Ông Thái Như Hiệp – Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) chia sẻ với Báo điện tử Tuổi Trẻ.
Tôi vẫn nhớ những chuyến ra nước ngoài chào hàng của hơn hai mươi năm trước. Khi đặt lên bàn mẫu Robusta Việt Nam, không ít nhà rang xay chỉ khẽ gật đầu rồi xếp nó vào ngăn “hàng nền” – thứ nguyên liệu để phối trộn cho rẻ, để chiết caffeine, để làm cà phê hòa tan.
Robusta khi ấy gần như đồng nghĩa với đắng gắt và giá thấp. Cảm giác đó theo tôi rất lâu, và cũng chính nó buộc tôi phải đi tìm câu trả lời: vì sao hạt cà phê của mình bị nhìn thấp đến vậy?
Sau nhiều năm lăn lộn giữa vườn và xưởng, tôi nhận ra câu trả lời rất giản dị. Phần lớn tiếng xấu của Robusta không nằm ở bản chất giống cây, mà nằm ở những khiếm khuyết hoàn toàn có thể sửa được trong trồng trọt, thu hái và sơ chế.
Chúng ta đã quen bán một hạt cà phê chưa được chăm đúng cách, rồi mặc nhiên coi đó là giới hạn của Robusta. Đó là điều tôi mong thay đổi – và tôi tin nó phải bắt đầu từ gốc.
Mỗi lần đứng giữa những vườn cà phê ở Tây Nguyên hay ở Di Linh, Lâm Hà của Lâm Đồng, tôi lại thấy rõ một điều: Việt Nam có một nền tảng rất đáng tự hào. Riêng Lâm Đồng sau sáp nhập đã có khoảng 327.000 ha cà phê, chiếm hơn 45% diện tích cả nước, sản lượng năm 2025 vượt 1 triệu tấn – tức hơn một nửa sản lượng quốc gia.
Tháng 10-2025, cả Arabica lẫn Robusta của vùng này được cấp chỉ dẫn địa lý “Lâm Đồng”, tấm hộ chiếu để hạt cà phê đi xa hơn. Nền tảng ấy là thứ nhiều quốc gia mơ cũng không có. Vấn đề còn lại là chúng ta khai thác nó ra sao.
Trong hành trình của mình, tôi luôn tự nhắc: đừng chọn giống theo lời truyền miệng về năng suất. Một giống cho sản lượng cao ở Gia Lai chưa chắc hợp với thổ nhưỡng và độ cao của Di Linh. Tôi học cách chọn theo nguyên tắc “đúng giống – đúng vùng – đúng đầu ra”, nghĩa là giống phải khớp với khí hậu, với đất, và quan trọng nhất là khớp với thị trường mình muốn bán. Và tôi không nhìn giống bằng một chỉ tiêu duy nhất.
Thời gian chín, độ đồng đều của trái, khả năng chống chịu sâu bệnh – tất cả đều phải cân nhắc cùng lúc, bởi một vườn chín rải rác quanh năm thì dù có muốn hái chín cũng rất khó làm cho tới nơi tới chốn.
Điều thứ hai tôi thấm sau nhiều mùa vụ là phải chuyển từ tư duy “dùng bao nhiêu” sang “chuyển hóa được bao nhiêu”. Trước đây, nhiều nhà vườn – và cả tôi thời mới làm – hay đo thành công bằng lượng phân bón đổ xuống, số lần tưới, công chăm sóc.
Nhưng chi phí ấy chỉ có ý nghĩa khi nó biến thành nhân cà phê đạt chuẩn và thành giá trị kinh tế thật. Khi bắt đầu ghi chép và tính toán tỉ mỉ điện, nước, phân bón, công lao động thực sự đi vào hạt, tôi mới giật mình: rất nhiều thứ chúng ta bỏ ra đã trôi đi lãng phí mà vụ nào cũng lặp lại.
Từ đó, tôi tập nhìn hiệu quả bằng con mắt dài hạn. Một vụ được mùa, đạt vài tấn mỗi hecta, chưa nói lên điều gì nếu vụ sau cây kiệt sức. Cái tôi quan tâm là lợi nhuận thực, là tỉ lệ thu hồi nhân tốt, là sức khỏe của vườn cây qua nhiều năm và tỉ lệ hạt lỗi giảm dần. Trong 28.000 ha mà doanh nghiệp chúng tôi liên kết với bà con nông dân, những vườn bền nhất, cho thu nhập ổn định nhất, luôn là những vườn được chăm theo hướng ấy – chứ không phải những vườn ép sản lượng bằng mọi giá.
Nếu canh tác tạo ra tiềm năng, thì thu hoạch và thị trường mới quyết định tiềm năng ấy có thành tiền hay không. Ai làm cà phê cũng biết câu “hái chín thì ngon”, nhưng vì sao bao năm qua nhiều nơi vẫn tuốt cả xanh lẫn chín? Tôi từng đi vận động bà con hái chín, và tôi hiểu rằng chỉ hô hào thôi thì không đủ.
Người nông dân hái chín phải bỏ thêm công, chia nhiều đợt, chấp nhận sản lượng một lần hái ít hơn. Nếu bán ra vẫn bị cân chung một giá với cà phê hái xô, họ chịu thiệt, và họ sẽ không làm.
Bài học của tôi là muốn phổ biến hái chín thì phải dựng được cơ chế: tiếp nhận riêng – đo lường riêng – trả giá riêng. Lô cà phê chín phải được nhận vào một dòng riêng, đo tỉ lệ chín và độ ẩm một cách sòng phẳng, rồi trả cho người trồng một mức giá xứng đáng với công sức họ bỏ ra. Khi đồng tiền đi đúng chỗ, hành vi ngoài vườn sẽ tự thay đổi, không cần vận động nhiều lời.
Muốn “trả giá riêng” một cách công bằng thì cả ngành phải nói chung một “ngôn ngữ chất lượng”. Đây là điều tôi tâm đắc với sáng kiến định nghĩa lại chất lượng cho Robusta Việt mà cộng đồng cà phê đang cùng nhau khởi động.
Chúng ta cần một hệ phân hạng nhân xanh dùng chung, để người trồng ở Lâm Hà, người thu mua ở Di Linh và nhà rang xay ở châu Âu cùng hiểu một hạt “đạt hạng nào” nghĩa là gì. Đi kèm với đó, quy trình thu mua phải minh bạch: công bố yêu cầu chất lượng trước vụ, và thanh toán đúng theo cấp độ cụ thể chứ không cào bằng.
Có người vẫn hỏi tôi: Robusta thì làm sao thành đặc sản? Tôi thường kể họ nghe về những vườn Robusta chế biến kỹ ở chính Lâm Đồng đã đạt trên 86 điểm tại các cuộc thi cà phê đặc sản – trong khi ngưỡng “fine Robusta” theo chuẩn quốc tế chỉ cần từ 80 điểm. Thế giới đã có sẵn thước đo, có sẵn đội ngũ chuyên gia chấm điểm cho riêng Robusta. Nghĩa là cánh cửa không hề khép.
Tôi không nghĩ Việt Nam phải chọn giữa “nhiều” và “ngon”. Chúng ta hoàn toàn có thể vừa giữ vị thế nước xuất khẩu Robusta lớn nhất thế giới, vừa nâng dần tỉ trọng hàng chất lượng cao được quốc tế công nhận – miễn là chúng ta kiên nhẫn làm lại từ gốc.
Với tôi, cả hành trình ấy có thể gói trong một công thức giản dị mà tôi vẫn nhắc mình mỗi ngày: sản xuất đúng – đo lường đúng – trả giá đúng. Làm được ba chữ “đúng” ấy một cách bền bỉ, tôi tin sẽ đến ngày thế giới không còn xếp Robusta Việt vào ngăn hàng nền, mà gọi thẳng tên nó với sự trân trọng.
Chiều 23/6, Dollarr Index - chỉ số theo dõi sức mạnh của đồng bạc xanh với rổ 6 tiền tệ lớn - tăng 0,15% lên 101,17 điểm. Đây là mức cao nhất kể từ tháng 5/2025.
Đôla Mỹ mạnh lên khi nhà đầu tư đặt cược Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sắp nâng lãi suất, dù giá dầu thô đang đi xuống do căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt. Diễn biến trên thị trường hợp đồng tương lai cho thấy xác suất Fed tăng lãi trước tháng 9 đã vượt 80%.
Bank of America Global Research và Deutsche Bank đều đã bỏ dự báo trước đó về việc giữ nguyên chính sách tiền tệ, để chuyển sang kỳ vọng Fed nâng lãi suất năm nay. Lý do là kinh tế Mỹ vẫn có sức chống chịu tốt.
"Hiện tại, đồng USD phản ánh kỳ vọng lãi suất cao hơn. USD cũng được hỗ trợ khi xung đột Trung Đông chưa được giải quyết hoàn toàn và còn nhiều bất ổn khác", Tommy von Bromsen - chiến lược gia ngoại hối tại Handelsbanken giải thích.
Mỗi euro hiện chỉ đổi được 1,14 USD - thấp nhất kể từ tháng 3. Trong khi đó, bảng Anh mất giá nhẹ, về 1 GBP đổi 1,32 USD. Trước đó một ngày, đồng bảng mạnh lên khi Thủ tướng Keir Starmer thông báo từ chức.
Các đồng tiền nhạy cảm với rủi ro cũng chịu áp lực. Đôla Australia hiện giảm 0,8%, xuống 0,6945 USD một AUD - thấp nhất kể từ đầu tháng 4. Đôla New Zealand cũng mất 0,5%.
Yen Nhật - đồng tiền trú ẩn được ưa chuộng - hiện giao dịch ở mức 161,48 JPY một USD. Hôm 22/6, giá có thời điểm xuống 161,93 - mức thấp nhất gần hai năm. Nếu tỷ giá vượt mốc 161,96, yen sẽ rơi xuống mức thấp nhất kể từ năm 1986.
"Biến động có thể xảy ra khi yen tiến sát các ngưỡng này. Thị trường đang kỳ vọng Nhật Bản phát tín hiệu can thiệp hoặc thậm chí can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối", von Bromsen nhận định. Reuters trích nguồn tin cho biết Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Satsuki Katayama đã họp trực tuyến với Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent ngày 22/6.
"Tôi không muốn ở trong hoàn cảnh mà mình biết thứ gì đó để bị coi là nhân chứng", Buffett cho biết trong cuộc phỏng vấn với CNBC ngày 31/3, ám chỉ mối quan hệ giữa Gates và tỷ phú ấu dâm Jeffrey Epstein.
Gates quen Epstein từ năm 2011, ba năm sau khi Epstein nhận tội tại tòa án bang Florida về hành vi dụ dỗ một bé gái vị thành niên. Các email và hình ảnh chứng minh mối quan hệ giữa họ có trong các tài liệu do Bộ Tư pháp và Quốc hội Mỹ công bố từ cuối năm 2025. Hồ sơ này đề cập nhiều thông tin liên quan một số chính trị gia nổi tiếng, thành viên hoàng gia cho đến giới doanh nhân giàu có. Epstein bị bắt và tự sát trong tù năm 2019, khi chờ xét xử cáo buộc môi giới tình dục và các tội lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên.
Hồi tháng 2, Bill Gates đã xin lỗi nhân viên tại quỹ Gates Foundation về mối liên hệ với Epstein và thừa nhận từng ngoại tình với hai phụ nữ Nga. Dù vậy, ông khẳng định "không làm gì bất hợp pháp".
Gates và Buffett là bạn bè hàng chục năm qua. Khi được hỏi liệu ông có còn thân thiết với Gates hay không, Chủ tịch Berkshire Hathaway vẫn nói tích cực về mối quan hệ cá nhân giữa hai người, trong đó có việc cùng Gates và bà Melinda - vợ cũ của Bill Gates - sáng lập The Giving Pledge (Cam kết Cho đi). Đây là sáng kiến kêu gọi các tỷ phú cam kết dành phần lớn tài sản làm từ thiện.
Tuy nhiên, đề cập đến bê bối liên quan Epstein, Buffett cho biết: "Tôi nghĩ cho đến khi mọi chuyện được làm rõ, việc nói chuyện nhiều là không hợp lý. Tôi không muốn phải tuyên thệ trước tòa". Đây là lần đầu tiên ông đưa ra các bình luận về Gates sau khi hồ sơ Epstein được công bố.
Buffett cũng khẳng định không hối tiếc về hàng chục tỷ USD đã quyên góp cho quỹ tự thiện của Bill Gates. "Tôi ước một số chuyện đã không xảy ra", Buffett nói. Nhưng khi nhận xét về hoạt động của quỹ, ông khẳng định: "Họ không lấy tiền cho riêng mình".
Từ năm 2006, Buffett đã quyên góp 43 tỷ USD cho quỹ này. Việc đóng góp được thực hiện đều đặn hàng năm. Tuy nhiên, khoản góp dự kiến vào tháng 6 năm nay vẫn chưa được ông ra quyết định.
Sau 60 năm dẫn dắt Berkshire Hathaway, huyền thoại đầu tư Warren Buffett cuối năm ngoái rời chức CEO, chỉ còn giữ vai trò Chủ tịch. Trong suốt sự nghiệp, Buffett trở thành biểu tượng của giới kinh doanh và đầu tư, khi thường xuyên chia sẻ những bài học giúp mọi người xây dựng cuộc sống thành công. Ông ca ngợi sức mạnh của lãi gộp, giải thích quan điểm đầu tư và chia sẻ bài tập tư duy để sống không hối tiếc. Ông hiện sở hữu 141 tỷ USD và là người giàu thứ 11 thế giới.
Do đó Thủ tướng cho rằng cần phải chuyển đổi tư duy tiếp cận, xử lý công việc trước những yêu cầu mới, vấn đề mới. Đặc biệt trong tham mưu, hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô, chính sách tài chính.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính tập trung xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, toàn diện, đổi mới lề lối làm việc, tạo bước chuyển căn bản trong chất lượng hiệu quả. Khẩn trương cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ với các chương trình hành động cụ thể, phân công rõ nhiệm vụ.
Rà soát bổ sung và giao mục tiêu tăng trưởng kế hoạch tài chính quốc gia, vay trả nợ công, đầu tư công trung hạn trên từng lĩnh vực. Quy định rõ một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu thương mại tự do, doanh nghiệp nhà nước.
Xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, tổng rà soát hệ thống pháp luật. Bao gồm hợp nhất hai luật ngân sách nhà nước và đầu tư công, sửa đổi Luật Đấu thầu, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Hải quan...
Xây dựng để triển khai đề án xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế, nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đánh giá một số cơ chế, chính sách đặc thù tại một số địa phương để triển khai ra toàn quốc.
Trong quý 2, hoàn thành lập, điều chỉnh, phê duyệt các quy hoạch để đồng bộ, thống nhất với yêu cầu tăng trưởng hai con số. Hoàn thiện pháp luật để xử lý triệt để tài sản công, rà soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật của ngành.
Người đứng đầu Chính phủ cũng giao bộ khẩn trương hoàn thiện các kịch bản điều hành tăng trưởng với các phương án khác nhau. Tăng cường phối hợp liên ngành trong điều hành kinh tế vĩ mô, quản lý giá, nhất là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công Thương.
Về thu, chi ngân sách nhà nước, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và tính trung lập của chính sách thuế. Nghiên cứu hoàn thiện quy định về các sắc thuế, mở rộng và chống xói mòn cơ sở thuế, khai thác các nguồn thu còn dư địa, chống thất thu, chú trọng nuôi dưỡng nguồn thu, tạo động lực cho phát triển.
Thực hiện hiệu quả các chính sách về miễn, giảm thuế, phí, lệ phí để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân. Triển khai có hiệu quả quy định về nâng ngưỡng doanh thu hộ kinh doanh không phải nộp thuế lên 1 tỉ đồng. Đẩy mạnh tiết kiệm chi thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội các dự án đầu tư công. Thực hiện phân bổ vốn đầu tư công trung hạn, bố trí vốn tập trung, trọng điểm, kiên quyết chống dàn trải, manh mún, giảm ít nhất 30% tổng số dự án so với trước.
Có các giải pháp đủ mạnh để phát triển thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế, bao gồm hoàn thiện quy định trái phiếu doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển trung tâm tài chính quốc tế; cơ cấu lại Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, tiến tới thành lập quỹ đầu tư quốc gia.
Hoàn thiện phương án đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bảo đảm hiệu quả, không thất thoát, lãng phí, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Xây dựng đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao.
Tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, thời gian thực hiện, chi phí tuân thủ. Hoàn thiện tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, vốn nhà nước, phối hợp với tập đoàn, tổng công ty đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm.
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo về dự trữ quốc gia. Tăng cường khả năng phân tích, dự báo nắm tình hình để chủ động, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bộ phối hợp với Bộ Công Thương nghiên cứu, xây dựng kho dự trữ chiến lược xăng dầu quốc gia.