phát biểu kết luận tại phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, việc tổng kết là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận, thực tiễn, chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, khối lượng công việc phía trước rất lớn, yêu cầu rất cao, phải cùng tiến hành với rất nhiều việc quan trọng khác, cần chuyển ngay sang trạng thái làm việc mới: khẩn trương hơn, khoa học hơn, thực chất hơn, có thời hạn, có sản phẩm và có người chịu trách nhiệm cụ thể.
Tinh thần chung là không để công việc trôi theo quán tính hành chính; không để hội họp nhiều mà sản phẩm ít; không để phân công rộng nhưng trách nhiệm không rõ; không đơn giản hóa văn kiện tổng kết như một báo cáo tình hình, biên soạn tư liệu lịch sử đơn thuần.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, không phải là kể lại các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian.
Điều quan trọng là phải trả lời được những câu hỏi lớn: vì sao Đảng ta có thể lãnh đạo dân tộc vượt qua những bước ngoặt lịch sử, đạt được những thành tựu vĩ đại; đâu là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Nếu không phải là Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu không phải là Bác Hồ lãnh đạo đất nước trong giai đó thì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất và phát triển đất nước có thành công rạng rỡ như ngày hôm nay không.
Những bài học có tính quy luật nào cần được đúc rút, kế thừa và phát triển trong giai đoạn mới; những hạn chế, khuyết điểm nào cần được nhìn thẳng, nói rõ, đánh giá khách quan để sửa chữa và khắc phục; đâu là tầm nhìn phát triển của đất nước trong 100 năm tới; những trụ cột nào bảo đảm cho sự vững bền của Đảng, sự trường tồn của dân tộc và chế độ.
Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh không chỉ là tổng kết một văn kiện, mà phải làm rõ hơn mô hình phát triển của Việt Nam, mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam cùng với những mối quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng hệ luận cứ làm cơ sở để xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, cần tiếp tục cụ thể hóa trong đề cương chi tiết để thể hiện được những thông điệp cốt lõi, xuyên suốt, mang tầm nhìn chiến lược bắt kịp thời đại của Đảng, nâng tầm báo cáo tổng kết trở thành một bản tuyên ngôn phát triển của Đảng ta trong kỷ nguyên mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, đề xuất cho tương lai phải dựa trên bằng chứng khoa học, dự báo xu thế và yêu cầu phát triển đất nước. Tổng kết lần này phải có chiều sâu lịch sử, có tầm cao lý luận và có sức gợi mở kiến tạo cho tương lai.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trên tinh thần độc lập, khách quan, cầu thị, chọn lọc, phù hợp với điều kiện Việt Nam, tuyệt đối không được rập khuôn, giáo điều, sao chép máy móc, không thay thế thực tiễn Việt Nam bằng kinh nghiệm của nước khác.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Ban Chỉ đạo và Tổ Biên tập khẩn trương rà soát, hoàn thiện phân công nhiệm vụ theo các nhóm công việc phù hợp, thực chất, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thời hạn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, vừa triển khai tổng kết, vừa tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Phải khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào Đảng, vào bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tương lai phát triển của đất nước; phải kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong quá trình tổng kết phải thật sự cầu thị, khách quan, khoa học; thành tựu phải nói cho đúng, cho đủ, có sức thuyết phục. Hạn chế, khuyết điểm cũng phải nhìn thẳng, đánh giá đúng, phân tích nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan. Tổng kết để tự hào, nhưng không phải để tự mãn; tổng kết để khẳng định, nhưng không né tránh những vấn đề đặt ra.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, tinh thần là khẩn trương nhưng chắc chắn, không vội vàng; khoa học nhưng không để chậm trễ; dân chủ nhưng có kỷ luật; phân công rõ nhưng phải phối hợp chặt chẽ; kế thừa nhưng phải bổ sung, phát triển; tổng kết quá khứ nhưng hướng tới tương lai.
Sáng 30.6, tại Hà Nội diễn ra hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu chỉ đạo.
Trình bày về những nội dung trọng tâm, cốt lõi của nghị quyết, Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc nêu rõ, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không thể chỉ dừng lại ở mục tiêu thu hút nhiều hơn nguồn vốn, mà phải hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa của các dòng vốn quốc tế.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững.
"Nếu gần 40 năm qua, nhiệm vụ trọng tâm là mở cửa để thu hút các nguồn lực quốc tế, thì trong giai đoạn mới, nhiệm vụ trọng tâm là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia", Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc nói.
Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc nêu rõ 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển của nghị quyết. Theo đó, nghị quyết chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Cùng đó, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.
Kế đó, chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi gắn với cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, liên kết doanh nghiệp trong nước và chuyển đổi xanh.
Đồng thời, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế, đặt đầu tư trực tiếp, gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới trong một chỉnh thể thống nhất.
Cùng đó, nghị quyết chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Cuối cùng, nghị quyết chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia, tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước.
Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2030 thu hút 200 - 300 tỉ USD vốn FDI đăng ký. Nâng cao chất lượng dòng vốn với 75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm năng về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại.
Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 - 50%. Có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
Mục tiêu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.
"Thành công trong giai đoạn mới không được đo chủ yếu bằng số lượng dự án hay quy mô vốn thu hút, mà bằng chất lượng các dòng vốn, năng lực công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và những đóng góp thực chất đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước", Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc nhìn nhận.
Để đạt các mục tiêu, Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc đã nêu 7 nhóm nhiệm vụ đột phá của nghị quyết và nhấn mạnh, thành công của nghị quyết đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần thống nhất nhận thức, thống nhất hành động và quyết tâm thực hiện.
Sáng 9.7, tại Hà Nội diễn ra Hội nghị Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ nhất, khóa XI.
Tham dự hội nghị có Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài cùng các phó chủ tịch, phó chủ tịch không chuyên trách. Cùng dự có các ủy viên Trung ương Đảng, nguyên ủy viên Trung ương Đảng là ủy viên Đoàn Chủ tịch; các ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI; đại diện lãnh đạo các ban của Đảng...
Chủ trì hội nghị có bà Hà Thị Nga, Phó chủ tịch - Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; các Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam: Hoàng Công Thủy, Nguyễn Đức Phong, Trần Thắng, Cao Xuân Thạo.
Hội nghị đã cho ý kiến về dự thảo Quy chế hoạt động của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031; dự thảo chương trình làm việc toàn khóa của Đoàn Chủ tịch và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI; dự thảo báo cáo kết quả công tác Mặt trận 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm và dự thảo thông báo định hướng trọng tâm công tác Mặt trận năm 2027.
Tại hội nghị, Phó chủ tịch - Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hà Thị Nga đã trình bày Tờ trình xin ý kiến về dự thảo Quy chế hoạt động của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Dự thảo quy chế gồm 6 chương, 21 điều; cơ bản giữ nguyên bố cục của Quy chế hoạt động khóa X, sửa đổi, bổ sung tại 18 điều về điều chỉnh câu từ, nội dung cho rõ thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế hoạt động.
Đáng chú ý, tại điều 16, bổ sung mới, quy định trách nhiệm của phó chủ tịch Ủy ban Trung ương là người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cho phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới.
Theo đó, phó chủ tịch Ủy ban Trung ương sẽ tham gia vào sự lãnh đạo chung của Ban Thường trực; chịu trách nhiệm toàn diện mọi hoạt động của tổ chức và cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc của tổ chức chính trị - xã hội do mình đứng đầu.
Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến tổ chức và hoạt động của Mặt trận theo sự phân công của Ban Thường trực và Chủ tịch Ủy ban Trung ương.
Lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan tham mưu giúp việc của các tổ chức chính trị- xã hội do mình đứng đầu thường xuyên phối hợp, thực hiện tốt các chương trình phối hợp thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam.
Cạnh đó, tại điều 2, nguyên tắc hoạt động, bổ sung khoản 4 về hoạt động của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực.
Tại điều 3, chế độ họp, dự thảo bổ sung khoản 5, trong trường hợp cần thiết, các hội nghị, phiên họp của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực có thể được tổ chức bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến.
Tại điều 5, điều 9 về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban và Đoàn Chủ tịch, dự thảo bổ sung nội dung, cụ thể trong một số trường hợp cụ thể giữa 2 kỳ họp, Ủy ban Trung ương ủy quyền cho Đoàn Chủ tịch xem xét hiệp thương cử tham gia Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực đối với cán bộ chuyên trách đã được cấp có thẩm quyền giới thiệu.
Tại điều 12, nhiệm vụ quyền hạn của Ban Thường trực, bổ sung vào khoản 3 nội dung những nhiệm vụ Ban Thường trực xem xét quyết định tập thể về việc triển khai các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Việc này để phù hợp với điều kiện thực tiễn, tránh trùng lặp, giao thoa nhiệm vụ khi triển khai xuống cơ sở.
Cũng tại hội nghị, Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hoàng Công Thủy đã trình bày dự thảo chương trình làm việc toàn khóa của Đoàn Chủ tịch và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Theo đó, dự thảo dự kiến tổ chức 11 hội nghị của Đoàn Chủ tịch trong nhiệm kỳ.
Tại hội nghị, ngoài việc cho ý kiến vào các dự thảo định kỳ, Ban Thường trực sẽ xem xét, quyết định trình xin ý kiến Đoàn Chủ tịch đối với các nội dung thực tế, Ban Thường trực sẽ tham mưu điều chỉnh phù hợp, bám sát tối đa chương trình đã được thông qua.
Dự thảo dự kiến tổ chức 11 hội nghị của Ủy ban Trung ương trong nhiệm kỳ, mỗi năm 2 hội nghị. Tại các hội nghị, ngoài việc cho ý kiến vào các dự thảo định kỳ, Ban Thường trực sẽ xem xét, quyết định trình xin ý kiến Đoàn Chủ tịch đối với các nội dung chuyên đề phát sinh và công tác nhân sự (nếu có).
Cũng theo dự thảo, theo quy định của Điều lệ MTTQ Việt Nam, hàng năm theo định kỳ trước mỗi kỳ họp Quốc hội, Đoàn Chủ tịch sẽ họp hoặc cho ý kiến bằng văn bản để thông qua báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân; báo cáo kết quả giám sát và phản biện xã hội gửi tới các kỳ họp Quốc hội.
Cùng đó, theo chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc yêu cầu thực tiễn, Đoàn Chủ tịch và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam sẽ tổ chức một số hội nghị chuyên đề theo quy định, thực hiện công tác nhân sự (nếu có).