Từ sau khi hoàn thành sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính đến nay, gần như không tuần nào, các sở chuyên ngành của TP.HCM không có văn bản khẩn gửi UBND TP để báo cáo thông tin liên quan tới việc triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm. Nhu cầu kết nối giao thông nội đô giữa 3 cực tăng trưởng (vùng lõi TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa-Vũng Tàu), giải quyết bài toán ùn tắc giao thông hiện hữu, rồi kết nối tới cảng hàng không, cảng biển…, hàng loạt những bài toán cấp bách về kinh tế tạo sức ép rất lớn lên tiến độ nối thông “huyết mạch” giao thông. Đó là lý do UBND TP.HCM liên tiếp chỉ đạo đưa các dự án trong kế hoạch vào diện khẩn cấp hoặc cấp bách phải làm ngay, còn với các công trình đang “nóng máy” thì quyết liệt đẩy tiến độ tới từng dự án.
Mới nhất, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã đề nghị thủ trưởng các sở, ngành, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan dồn lực bảo đảm mốc tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, dự án xây dựng đường Vành đai 3 TP.HCM và dự án cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu cần hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác trước 30.6. Đối với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành – Tham Lương, lãnh đạo UBND TP.HCM yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành toàn bộ dự án và đưa vào vận hành trong năm 2030. Với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành – Thủ Thiêm, Chủ tịch UBND TP yêu cầu khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án, đảm bảo đủ điều kiện khởi công dự án trước ngày 30.4. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm – Long Thành cũng cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, phấn đấu khởi công trước ngày 30.6.
Bên cạnh đó, TP.HCM đang đặt yêu cầu khởi công 3 siêu cảng biển tỉ USD gồm Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ; Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) và Cảng Cái Mép Gemadept – Terminal Link (giai đoạn 2) ngay trong tháng này để chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày đất nước thống nhất (30.4.1975 – 30.4.2026). Dịp này, dự án Trung tâm Chính trị – Hành chính mới tại Thủ Thiêm và Công viên, quảng trường ven sông tại Bến Nhà Rồng cũng sẽ chính thức được khởi công. Sau khởi công, tiến độ các siêu công trình này cũng rất “căng” khi đa số đều đặt mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2028 – 2030.
Không chỉ các sở, ngành chạy đua với tiến độ, hàng loạt doanh nghiệp (DN) tư nhân đăng ký nghiên cứu hay đề xuất đầu tư các dự án trọng điểm của TP.HCM cũng phải bật trạng thái “khẩn” cho tất cả các đầu việc. Đơn cử, Liên danh Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex – CTCP (Becamex) – Công ty CP Tập đoàn Trường Hải (Thaco) trong văn bản gửi UBND TP.HCM đề xuất nghiên cứu 2 tuyến metro nối từ trung tâm TP.HCM tới trung tâm hành chính Bình Dương cam kết tối đa trong 3 tháng sẽ hoàn thiện phương án đầu tư, nếu được chấp thuận giao dự án sẽ hoàn thành các thủ tục pháp lý ngay trong năm nay, đảm bảo đủ điều kiện khởi công vào quý 1/2027 và hoàn thành đưa vào khai thác vận hành cả hai tuyến vào năm 2030.
Liên danh Tập đoàn Đèo Cả – Trí Tín kiến nghị thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường trên cao dọc Vành đai 2 phía nam (đường Nguyễn Văn Linh) cũng cam kết dồn mọi nguồn lực triển khai ngay trong năm nay để hoàn thành vào năm 2029.
Có thể thấy, không khí “hầm hập” đang bao trùm toàn ngành xây dựng của TP.HCM.
Đáng nói, nếu như trước đây các dự án chỉ lo không đủ vốn và mặt bằng để khởi công thì hiện nay, nỗi lo lớn nhất của Sở Xây dựng chính là các dự án khởi công nhanh nhưng không có đủ nhiên liệu, vật liệu xây dựng để làm.
Theo thống kê mới nhất của Sở NN-MT TP.HCM, trong giai đoạn 2026 – 2030, có 64 dự án triển khai trên toàn địa bàn TP nhưng nguồn cung vật liệu đang thiếu so với nhu cầu.
Riêng trong năm nay, đối với đá xây dựng, nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3; cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3. Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3. Tương tự, đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trong khi đó, tình hình nhu cầu và khả năng cung ứng vật liệu xây dựng giai đoạn 2027 – 2030 cho 46 dự án trọng điểm cũng không khả quan. Đơn cử cát xây dựng dù nhu cầu cần đến 61,3 triệu m3 nhưng khả năng cung ứng chỉ được 3 triệu m3, thiếu đến 58,3 triệu m3. Hay cát san lấp, nhu cầu cho 46 dự án trọng điểm đến hơn 177 triệu m3 nhưng chỉ đáp ứng được hơn 2 triệu m3, còn thiếu đến hơn 175 triệu m3.
Các dự án chưa triển khai đã lo, các công trình đang trong giai đoạn tăng tốc về đích còn khổ gấp nhiều lần vì “vừa chạy vừa chờ”. Cụ thể, dự án Vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây theo kế hoạch phải thông xe kỹ thuật chậm nhất ngày 31.12.2025, hướng tới khai thác toàn tuyến vào 30.4.2026. Tuy nhiên, mốc hoàn thành đã được điều chỉnh tới trước ngày 30.6.2026. Dù vậy, ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy nhiều đoạn tuyến vẫn còn ngổn ngang, thậm chí chưa hoàn tất đắp cát gia tải, vốn là khâu then chốt thường kéo dài 6 – 9 tháng.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM – chủ đầu tư, các nhà thầu muốn thi công nhanh cũng không được vì vừa làm vừa phải chờ nguồn nguyên vật liệu “nhỏ giọt”. Riêng nhu cầu đá của dự án lên tới 88.000 m3 nhưng hiện mới chỉ cung cấp được khoảng 26.000 m3. Tổng nhu cầu đá cho 5 gói thầu phía tây trong năm 2026 lên tới khoảng 1,2 triệu m3 nhưng nguồn cung từ các mỏ hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng tốc thi công.
Tương tự, cả 10 gói thầu tại dự án cải tạo kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên đều đang chậm so với hợp đồng do vật tư cát, đá khan hiếm, giá tăng cao làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công của các nhà thầu. Công trình hiện cần khoảng 180.850 tấn bê tông nhựa, nhưng đến nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM (chủ đầu tư) lo ngại mục tiêu hoàn thành toàn bộ dự án vào cuối năm 2026 đang bị đe dọa.
Áp lực thiếu nguyên vật liệu còn nhân lên gấp nhiều lần khi các công trình đang phải gồng mình vượt “bão” giá dầu. Một số nhà thầu cho biết chi phí vận hành máy móc mỗi ngày đã tăng gấp đôi khiến họ phải “cắn răng” chịu lỗ để giữ tiến độ. Chưa kể, giá dầu tăng kéo theo giá nhựa đường tăng đột biến (gần 32%), giá các loại vật liệu như cát, đá, gạch cũng tăng từ 13,5 – 23,3% do chi phí khai thác và vận chuyển đường thủy/đường bộ leo thang. Đó là lý do nhiều gói thầu không thể duy trì phương thức “3 ca, 4 kíp” như trước vì càng làm càng lỗ. Một số đơn vị thậm chí phải tạm dừng các mũi thi công không cấp thiết để chờ điều chỉnh giá. Tiến độ các dự án trọng điểm từ khó chuyển hẳn sang ì ạch.
Trước tình trạng nói trên, Sở NN-MT TP.HCM đã đưa ra hàng loạt giải pháp cho năm 2026 để tăng cung. Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất, các công trình sẽ có thêm hơn 7 triệu m3 đá, vượt nhu cầu. Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu, có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ việc nạo vét 22 hồ của TP. Tương tự, 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu cũng đã có kế hoạch chi tiết nạo vét từ nguồn sông nào, tận thu hồ ở đâu, nếu không đủ có thể thay thế bằng cách xay đá, rửa cát biển…
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu, chỉ riêng cát san lấp vẫn thiếu khoảng 24,6 triệu m3 (46,5%) trong năm 2026. Riêng giai đoạn 2027 – 2030, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng và đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu. Song, cát xây dựng vẫn thiếu 17,17 triệu m3 (tương ứng 28%), cát san lấp thiếu đến 170,74 triệu m3 (96%).
Giám đốc Sở NN-MT TP.HCM Nguyễn Toàn Thắng thông tin: Ngoài các biện pháp trên, Sở cũng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM chấp thuận cho nâng công suất khai thác mỏ theo Nghị quyết số 66.4. Đồng thời, có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỷ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của TP, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Đồng thời, nguồn vật liệu tăng thêm từ việc “mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách” được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của TP. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP.HCM, nhìn nhận TP.HCM được xác định là cực tăng trưởng quan trọng đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước. Vì vậy, các dự án cầu đường, hạ tầng cảng, xây dựng đô thị đã, đang và sẽ được triển khai không đơn thuần là xây dựng thêm vài con đường, cây cầu mà là thực hiện một cuộc “đại tu cấu trúc” để thoát khỏi chiếc áo hạ tầng đã quá chật chội, bước vào kỷ nguyên phát triển mới cùng dân tộc. Do đó, các dự án nếu chậm trễ sẽ đánh mất “thời điểm vàng” để TP.HCM chuyển mình. TP cần tập trung quyết liệt đưa ra những giải pháp tháo nút thắt nguồn vật liệu xây dựng để các công trình quan trọng đảm bảo tiến độ, giảm thiểu phát sinh chi phí vốn đầu tư.
Ông Đạt kiến nghị TP nhanh chóng cấp phép nâng công suất tối đa cho các mỏ đang khai thác. Các mỏ cần được phép xuống sâu vì càng xuống sâu thì chất lượng đá càng tốt, tận thu được tối đa, tránh lãng phí nguồn tài nguyên đá xây dựng đang có. Đối với các mỏ đã khai thác hết công suất hoặc còn nhiều trữ lượng đã được cấp giấy phép thì Sở NN-MT và các sở ngành liên quan cần tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho DN sớm hoàn thành hồ sơ thủ tục để trình UBND TP xem xét cấp giấy phép điều chỉnh tăng công suất theo nghị Quyết 66.4/2025.
Những ngày gần đây, giá sầu riêng tại nhiều vùng trồng ở miền Tây liên tục lao dốc. Có thời điểm, sầu riêng Ri6 xô (sầu riêng bán theo lô bán nguyên lô hoặc toàn bộ trái trên cây bao gồm cả loại đẹp (loại A) và loại nhỏ/xấu hơn (loại B, C) với cùng một mức giá, thường rẻ hơn mua chọn từng trái) chỉ được thương lái thu mua ở mức 23.000 – 28.000 đồng/kg, thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm ngoái.
Tuy nhiên, trái ngược với giá tại vườn, khi đến tay người tiêu dùng tại các chợ, siêu thị hay cửa hàng trái cây, sầu riêng Ri6 vẫn được bán với giá từ 50.000 – 100.000 đồng/kg tùy loại, thậm chí cao hơn đối với hàng tuyển chọn.
Khoảng cách lớn giữa giá thu mua và giá bán lẻ khiến nhiều người không khỏi thắc mắc: Vì sao nông dân bán rẻ nhưng người tiêu dùng vẫn phải mua với giá cao gấp nhiều lần?
Chị Nguyễn Thị Linh (chủ vườn sầu riêng tại xã Ngũ Hiệp, Đồng Tháp) cho biết, chưa năm nào đầu ra khó khăn như hiện nay. Theo chị Linh, thị trường xuất khẩu đang chững lại, trong khi nhiều địa phương bước vào chính vụ khiến nguồn cung tăng mạnh.
"Có thời điểm thương lái chỉ trả hơn 25.000 đồng/kg Ri6 xô. Giá này thấp hơn rất nhiều so với năm ngoái nhưng không bán cũng không được vì trái chín rất nhanh. Càng để lâu càng dễ nứt, sượng rồi lỗ nặng hơn", chị Linh chia sẻ.
Theo nhiều nhà vườn, mức giá thương lái thu mua thực chất chỉ là giá "thô", chưa qua tuyển chọn hay phân loại chất lượng. Dù vậy, điều khiến cả người trồng lẫn người mua khó hiểu là giá bán ngoài thị trường lại cao gấp đôi, thậm chí gấp ba lần.
Theo tìm hiểu của PV, để đến tay người tiêu dùng, một trái sầu riêng phải đi qua khá nhiều khâu trung gian như thương lái, vựa thu mua, kho phân loại, đầu mối phân phối rồi mới tới cửa hàng bán lẻ hoặc siêu thị. Mỗi công đoạn đều phát sinh thêm chi phí vận hành và lợi nhuận, khiến giá bán cuối cùng bị đẩy lên đáng kể.
Trao đổi với PV, anh Đỗ Ngọc Anh Tú (chủ một vựa thu mua sầu riêng tại Cái Bè, Đồng Tháp) cho rằng, nhiều người hiện chỉ nhìn vào giá mua tại vườn rồi so sánh trực tiếp với giá bán lẻ mà chưa hình dung hết các khoản chi phí phát sinh phía sau.
Theo anh Tú, sau khi thu mua từ nhà vườn, sầu riêng phải được vận chuyển về kho để tuyển lựa kỹ càng. Những trái đẹp, cơm vàng, chín đồng đều mới đủ tiêu chuẩn đưa vào siêu thị hoặc các cửa hàng cao cấp. Trong khi đó, những trái bị sâu, nứt, sượng hoặc mẫu mã xấu sẽ phải bán giá thấp, thậm chí loại bỏ.
"Không phải mua 10 tấn là bán được đủ 10 tấn. Tỷ lệ hao hụt của sầu riêng khá cao vì đây là loại trái cây khó bảo quản, dễ hư hỏng trong quá trình vận chuyển", anh Tú cho biết.
Theo nhiều chủ vựa, tỷ lệ hao hụt của sầu riêng có thể lên tới 15 – 20%, đặc biệt trong thời tiết nắng nóng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến giá bán lẻ bị đẩy lên cao.
Bên cạnh đó, chi phí logistics hiện nay cũng tăng đáng kể. Với các chuyến hàng vận chuyển từ miền Tây lên Tp.HCM hoặc ra các tỉnh phía Bắc, chi phí xe lạnh, kho lạnh, nhân công bốc xếp và đóng gói đều tăng so với trước.
Cũng theo anh Tú cho biết, để giữ được chất lượng trái khi đến nơi tiêu thụ, sầu riêng bắt buộc phải được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ ổn định. Riêng chi phí kho lạnh và vận chuyển đã chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành cuối cùng.
Trong khi nhà vườn than lỗ, người tiêu dùng ở đô thị cũng bất ngờ khi giá sầu riêng ngoài thị trường vẫn neo ở mức cao.
Chị Minh Anh (ngụ phường Mỹ Tho) cho biết thường xuyên đọc tin tức về giá sầu riêng nhưng khi đi mua vẫn phải trả gần 70.000 đồng/kg Ri6 loại đẹp.
"Thấy báo đăng giá tại vườn chỉ hơn 20.000 đồng/kg mà ra cửa hàng vẫn bán cao nên tôi khá thắc mắc. Cuối cùng người tiêu dùng vẫn là người phải chịu giá cao", chị Minh Anh nói.
Trước những thắc mắc này, nhiều tiểu thương bán lẻ cho rằng lợi nhuận thực tế không cao như nhiều người nghĩ.
Tại một cửa hàng trái cây ở Mỹ Tho, chị Phạm Thị Bích Liên cho biết chi phí mặt bằng, điện lạnh và nhân công hiện đều tăng mạnh. Trong khi đó, sầu riêng lại là mặt hàng có tỷ lệ hao hụt rất lớn.
"Sầu riêng không giống rau củ để được lâu. Nếu bán chậm vài ngày là xuống chất lượng ngay. Nhiều trái bên ngoài đẹp nhưng bên trong bị sượng thì người bán phải chịu", chị Liên nói.
Theo chị Liên, khách hàng hiện ngày càng kỹ tính nên khâu tuyển chọn phải thực hiện rất nghiêm ngặt. Có khi nhập cả trăm ký nhưng vẫn phải loại bỏ một phần vì không đạt chất lượng.
Tương tự, chị Lê Thị Tám cho biết nhiều khách hàng nghĩ người bán lẻ "ăn dày", nhưng thực tế lợi nhuận không quá lớn do phải bù vào phần hao hụt và hàng hư hỏng.
"Chỉ cần bán ra vài trái bị sượng là mất khách ngay. Vì vậy tụi tôi phải kiểm hàng rất kỹ, chấp nhận bỏ những trái không đạt để giữ uy tín", chị Tám chia sẻ.
Có thể thấy, nghịch lý "nông dân bán rẻ, người mua vẫn phải trả giá cao" cho thấy chuỗi phân phối nông sản hiện vẫn còn quá nhiều tầng nấc trung gian. Phần lớn trái cây hiện nay vẫn phụ thuộc vào thương lái nhỏ lẻ, thiếu hệ thống kho lạnh và liên kết tiêu thụ trực tiếp nên chi phí bị cộng dồn qua từng khâu.
UBND TP.Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch về ứng dụng công nghệ trong trông giữ xe tại toàn bộ bến xe, bãi đỗ, điểm trông giữ xe. Mục tiêu của kế hoạch nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, thu phí điện tử không dừng, minh bạch doanh thu, giảm ùn tắc, ô nhiễm và hiện đại hóa giao thông tĩnh.
Theo đó, từ ngày 1/7/2026, 100% điểm trông giữ, bãi đỗ xe ô tô trên địa bàn thành phố phải triển khai công nghệ và thu giá dịch vụ theo hình thức điện tử không dừng. Bến xe loại 1 hoàn thành trước ngày 31/12/2026; bến xe loại 2 hoàn thành trước ngày 30/6/2027.
Trước ngày 31/12/2030, Hà Nội hoàn thành rà soát tổng thể các bãi đỗ, điểm trông giữ tạm thời, bảo đảm triển khai đồng bộ trên toàn thành phố.
Theo UBND TP.Hà Nội, giải pháp trọng tâm là Xây dựng Đề án tổng thể quản lý, phát triển giao thông tĩnh. Hỗ trợ nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi về vay vốn, hỗ trợ đầu tư thiết bị cho các đơn vị quản lý, vận hành chủ đầu tư tham gia chuyển đổi mô hình thu phí không dừng. Tổ chức triển khai thực hiện quy định về phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố theo quy định; Rà soát, điều chỉnh giá dịch vụ trông giữ xe. Xây dựng quy định về việc ứng dụng giải pháp công nghệ trong hoạt động trông giữ xe tại các bến xe, bãi đỗ, điểm trông giữ xe.
Triển khai đồng bộ công tác tuyên truyền về Kế hoạch triển khai tổng thể ứng dụng giải pháp công nghệ trong hoạt động trông giữ xe tại toàn bộ bến xe, bãi đỗ. Chỉ đạo các đơn vị liên quan rà soát điểm thu phát sóng đảm bảo điều kiện kết nối, chia sẻ dữ liệu khi triển khai ứng dụng công nghệ.
Xây dựng kế hoạch kiểm tra, rà soát đối với toàn bộ các bãi đỗ xe, điểm đỗ xe đang hoạt động trên địa bàn quản lý (bao gồm bãi đỗ lòng đường, hè phố; bãi đỗ trong khuôn viên trường học, bệnh viện, chung cư, khu đô thị, bãi đất trống,…).
UBND Thành phố giao Sở Xây dựng là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, UBND các phường, xã và các đơn vị liên quan nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi về vay vốn, hỗ trợ đầu tư thiết bị cho các đơn vị quản lý, vận hành, chủ đầu tư tham gia chuyển đổi mô hình thu phí không dừng; chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Thuế Thành phố Hà Nội, UBND các phường, xã và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện quy định về phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố.
Công an Thành phố phối hợp với các Sở, ngành Thành phố, chính quyền địa phương cấp xã tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động trông giữ xe trên địa bàn Thành phố đảm bảo quy định thu phí không dùng tiền mặt tại các bến xe, bãi đỗ, điểm trông giữ xe; Nghiên cứu các quy định, hình thức xử phạt qua kiểm tra trực tiếp, qua xử phạt bằng công nghệ.
Xây dựng phần mềm quản lý thông tin bãi đỗ, điểm đỗ xe tập trung. Cập nhật danh sách, tình trạng các điểm đỗ, bãi đỗ xe đã triển khai ứng dụng công nghệ trong thanh toán giá dịch vụ trông giữ xe trên ứng dụng iHaNoi, VNeID.
Bà Thúy Ái chia sẻ, để cho ra đời một quả trứng gà đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp phải gánh chịu áp lực chi phí đè nặng từ mọi phía. Chi phí thức ăn chăn nuôi, logistics, vắc-xin, thuốc thú y, cùng các chính sách thuế, phí và bảo hiểm cho người lao động liên tục tăng cao, đẩy giá thành sản xuất chung tăng khoảng 35% so với trước đó.
Tính toán thực tế tại chuồng, một con gà đẻ trứng tiêu thụ trung bình từ 110 - 115g cám mỗi ngày. Với giá thức ăn chăn nuôi dao động khoảng 11.000 đồng/kg, cộng với tỷ lệ đẻ trứng bình quân trong vòng đời của đàn gà chỉ đạt khoảng 80%, giá thành của một quả trứng ngay tại đầu chuồng (chưa qua sơ chế) đã chạm mức 1.700 - 1.800 đồng.
Khi vận chuyển về nhà máy để thực hiện các quy trình sơ chế, kiểm nghiệm và đóng gói một cách tiết kiệm nhất, chi phí sẽ đội thêm từ 500 - 600 đồng/quả. Như vậy, giá thành thực tế của một quả trứng gà sạch rơi vào khoảng 2.200 - 2.400 đồng.
Với mức chênh lệch tăng chi phí như hiện nay, một trang trại quy mô 1 triệu con gà (cho ra khoảng 1 triệu quả trứng/ngày) đang phải chịu mức lỗ khổng lồ từ 800 triệu đến 1 tỉ đồng mỗi ngày.
Thế nhưng, trong khi các doanh nghiệp đang lỗ ròng trên từng quả trứng, thì tại cổng các khu công nghiệp, các chợ đầu mối hay vỉa hè, trứng gà trôi nổi lại được bày bán tràn lan với mức giá siêu rẻ: 1.000 đồng/quả hoặc 10.000 đồng/chục.
"Vậy trên thị trường đang bán tràn lan trứng 1.000 đồng/quả ở đâu ra? Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, đây thực chất là các loại "trứng gà dạt" từ các trang trại lớn không kịp tiêu thụ, hoặc hàng đã cận hạn/quá hạn sử dụng. Thông thường, trứng gà an toàn chỉ có chất lượng sử dụng tốt nhất trong vòng 30 ngày kể từ khi gà đẻ. Khi bước sang ngày thứ 31 trở đi, do không thể đưa vào các kênh phân phối chính thống như siêu thị, các loại trứng cận date hoặc hết date này bị tuồn ra ngoài đường, bán đổ bán tháo" - bà Thúy Ái chỉ rõ.
Cũng theo bà Ái, giữa thời điểm kinh tế khó khăn, người tiêu dùng - đặc biệt là công nhân và những người có thu nhập thấp - dễ dàng bị thu hút bởi mức chênh lệch giá cả. Họ thấy một hộp trứng ngoài đường rẻ hơn trong siêu thị tới 18.000 đồng nên sẵn sàng lựa chọn mà không hề hay biết về những nguy cơ mất an toàn thực phẩm tiềm ẩn. Điều này vô tình bóp nghẹt các sản phẩm sạch, khiến hệ thống siêu thị cũng gặp khó khăn khi phải tiêu hủy hàng cận date chứ không thể đưa ra vỉa hè bán giảm giá.
Không chỉ chịu áp lực về tài chính, các nhà sản xuất thực phẩm sạch còn phải đối mặt với rủi ro pháp lý và áp lực truyền thông cực kỳ khắt khe. Doanh nghiệp đã đổ hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng để xây dựng trang trại đạt chuẩn chuẩn ESG, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về môi trường và chất lượng. Họ không bao giờ dám cắt giảm hàm lượng chất lượng xuống dưới 70% để giảm chi phí, bởi chỉ cần một sơ suất nhỏ bị cơ quan chức năng kiểm tra, làn sóng khủng hoảng sẽ ập đến.
"Hệ quả tất yếu của làn sóng thua lỗ kéo dài là nhiều chủ trang trại lâm vào khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng, không còn tâm trí để họp hành hay bàn tính chuyện tương lai. Nhiều nơi đã chọn giải pháp tiêu hủy, xả bán tháo luôn cả đàn gà đẻ chưa hết chu kỳ để cắt lỗ, chấp nhận bán nhà, bán đất, bán xác nhà xưởng phế liệu để trả nợ ngân hàng và giải nghệ" - bà Thúy Ái xót xa chia sẻ.
Trước nỗi khổ của những người sản xuất thực phẩm sạch trên thị trường, Tổng giám đốc Công ty CP Mebi Farm đề xuất các cơ quan chức năng vào cuộc quyết liệt hơn để thiết lập lại trật tự thị trường. Cần có biện pháp kiểm soát, truy xuất nguồn gốc rõ ràng đối với các mặt hàng thực phẩm, trứng gà đang được bán tràn lan không ai quản lý tại các khu chợ tự phát và vỉa hè.
Đồng thời, doanh nghiệp mong muốn Chính phủ có các chính sách hỗ trợ trực tiếp, giảm bớt gánh nặng cho nhà sản xuất thông qua việc miễn giảm thuế, phí và đặc biệt là chi phí kiểm nghiệm sản phẩm. Hiện nay, mỗi lô hàng xuất xưởng đều phải cõng thêm chi phí kiểm nghiệm để đủ điều kiện đưa vào các kênh bán lẻ, và khoản chi phí này đang đè nặng lên vai doanh nghiệp mà không có sự trợ lực nào.
"Nếu không có những giải pháp căn cơ và sự bảo vệ kịp thời từ phía nhà nước, thị trường thực phẩm sạch Việt Nam nguy cơ sẽ mất đi những nhà sản xuất chân chính, đẩy người tiêu dùng vào một ma trận thực phẩm trôi nổi, kém chất lượng" - bà Lâm Thúy Ái lo ngại.