Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Thưa các đồng chí đại biểu dự Hội nghị,
Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc Hội nghị lần thứ 3 để xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, nội dung về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí tham dự Hội nghị.
Thưa các đồng chí,
Hội nghị Trung ương 3 diễn ra trong bối cảnh thế giới, khu vực biến động nhanh, rộng, phức tạp, khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, sự phân hóa kinh tế toàn cầu và những chuyển dịch về công nghệ, năng lượng, dữ liệu đang định hình lại môi trường phát triển. Biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và trí tuệ nhân tạo vừa mở ra cơ hội, vừa tạo ra rủi ro mới, đòi hỏi chúng ta phải nâng cao tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và năng lực hành động quốc gia.
Trong nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang khẩn trương đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18%, tuy chưa đạt mục tiêu đề ra, nhưng cao nhất cùng kỳ 16 năm qua; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại, hội nhập quốc tế, văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; an sinh xã hội được bảo đảm. Kết quả đáng trân trọng, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục khắc phục những hạn chế, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Đại hội XIV đã xác định đường lối, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn; Hội nghị Trung ương 2 đặt nền tảng tổ chức và quy tắc vận hành cho nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương 3 phải chuyển những định hướng đó thành quyết sách tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo năng lực phát triển mới. 13 nội dung thảo luận tại Hội nghị thuộc nhiều lĩnh vực nhưng cùng hướng tới mục tiêu cao hơn: tạo lập năng lực lãnh đạo, cầm quyền, quản trị, hành động, phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới. Vì vậy, các quyết sách được Trung ương thông qua phải tạo ra 4 bước chuyển chiến lược: Thứ nhất: nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và bộ máy Nhà nước; Thứ hai: quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia; Thứ ba: xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người; Thứ tư: chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Đây là những mục tiêu mà Hội nghị phải đạt được.
Đề nghị Trung ương tập trung trả lời câu hỏi: mỗi quyết sách tháo gỡ điểm nghẽn nào? tạo ra năng lực mới nào? và cần điều kiện gì để thực hiện, thực thi hiệu quả? Trên tinh thần đó, tôi xin gợi ý 4 trọng tâm để các đồng chí thảo luận.
I. Bước chuyển từ sắp xếp tổ chức sang nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và hệ thống chính trị.
Sắp xếp tổ chức bộ máy đã tạo ra cấu trúc tinh gọn hơn. Nhưng tinh gọn mới là điều kiện; mục tiêu là Đảng lãnh đạo hiệu quả hơn, Nhà nước quản trị tốt hơn, bộ máy vận hành nhanh hơn, Nhân dân được phục vụ tốt hơn, mức sống thực của Nhân dân được nâng cao hơn. Bước chuyển này phải bảo đảm kỷ luật nghiêm minh, tổ chức rõ ràng, quyền lực được kiểm soát, trách nhiệm được thực thi; lấy chất lượng quyết sách, hiệu quả thực hiện và niềm tin của Nhân dân làm thước đo.
Quy định về những điều đảng viên không được làm phải xác định rõ giới hạn kỷ luật, nhận diện đúng những biểu hiện mới trong kinh tế thị trường, chuyển đổi số và quan hệ quyền lực – lợi ích. Kỷ luật nghiêm minh phải đi cùng bảo vệ cán bộ liêm chính, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 20 phải làm rõ tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm và quan hệ công tác của các loại hình tổ chức đảng, khắc phục chồng chéo, khoảng trống trách nhiệm, tình trạng “cơ sở trong cơ sở”, bảo đảm hoạt động thống nhất, thông suốt.
Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và Báo cáo về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 phải giúp Trung ương đánh giá thực chất chất lượng vận hành của hệ thống chính trị sau sắp xếp: bộ máy có thông suốt, thẩm quyền và trách nhiệm có rõ, quyết định có nhanh, đúng, người dân và doanh nghiệp có được phục vụ tốt hơn hay không ? Thước đo không chỉ là số đầu mối giảm mà là hiệu lực lãnh đạo, quản lý và chất lượng phục vụ Nhân dân. Phân cấp phải đi cùng thẩm quyền, nguồn lực, nhân lực, dữ liệu, công cụ thực thi và kiểm soát quyền lực; cấp tỉnh mạnh về quy hoạch, điều phối; cấp xã gần dân, đủ sức giải quyết công việc trong mô hình mới. Cán bộ phải được đánh giá bằng phẩm chất, năng lực, sản phẩm, tiến độ, uy tín; người đứng đầu là trung tâm trách nhiệm.
II. Bước chuyển từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia
Không gian hành chính không thể giới hạn tư duy phát triển. Đất đai, biển, đô thị, hạ tầng, tài nguyên, dữ liệu phải được nhìn trong một chỉnh thể, tổ chức theo chiến lược quốc gia, lợi thế vùng, hiệu quả tổng thể. Bước chuyển này phải tạo không gian phát triển mới, đưa nguồn lực đến nơi sử dụng hiệu quả, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, kết nối lợi thế địa phương thành sức mạnh quốc gia.
Các Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh, thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương phải được xem xét trong yêu cầu hình thành các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực quản trị đô thị và tăng cường liên kết vùng. Việc thay đổi địa vị hành chính phải tạo chuyển biến thực chất về năng lực quản trị, hiệu quả huy động nguồn lực và sức lan tỏa phát triển. Cần đánh giá kỹ điều kiện hạ tầng, nguồn lực, chi phí vận hành và tác động đối với Nhân dân, bảo đảm mỗi đề án tạo ra giá trị phát triển mới cho địa phương, vùng và cả nước.
Nội dung sơ kết thực hiện Nghị quyết số 18, ngày 16/6/2022 của Trung ương khóa XIII; xác định quan điểm sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, cùng nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36, ngày 22/10/2018 của Trung ương khóa XII và ban hành Nghị quyết của Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh phải được xem xét trong tư duy quản trị thống nhất lãnh thổ. Trung ương cần làm rõ yêu cầu chuyển quản lý đất đai từ từng thửa đất sang quản trị không gian; từ nặng về thủ tục sang khơi thông, tạo lập nguồn lực; từ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống, bảo đảm chỗ ở, sinh kế và điều kiện sống tương đương hoặc tốt hơn. Biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ chủ quyền; phải được quản trị tổng hợp, kết nối với đất liền, cảng biển, logistics và các hành lang kinh tế và hợp tác quốc tế. Khơi thông nguồn lực phải đi đôi với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; phân cấp phải gắn với kiểm soát đầu cơ, lãng phí, lợi ích nhóm; dữ liệu phải thống nhất, liên thông.
III. Bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người
Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 và Đề án đổi mới mô hình phát triển Việt Nam phải đặt trong cùng một mạch: báo cáo trả lời việc phải làm ngay trong 6 tháng cuối năm; đề án cần phải trả lời được câu hỏi: đất nước tạo ra của cải, sức cạnh tranh bằng cách nào trong dài hạn. GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% là kết quả tích cực, nhưng mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% cả năm là nhiệm vụ rất thách thức. Phải phấn đấu đạt mục tiêu năm 2026, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số bền vững; bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, khơi thông đầu tư, xử lý dự án tồn đọng, củng cố năng lực doanh nghiệp, bảo đảm việc làm, thu nhập. Kịch bản phải lượng hóa đến từng ngành, địa phương, phải tính đến các yếu tố thuận và không thuận, gắn với trách nhiệm người đứng đầu; khâu cốt tử là tổ chức thực hiện.
Về dài hạn, phải chuyển từ phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ sang dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, quản trị hiện đại; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả. Cần phát huy vai trò quản lý, kiến tạo của Nhà nước và vai trò của thị trường trong huy động, phân bổ nguồn lực; bảo đảm kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; gắn đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.
Đề án xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là nền tảng và mục tiêu của mô hình phát triển. Phát triển phải làm cho quy mô nền kinh tế lớn hơn, xã hội tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết và niềm tin được củng cố. Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người; không để tăng trưởng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc đẩy người yếu thế ra bên lề. Phải lấy con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật và kỷ cương làm trụ cột; kết hợp pháp trị với đức trị, quyền với trách nhiệm. Thước đo cuối cùng là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của Nhân dân.
IV. Bước chuyển từ xử lý từng nguy cơ sang chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu và bảo vệ vững chắc đất nước
Trong một thế giới các nguy cơ đan xen, tác động dây chuyền, an ninh không thể chỉ được bảo đảm theo từng lĩnh vực; môi trường không thể chỉ được xử lý sau khi thiệt hại xảy ra. Bước chuyển này đòi hỏi chuyển từ phản ứng sang dự báo, từ xử lý sự vụ sang chủ động phòng ngừa; bảo đảm an ninh, an toàn và khả năng vận hành liên tục của hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và hạ tầng thiết yếu. An ninh là điều kiện của phát triển; phát triển bền vững, bao trùm, có sức chống chịu là nền tảng của an ninh.
Chiến lược an ninh quốc gia và nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 24, ngày 03/6/2013 của Trung ương khóa XI, ban hành Kết luận của Trung ương về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới phải được đặt trong tư duy thống nhất giữa bảo vệ và phát triển đất nước; chuyển mạnh từ ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa; nâng cao sức chống chịu quốc gia trước các nguy cơ truyền thống, phi truyền thống và tác động dây chuyền. Phải bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời bảo đảm an ninh con người, an ninh dữ liệu, an toàn hạ tầng trọng yếu và củng cố niềm tin xã hội. Phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với đối ngoại và hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Chính sách môi trường, khí hậu phải chuyển từ khắc phục hậu quả sang phòng ngừa, thích ứng, phục hồi; từ quản lý theo địa giới sang quản trị theo hệ sinh thái, lưu vực sông, vùng biển; biến chuyển đổi xanh thành động lực đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh. Trung ương cần xác định rõ lợi ích cốt lõi phải bảo vệ, nguy cơ phải ngăn chặn từ sớm, từ xa; cơ chế chỉ huy, phối hợp và cảnh báo sớm. Các dự án lớn phải tính đầy đủ sức chịu tải, chi phí môi trường, an ninh dữ liệu và trách nhiệm liên thế hệ.
Bốn bước chuyển chiến lược nêu trên tạo thành một chỉnh thể: tổ chức và con người tạo năng lực hành động; không gian và thể chế khơi thông nguồn lực; mô hình phát triển chuyển nguồn lực thành năng suất, của cải và chất lượng sống; năng lực phòng ngừa và bảo vệ giữ cho quá trình đó an toàn, liên tục, bền vững. Bất kỳ bước nào chậm cũng sẽ hạn chế các bước còn lại. Kết quả của Hội nghị phải được thể hiện ở sự thống nhất cao về nhận thức, sự đúng đắn của quyết sách và chuyển biến thực tế sau Hội nghị.
Thực hiện Quy định số 206, ngày 30/6/2026 của Bộ Chính trị về tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các tài liệu đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Thời gian Hội nghị không nhiều, khối lượng công việc lớn, nhiều vấn đề hệ trọng. Vì vậy, đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương tập trung thảo luận sâu tại tổ, thể hiện rõ quan điểm tại hội trường, góp ý trực tiếp vào Dự thảo Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch hành động; phát biểu cần ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, rõ chính kiến, rõ lập luận, rõ kiến nghị, rõ phương án lựa chọn; góp phần trực tiếp hoàn thiện quyết sách của Trung ương. Mọi lựa chọn phải đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; hiệu quả lâu dài của đất nước lên trên hết.
Sau Hội nghị này, mỗi Nghị quyết, Kết luận phải được cụ thể hóa ngay thành Chương trình, Kế hoạch hành động, bảo đảm rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ kết quả; kiên quyết khắc phục tình trạng chủ trương đúng nhưng thể chế hóa chậm, tổ chức thực hiện không nghiêm, hiệu quả chưa cao.
Với tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá và phát triển, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 là một trong hai cuộc họp định kỳ hằng năm của lãnh đạo ASEAN năm 2026, là dịp quan trọng để lãnh đạo các nước chia sẻ đánh giá toàn diện tình hình thế giới và khu vực, thống nhất các định hướng chiến lược và biện pháp tăng cường hợp tác ASEAN.
Phiên toàn thể Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 sẽ thảo luận các nội dung: tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, tập trung vào bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, và hỗ trợ công dân ASEAN. Trong khi đó, phiên họp hẹp tập trung thảo luận về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.
Dự kiến, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 sẽ thông qua và ghi nhận hơn 20 văn kiện.
Trên tinh thần chủ động, tích cực, chân thành và có trách nhiệm, Đoàn Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ với Philippines, nước Chủ tịch ASEAN 2026, và các nước ASEAN đóng góp vào thành công chung của hội nghị.
Tại hội nghị, Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ có các bài phát biểu quan trọng, truyền tải thông điệp đường lối đối ngoại Đại hội Đảng XIV và quan điểm của Việt Nam về các ưu tiên của ASEAN, đưa ra các đề xuất thiết thực củng cố tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, góp phần tăng cường khả năng tự cường và ứng phó của ASEAN trước các biến động, nhất là các tác động của tình hình Trung Đông và trao đổi các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.
Trước đó, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã có cuộc ăn sáng làm việc với Thủ tướng Campuchia Hun Manet và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ truyền thống đoàn kết, gắn bó với Campuchia và Lào, khẳng định trên cương vị mới sẽ nỗ lực vun đắp quan hệ ba nước, hợp tác chặt chẽ với hai Thủ tướng Campuchia và Lào để cùng đưa “tình nghĩa truyền thống” giữa ba nước thành “động lực phát triển” và biến “gần gũi địa lý” thành “lợi thế gắn kết chiến lược” để ba nước cùng phát triển nhanh và bền vững.
Nhiệt liệt chúc mừng Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đảm nhận cương vị mới đầy trọng trách, Thủ tướng Campuchia Hun Manet và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone cảm ơn sự hỗ trợ và hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực mà Việt Nam đã dành cho Campuchia và Lào trong những năm qua, khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ và thường xuyên với Thủ tướng Lê Minh Hưng để tiếp tục đưa quan hệ ba nước phát triển thực chất, hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Ba Thủ tướng bày tỏ vui mừng quan hệ ba nước thời gian qua tiếp tục được củng cố. Các hoạt động trao đổi đoàn cấp cao Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Lào cũng như cuộc gặp giữa ba người đứng đầu ba Đảng đã tạo xung lực mới, định hướng hợp tác toàn diện giữa ba nước.
Ba nước tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong quản lý, bảo vệ biên giới, đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao; thương mại, đầu tư được duy trì ổn định, một số dự án của doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia và Lào đang triển khai hiệu quả.
Trong bối cảnh tình hình thế giới đang gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế các nước khu vực, ba Thủ tướng nhất trí tiếp tục duy trì trao đổi và tiếp xúc cấp cao, phát huy các cơ chế hiện có để thúc đẩy hợp tác song phương cũng như hợp tác ba bên; đẩy mạnh hợp tác quốc phòng - an ninh, tích cực chia sẻ thông tin, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, tội phạm lừa đảo trực tuyến.
Nhất trí tạo đột phá gắn kết kinh tế, chuỗi cung ứng, kết nối giao thông, mở thêm đường bay thẳng giữa các thành phố lớn, kết nối năng lượng, logistics và thương mại qua biên giới, đẩy mạnh việc triển khai thực chất các dự án hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng chiến lược; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh và đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Đẩy mạnh tuyên truyền về thành tựu hợp tác và quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa ba nước, ba dân tộc; phối hợp tổ chức tốt các sự kiện kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia trong năm 2027; tiếp tục phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong khuôn khổ ASEAN và các cơ chế tiểu vùng Mê Kông.
Ba Thủ tướng cũng trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực mà ba bên cùng quan tâm; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì quan hệ đoàn kết gắn bó, hợp tác chặt chẽ giữa ba nước cũng như đẩy mạnh hợp tác với các nước ASEAN khác, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp; khẳng định quyết tâm và cam kết luôn ưu tiên vun đắp, thúc đẩy quan hệ ba nước, vì lợi ích của nhân dân ba nước, và vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.
Tại hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Thái Lan không ngừng phát triển. Trong bối cảnh thế giới đứng trước nhiều thách thức về địa chính trị - kinh tế toàn cầu, Thái Lan và Việt Nam vẫn duy trì ổn định và phát triển, khẳng định vai trò và vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Tại hội đàm, hai nhà lãnh đạo đánh giá cao các bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện và thực chất của quan hệ song phương thời gian qua.
Trao đổi về phương hướng làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện trong thời gian tới, hai nhà lãnh đạo bày tỏ sẵn sàng đồng hành, cùng hỗ trợ nhau phát triển.
Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường tin cậy chính trị thông qua duy trì tiếp xúc cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh; nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có; nhất trí tổ chức kỳ họp lần thứ năm Nội các chung Việt Nam - Thái Lan, Thái Lan - Việt Nam tại Thái Lan; sớm tổ chức kỳ họp Ủy ban hỗn hợp hợp tác song phương giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy, làm sâu sắc hơn nữa hợp tác quốc phòng - an ninh, tăng cường phối hợp phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, ma túy và hợp tác bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên tiếp tục đề cao và thực hiện cam kết của lãnh đạo cấp cao hai nước không cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này để hoạt động chống lại nước kia; sớm tiến tới đàm phán và ký kết Hiệp định Dẫn độ và Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự.
Thủ tướng Anutin Charnvirakul nhấn mạnh Thái Lan tuyệt đối không cho phép việc sử dụng lãnh thổ nước này để chống lại các nước bạn bè.
Trong lĩnh vực kinh tế, hai nhà lãnh đạo nhất trí đẩy mạnh hợp tác, kết nối kinh tế theo hướng bổ trợ lẫn nhau, với những đột phá mới và phát triển mới về chất; phấn đấu sớm đưa kim ngạch thương mại song phương từ mức 22 tỉ USD hiện nay lên mức 25 tỉ USD theo hướng cân bằng, bền vững, đẩy nhanh các thủ tục cấp phép, mở cửa thị trường cho một số sản phẩm nông nghiệp tiềm năng.
Thủ tướng Anutin Charnvirakul khẳng định Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Thái Lan tại khu vực; nhấn mạnh hai nước có nhiều điểm tương đồng cùng tiềm năng trở thành những trung tâm sản xuất lớn của thế giới.
Mong muốn hai bên hợp tác nhiều hơn nữa trong thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân mỗi nước phát triển, Thủ tướng Anutin Charnvirakul khẳng định Thái Lan ủng hộ và khuyến khích doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác; đánh giá cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam đang hiện diện tại Thái Lan và hoan nghênh có thêm nhiều nhà đầu tư Việt Nam đến Thái Lan.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên nhanh chóng thành lập nhóm công tác chung để xây dựng kế hoạch, thúc đẩy triển khai hiệu quả Chiến lược “Ba kết nối” quan trọng, bao gồm kết nối chuỗi cung ứng (kết nối doanh nghiệp, địa phương và kết nối các chiến lược phát triển bền vững; tăng cường kết nối giao thông, logistics; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo và chuyển dịch năng lượng công bằng).
Nhất trí thúc đẩy hợp tác khoa học - công nghệ giữa hai nước, nhất là các lĩnh vực mới, Thủ tướng Thái Lan đề nghị hai bên nghiên cứu các dự án chung trong công nghệ sinh học, công nghệ vi sinh; Thái Lan sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam trong ứng dụng công nghệ vũ trụ, sử dụng vệ tinh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên chia sẻ thông tin và kinh nghiệm phát triển du lịch, thúc đẩy hợp tác liên kết phát triển sản phẩm du lịch, kết nối điểm đến giữa hai nước, đặc biệt trong các mảng có thế mạnh chung như du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch ẩm thực.
Hai bên nhất trí tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan và cộng đồng người Thái Lan tại Việt Nam; tăng cường việc giảng dạy tiếng Việt tại Thái Lan và tiếng Thái tại Việt Nam để tăng cường hiểu biết lẫn nhau; bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử, văn hóa gắn với quan hệ hữu nghị giữa hai nước, trong đó có các khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan.
Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN và củng cố đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác trong khuôn khổ APEC và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Kông. Hai bên đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) 1982.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương triển khai các kết quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm, đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan phát triển thực chất và hiệu quả trong thời gian tới.
Sau khi tại Venezuela xảy ra trận động đất kép với cường độ mạnh, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người và tài sản, Chính phủ đã cử lực lượng gồm 124 cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an, 10 chó nghiệp vụ, cùng trang thiết bị sang Venezuela khắc phục hậu quả thảm họa động đất.
Đoàn đã phối hợp tìm kiếm và bàn giao 57 thi thể nạn nhân cho gia đình và chính quyền địa phương; xác định 46 vị trí bàn giao cho lực lượng tại chỗ của bạn; đã bàn giao 5,6 tấn hàng viện trợ gồm các mặt hàng thiết yếu; đoàn công tác đã dành số tiền công tác phí cùng đóng góp và ủng hộ 15.000 USD; tổ chức khám, phát thuốc cho hơn 132 người dân.
Ghi nhận và tôn vinh những đóng góp xuất sắc của đoàn Việt Nam, phía Venezuela đã trao Huy chương "Anh hùng Venezuela" hạng nhất cho tập thể, Huy chương "Anh hùng Venezuela" hạng nhì cho toàn bộ 124 thành viên; trao Huân chương "Công trạng phục vụ" cho đội chó nghiệp vụ của đoàn.
Sự hiện diện của đoàn Việt Nam cùng các đội cứu hộ quốc tế, như khẳng định của Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodríguez, đã mang lại niềm hy vọng to lớn cho người dân sở tại, cho thấy quốc gia Nam Mỹ không đơn độc trong cuộc chiến khắc phục hậu quả thiên tai.
Báo cáo tại lễ tuyên dương, thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, Phó cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam), trưởng đoàn công tác, cho biết, từ ngày 29 - 6.7, đoàn thực hiện cường độ làm việc cao từ 6 giờ đến 19 giờ hằng ngày, có những hôm làm việc xuyên đêm, bất kể thời tiết nắng, mưa.
Các chiến sĩ phải vượt qua khó khăn do chênh lệch múi giờ, không khí, đặc biệt là mùi tử khí nồng nặc do thi thể phân huỷ. "Chúng tôi 3 lần nhận được tín hiệu và thông tin của nước bạn về dấu hiệu sự sống, cả đoàn đã thức trắng đêm trong mưa cùng với lực lượng tại chỗ quyết tâm giành giật lấy sự sống", thiếu tướng Tỵ chia sẻ.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, và các đại biểu tại lễ tuyên dương
Đặc biệt, theo thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, các khu vực được lực lượng Việt Nam triển khai tìm kiếm đều là những địa bàn hết sức khó khăn, nguy hiểm, nơi nhiều đoàn cứu hộ quốc tế trước đó chưa thể thực hiện công tác tìm kiếm.
Với tinh thần trách nhiệm cao nhất, các cán bộ, chiến sĩ luôn nỗ lực tìm kiếm bằng được các nạn nhân, kiên định quan điểm "đã phát hiện thì phải đưa ra", dù điều kiện khắc nghiệt đến đâu cũng quyết tâm thực hiện, với sự tận tâm như tìm chính người thân của mình. Có thời điểm, cán bộ, chiến sĩ phải xuống những hầm sâu hàng chục mét giữa đống đổ nát của các tòa nhà cao tầng để tiếp cận hiện trường.
"Chúng tôi vẫn luôn nói với nhau, việc tìm kiếm ở đây cũng như tìm chính người thân của mình. Mỗi lần tìm được một nạn nhân, chứng kiến người thân của họ bật khóc, chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Đó cũng chính là tình cảm mà đất nước và nhân dân Việt Nam dành cho nhân dân nước bạn", thiếu tướng Phạm Văn Tỵ bày tỏ.
Theo ông, từ kinh nghiệm triển khai nhiệm vụ tại Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar, trong chuyến công tác lần này, đoàn đã đưa theo 10 chó nghiệp vụ và tổ chức từ 6 đến 8 mũi tìm kiếm để đồng thời triển khai nhiệm vụ tại nhiều khu vực.
Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị trang thiết bị cần được thực hiện chu đáo, chặt chẽ, cụ thể đến từng người, từ sớm, từ trước để chủ động lên đường ngay khi có lệnh. Mặc dù thời gian chuẩn bị rất gấp, song đoàn công tác vẫn chủ động trong mọi mặt công tác.
Một bài học quan trọng khác là phải thường xuyên rèn luyện bản lĩnh, ý chí quyết tâm cho lực lượng chỉ huy và lực lượng cứu hộ, cứu nạn. Đây là yếu tố quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đoàn công tác. Đồng thời, người chỉ huy phải cương quyết, linh hoạt và quyết đoán trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhất là tại những khu vực có nguy cơ tiếp tục sập đổ.
Đại tá Phạm Hùng Dương, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng đoàn công tác Bộ Công an, khẳng định luôn bảo đảm các yêu cầu về an toàn, kỹ thuật, chiến thuật, chế độ thông tin, báo cáo và tuân thủ các quy định khi thực hiện nhiệm vụ ở nước ngoài.
Các thành viên trong đoàn đều thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực không ngừng nghỉ, không ngại khó khăn, gian khổ với mong muốn cứu được nhiều nạn nhân nhất có thể. Đồng thời, phát huy tinh thần tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách" của dân tộc Việt Nam.
Khu vực đoàn thực hiện nhiệm vụ là những hiện trường đặc biệt nguy hiểm, với địa hình đổ sập phức tạp của các tòa nhà cao tầng, nhiều cấu kiện vẫn tiềm ẩn nguy cơ sập đổ thứ cấp khi xảy ra dư chấn hoặc có tác động. Các thi thể nạn nhân được đoàn đưa ra khỏi hiện trường đều ở những vị trí hết sức khó tiếp cận.
Trước đó, nhiều đoàn cứu hộ quốc tế đã đến nhưng phải rời đi do việc tiếp tục triển khai cứu nạn, cứu hộ có thể gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của lực lượng làm nhiệm vụ. Điều này khiến người dân địa phương không khỏi bức xúc. Tuy nhiên, họ đã dành nhiều tình cảm và sự trân trọng đối với đoàn công tác Việt Nam vì tinh thần trách nhiệm và sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.