Sau khi trình Quốc hội thông qua 10 luật, ban hành 33 nghị định cùng nhiều cơ chế, chính sách mới, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết trọng tâm hiện nay không còn là xây dựng thể chế mà là tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai, đưa chính sách nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Thông tin được đưa ra tại Hội nghị “Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển” được tổ chức ngày 15/7
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh nhiều chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được thể chế hóa bằng hệ thống luật, nghị định và các cơ chế, chính sách mới.
Tuy nhiên, theo Bộ KH&CN, yêu cầu cấp thiết hiện nay là đưa những chính sách này vào thực tiễn, phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế – xã hội.
Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng khẳng định, đất nước đang đứng trước thời khắc lịch sử: hoặc phát triển thành quốc gia giàu mạnh, thu nhập cao vào năm 2045, hoặc chấp nhận dừng lại ở mức thu nhập trung bình.
Đảng và Nhà nước đã quyết định từ giai đoạn 2026 trở đi chúng ta phải đạt mức tăng trưởng hai con số. Khi các động lực truyền thống không còn đủ sức kéo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính.
Đáng chú ý, theo Phó Thủ tướng, Chính phủ đã thống nhất tới đây sẽ trình Quốc hội một Nghị quyết đặc thù để chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học.
Nếu chúng ta làm khoa học vô tư trong sáng, không vụ lợi, không tham ô, tham nhũng mà thất bại cần được miễn trừ trách nhiệm. Không thể cứ thành công được khen thưởng, còn thất bại là bị xử lý.
Cũng theo Phó Thủ tướng, các nghiên cứu khoa học cần xuất phát từ yêu cầu của đất nước, từ nhu cầu của doanh nghiệp và người dân. Tiêu chí đánh giá phải là hiệu quả ứng dụng và khả năng thương mại hóa.
Thách thức lớn nhất là đưa chính sách vào cuộc sống
Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cho biết, kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bộ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 10 luật, trình Chính phủ ban hành 33 nghị định và một nghị quyết, đồng thời tiếp tục hoàn thiện nhiều quyết định, thông tư hướng dẫn.
Theo Bộ trưởng, đây là khối lượng công việc rất lớn, chưa từng có trong lịch sử của Bộ trong một khoảng thời gian ngắn.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ là bước khởi đầu.
“Có thể làm ngày làm đêm để xây dựng các luật, nghị định, thông tư, nhưng để các quy định đó đi vào người thực thi và được vận dụng đúng thì không hề đơn giản”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nói.
Theo ông, thách thức lớn nhất hiện nay là giúp các quy định mới được hiểu thống nhất, áp dụng đúng và triển khai hiệu quả tại các bộ, ngành, địa phương cũng như cộng đồng doanh nghiệp.
Chính vì vậy, hội nghị được tổ chức nhằm giới thiệu những điểm mới của hệ thống chính sách, đồng thời lắng nghe, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Hoàn thiện cơ chế cho công nghệ chiến lược, tham chiếu chuẩn quốc tế
Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho biết nhiều cơ chế, chính sách mới được xây dựng theo hướng đổi mới tư duy, tiệm cận thông lệ quốc tế.
Trong đó, các quy định về công nghệ chiến lược không chỉ được đưa vào Luật Khoa học và Công nghệ mà còn được cụ thể hóa trong Luật Công nghệ cao (sửa đổi) cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn, tạo hành lang pháp lý phục vụ phát triển các công nghệ chiến lược của đất nước.
Một điểm mới khác là việc xây dựng chính sách đãi ngộ nhân lực khoa học và công nghệ trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế.
Theo Bộ trưởng, Bộ KH&CN đã nghiên cứu chính sách thu hút và chế độ thu nhập dành cho đội ngũ nghiên cứu của một số quốc gia như Singapore, Thái Lan và Indonesia để xây dựng các quy định phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đổi mới hoạt động của các quỹ khoa học và công nghệ
Tại hội nghị, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng chia sẻ nhiều nội dung liên quan đến đổi mới cơ chế hoạt động của các quỹ khoa học và công nghệ.
Theo đó, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia sẽ được đổi mới theo đúng mô hình của một quỹ tài chính, thay vì vận hành theo cơ chế dự toán ngân sách như trước.
Việc thay đổi này nhằm tăng tính chủ động trong sử dụng nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ trong giai đoạn mới.
Chức năng của Quỹ cũng được mở rộng. Nếu trước đây chủ yếu hỗ trợ nghiên cứu cơ bản thì nay sẽ có thể đồng hành với các dự án từ giai đoạn nghiên cứu, phát triển đến tạo sản phẩm mẫu.
Ở giai đoạn thương mại hóa, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Theo Bộ trưởng, việc đổi mới cơ chế tài chính không thể thực hiện trong thời gian ngắn do hệ thống pháp luật có tính liên thông, tác động đến nhiều quy định hiện hành. Các chính sách cần được triển khai từng bước, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi.
Đánh giá về giai đoạn hiện nay, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng hệ thống thể chế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cơ bản đã được hoàn thiện.
Một số quy định vẫn cần tiếp tục điều chỉnh về mặt kỹ thuật để phù hợp với thực tiễn, như cơ chế lập dự toán đối với công nghệ chiến lược hay mô hình vận hành các quỹ khoa học và công nghệ ở bộ, ngành, địa phương.
“Trọng tâm thời gian tới sẽ chuyển từ xây dựng thể chế sang tổ chức thực hiện”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Ông cho biết Bộ KH&CN mong muốn cùng các bộ, ngành, địa phương bước sang giai đoạn thực thi quyết liệt, đưa các cơ chế, chính sách mới phát huy hiệu quả thực chất, tạo động lực cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tại hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận bốn chuyên đề gồm: thể chế cho công nghệ chiến lược; cơ chế đầu tư, mua sắm và thử nghiệm trong chuyển đổi số; đổi mới vai trò của các quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tháo gỡ vướng mắc trong lập, phân bổ và sử dụng ngân sách cho khoa học và công nghệ.
Bộ KH&CN khẳng định sẽ không chỉ đóng vai trò cơ quan tham mưu chính sách mà còn đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương, nhà khoa học và doanh nghiệp trong quá trình triển khai các cơ chế mới, góp phần thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của đất nước.
Mỗi ngày, hàng triệu mét khối nước thải từ khu dân cư, làng nghề, cơ sở chăn nuôi hay nhà máy được thải ra môi trường. Trong đó, lượng chất hữu cơ và các hợp chất chứa nitơ cao không chỉ gây ô nhiễm nguồn nước mà còn làm phát sinh mùi hôi, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.
Dù nhu cầu xử lý nước thải ngày càng cấp thiết, nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn vì thiếu hệ thống xử lý đồng bộ hoặc không đủ nguồn lực để đầu tư các công nghệ hiện đại nhập khẩu có chi phí cao.
Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu do TS Hoàng Lương, Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), đã phát triển vật liệu mang vi sinh EBB (Eco-Bio-Block) - một dạng "viên gạch sinh học" có khả năng hỗ trợ xử lý nước thải giàu hữu cơ và nitơ theo quy trình khép kín.
Theo TS Hoàng Lương, xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học thực chất là tận dụng các vi sinh vật có lợi để phân hủy chất ô nhiễm. Tuy nhiên, để hoạt động hiệu quả, các vi sinh vật này cần có nơi cư trú ổn định thay vì trôi nổi trong dòng nước.
Đó cũng là lý do vật liệu EBB ra đời.
Nhìn bề ngoài, EBB giống như những viên gạch nhỏ có cấu trúc xốp. Bên trong vật liệu là hệ vi sinh vật có lợi được nuôi cấy và bám dính trên bề mặt.
Khi được đưa vào hệ thống xử lý, các vi sinh vật sẽ phân hủy chất hữu cơ, giảm hàm lượng amoni, tổng nitơ và các tác nhân gây mùi trong nước thải.
"EBB giống như một ngôi nhà cho vi sinh vật. Cấu trúc vật liệu tạo điều kiện để chúng sinh trưởng ổn định và phát huy tối đa khả năng xử lý ô nhiễm", TS Hoàng Lương cho biết.
Vật liệu được chế tạo từ các nguyên liệu sẵn có trong nước như zeolite, than hoạt tính, kazemzit và xi măng bền sunfat. Nhờ cấu trúc nhiều lỗ rỗng với diện tích bề mặt lớn, EBB giúp hình thành lớp màng sinh học bền vững - yếu tố quyết định hiệu quả xử lý nước.
Điểm đáng chú ý là EBB kết hợp đồng thời hai cơ chế xử lý. Trong khi lớp vật liệu khoáng hấp phụ các chất ô nhiễm, hệ vi sinh vật bên trong tiếp tục phân hủy chúng thành những hợp chất ít độc hại hơn.
Nhờ đó, vật liệu có khả năng xử lý hiệu quả COD, amoni và tổng nitơ - những chỉ số ô nhiễm phổ biến trong nước thải sinh hoạt, công nghiệp và chăn nuôi.
Giá thành chỉ bằng một nửa sản phẩm nhập khẩu
Theo nhóm nghiên cứu, công nghệ EBB được kế thừa từ các chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời được cải tiến để phù hợp với điều kiện trong nước.
Trên thế giới, các vật liệu tương tự đã được sử dụng tại Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Ấn Độ và Mỹ để xử lý ô nhiễm sông hồ, ao mương và nước thải sinh hoạt. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm hiện nay đều phải nhập khẩu với giá thành cao.
Khác với các giải pháp ngoại nhập, nhóm nghiên cứu hướng tới mục tiêu nội địa hóa toàn bộ quy trình, từ nguyên liệu, thiết bị đến công nghệ vận hành.
Từ quy mô phòng thí nghiệm, nhóm đã thiết kế thành công hệ thiết bị sản xuất EBB bán công nghiệp với công suất khoảng 2.000 viên mỗi ngày.
Vật liệu cũng được thử nghiệm trên hệ thống xử lý nước thải công suất 50m³/ngày và cho kết quả đáp ứng các quy chuẩn môi trường hiện hành đối với nước thải sinh hoạt và công nghiệp.
Kết quả đánh giá cho thấy EBB xử lý hiệu quả COD, amoni và tổng nitơ trong nhiều loại nước thải khác nhau, từ nước thải sinh hoạt, nước rỉ rác đến nước thải bệnh viện.
Một trong những ưu điểm lớn nhất của EBB là chi phí.
Nhờ sử dụng nguyên liệu nội địa như zeolite và các vật liệu tái chế từ nông nghiệp, giá thành sản phẩm được ước tính chỉ bằng khoảng 40-50% so với các loại giá thể nhập khẩu như MBBR hay biochip.
Ngoài ra, EBB có độ bền cao, ít bong tróc, không phải thay thế thường xuyên và duy trì hiệu quả xử lý trong thời gian dài.
Hướng tới thương mại hóa rộng rãi
Theo TS Hoàng Lương, EBB đặc biệt phù hợp với những khu vực chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc cần nâng cấp hệ thống cũ với chi phí thấp.
Công nghệ này có thể ứng dụng tại khu dân cư, làng nghề, bệnh viện quy mô nhỏ, cơ sở chế biến thực phẩm, trang trại chăn nuôi hay các trạm xử lý nước thải công suất vừa và nhỏ.
Một lợi thế khác là các viên EBB có thể tích hợp trực tiếp vào những công trình xử lý hiện hữu mà không cần cải tạo lớn về hạ tầng.
Trong bối cảnh nhiều địa phương đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm do nước thải giàu hữu cơ và amoni, giải pháp này được đánh giá có ý nghĩa thực tiễn cao.
Theo hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, dự án có tính ứng dụng lớn, bám sát nhu cầu thực tế và sở hữu tiềm năng thương mại hóa rõ rệt nhờ giá thành hợp lý, chủ động nguồn nguyên liệu trong nước và khả năng mở rộng quy mô linh hoạt.
Không chỉ góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm nước, thành công của EBB còn cho thấy năng lực làm chủ công nghệ môi trường của các nhà khoa học Việt Nam, từ thiết kế vật liệu, chế tạo thiết bị đến xây dựng quy trình vận hành hoàn chỉnh.
Những năm gần đây liên tục nằm trong nhóm nóng nhất từng được ghi nhận, phản ánh xu hướng nhiệt độ trung bình toàn cầu tiếp tục gia tăng.
Trong bối cảnh nhu cầu làm mát tăng cao, điện mặt trời được xem là giải pháp giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, nghịch lý là nhiệt độ quá cao lại khiến chính các tấm pin mặt trời hoạt động kém hiệu quả hơn.
Các tấm pin mặt trời tạo ra điện khi photon trong ánh sáng Mặt Trời kích thích các electron bên trong vật liệu bán dẫn, tạo thành dòng điện. Tuy nhiên, khi nhiệt độ của tế bào quang điện tăng lên, dao động của các nguyên tử trong vật liệu cũng mạnh hơn, làm giảm điện áp đầu ra và kéo theo hiệu suất chuyển đổi điện năng suy giảm.
Theo điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn (STC), hiệu suất của tấm pin được đo ở nhiệt độ tế bào quang điện 25°C. Trên thực tế, với phần lớn các tấm pin silicon thương mại, hiệu suất thường giảm khoảng 0,3-0,5% cho mỗi 1°C nhiệt độ tế bào tăng vượt ngưỡng này.
Trong những đợt nắng nóng, nhiệt độ bề mặt tấm pin có thể vượt 60°C, thậm chí cao hơn, khiến sản lượng điện giảm khoảng 15-25%, tùy theo công nghệ chế tạo và hệ số nhiệt của từng loại pin. Nếu hệ thống không được thiết kế để tản nhiệt hiệu quả, mức suy giảm này có thể còn lớn hơn.
Giữ tấm pin mát hơn để duy trì hiệu suất
Mặc dù không thể kiểm soát nhiệt độ môi trường, người dùng vẫn có thể hạn chế tình trạng quá nhiệt bằng cách tối ưu thiết kế hệ thống điện mặt trời.
Khi lắp đặt trên mái nhà, các tấm pin không chỉ hấp thụ nhiệt từ ánh nắng mà còn chịu lượng nhiệt tỏa lên từ mái. Vì vậy, các chuyên gia khuyến nghị tạo một khoảng hở khoảng 10-20cm giữa mái và tấm pin để không khí lưu thông tự nhiên, giúp tản nhiệt hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, bộ biến tần (inverter) - thiết bị chuyển đổi dòng điện một chiều từ tấm pin thành dòng điện xoay chiều để sử dụng - cũng cần được lắp đặt ở nơi thông thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp nhằm hạn chế hiện tượng quá nhiệt và duy trì hiệu suất vận hành của toàn hệ thống.
Trong tương lai, các nhà khoa học đang nghiên cứu những vật liệu và lớp phủ mới có khả năng tản nhiệt tốt hơn nhưng vẫn duy trì hiệu quả hấp thụ ánh sáng. Những công nghệ này được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống điện mặt trời hoạt động ổn định hơn trong điều kiện nắng nóng ngày càng cực đoan do biến đổi khí hậu.
Trẻ lớn lên trong những môi trường khác nhau có thể có sự khác biệt về thu nhập, khả năng học đại học và cơ hội cải thiện vị thế kinh tế khi trưởng thành.
Đây là kết luận từ chuỗi nghiên cứu do Giáo sư Raj Chetty, Đại học Harvard, cùng các cộng sự thực hiện dựa trên dữ liệu thuế và các chương trình hỗ trợ nhà ở tại Mỹ.
Raj Chetty hiện là Giáo sư Kinh tế công tại Đại học Harvard và Giám đốc Opportunity Insights, nhóm nghiên cứu chuyên phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng dịch chuyển kinh tế - xã hội của người dân.
Chuyển nơi ở trước 13 tuổi tạo ra khác biệt
Một trong những cơ sở quan trọng của nghiên cứu là chương trình Moving to Opportunity, được Chính phủ Mỹ triển khai từ thập niên 1990.
Chương trình lựa chọn các gia đình thu nhập thấp đang sống trong những khu nhà ở xã hội tại các khu vực có tỷ lệ nghèo cao, sau đó phân bổ ngẫu nhiên họ vào các nhóm hỗ trợ khác nhau.
Một nhóm được cấp phiếu hỗ trợ thuê nhà với điều kiện chuyển đến khu vực có tỷ lệ nghèo thấp. Nhóm khác được nhận trợ cấp nhà ở nhưng có thể tự lựa chọn địa điểm. Nhóm đối chứng tiếp tục nhận các hỗ trợ nhà ở thông thường.
Việc phân nhóm ngẫu nhiên giúp các nhà nghiên cứu hạn chế tác động của những khác biệt có sẵn giữa các gia đình, chẳng hạn trình độ học vấn, động lực làm việc hoặc cách nuôi dạy con.
Khi kết hợp dữ liệu của chương trình với hồ sơ thuế sau nhiều năm, nhóm nghiên cứu phát hiện việc chuyển đến khu vực có tỷ lệ nghèo thấp mang lại kết quả khác nhau tùy theo độ tuổi của trẻ.
Những em chuyển đi khi còn nhỏ, đặc biệt trước 13 tuổi, có khả năng học đại học cao hơn và đạt mức thu nhập tốt hơn khi trưởng thành. Tỷ lệ làm cha hoặc mẹ đơn thân cũng thấp hơn so với những trẻ ở lại khu vực cũ.
Trong khi đó, việc chuyển nơi ở ở độ tuổi vị thành niên không tạo ra hiệu quả tương tự. Một số kết quả thậm chí cho thấy tác động tiêu cực nhẹ, có thể liên quan đến sự gián đoạn trong học tập, quan hệ bạn bè và đời sống xã hội.
Kết quả này cho thấy thời gian tiếp xúc với môi trường sống có ý nghĩa quan trọng.
Trẻ càng đến khu vực có nhiều cơ hội sớm và sống ở đó lâu, lợi ích tích lũy càng lớn.
Nghiên cứu của Chetty và Nathaniel Hendren ước tính mỗi năm trẻ sống tại một khu vực có điều kiện phát triển tốt hơn sẽ giúp thu hẹp khoảng 4% chênh lệch về kết quả thu nhập khi trưởng thành so với trẻ lớn lên tại địa bàn đó từ khi sinh ra.
Con số này thường bị diễn giải thành “mỗi năm thu nhập tăng 4%”, nhưng cách hiểu đó không chính xác.
Tỷ lệ 4% thể hiện mức độ hội tụ hằng năm giữa kết quả dự kiến của trẻ chuyển đến và kết quả trung bình của những trẻ đã lớn lên lâu dài tại khu vực mới. Nó không có nghĩa tất cả trẻ chuyển nhà đều được tăng trực tiếp 4% thu nhập mỗi năm.
Nói cách khác, môi trường mới không tạo ra một khoản thu nhập bảo đảm. Nó làm thay đổi xác suất đạt được những kết quả tốt hơn trong dài hạn.
Không chỉ là khu vực giàu hay nghèo
Trong một nghiên cứu khác, Chetty và Hendren phân tích dữ liệu của hơn 7 triệu gia đình di chuyển giữa các quận và vùng thị trường lao động tại Mỹ.
Kết quả tiếp tục cho thấy nơi trẻ lớn lên có ảnh hưởng mang tính nhân quả đến thu nhập, tỷ lệ học đại học và một số kết quả xã hội khi trưởng thành. Trẻ chuyển đến một khu vực có khả năng dịch chuyển xã hội cao hơn thường đạt kết quả tốt hơn, đặc biệt khi chuyển đến từ nhỏ.
Tuy nhiên, “môi trường tốt” không thể chỉ được hiểu là nơi có thu nhập bình quân cao.
Các nghiên cứu của Opportunity Insights chỉ ra rằng những địa bàn có khả năng tạo cơ hội vươn lên tốt thường có một số đặc điểm chung như mức độ phân tầng dân cư thấp hơn, trường phổ thông có chất lượng tốt hơn, vốn xã hội cao hơn, tỷ lệ gia đình ổn định lớn hơn và khoảng cách thu nhập ít nghiêm trọng hơn.